Kỳ 8: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Một bài thơ nhỏ, giọng nhẹ nhàng nhưng lại mang sức nặng ghê gớm của kiếp người. Hình dạng nhỏ to dẫu biết chỉ là tương đối nhưng lại gợi lên bao nhiêu là thăm thẳm hun hút. Hai hình ảnh máy bay lửng lơ treo trên bầu trời được đặt trong mối tương quan ngược chiều nhau, nền tảng dung chứa là một không gian mênh mông vô tận…

Nhà thơ – nhà phê bình Khang Quốc Ngọc (áo sọc ngang) và bạn thơ trong một lần nhận Tặng thưởng Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng trao ở Văn Học Sài Gòn

>> Kỳ 1: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 2: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 3: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 4: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 5: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 6: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

>> Kỳ 7: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

Một câu chuyện kể khá thú vị kiểu truyện lồng truyện thường thấy trong văn xuôi được tác giả Vũ Trần Anh Thư đưa vào thơ 1-2-3 khá ngọt và cũng thật độc đáo. Mở đầu bài thơ là lời mời và cũng có thể là lời nhắn nhủ nghe rất đỗi thân thương ấm áp “Em đến nhé cổng trời Quản Bạ” để được tận mắt chứng kiến và nghe về câu chuyện cổ tích tình yêu tuyệt vời, chàng trai H”mông bằng tài thổi “đàn môi réo rắt” đã “dụ” được “nàng tiên Hoa Đào theo suối nhạc nương lại trần gian”. Mô típ chàng trần gian nàng tiên giáng trần quyến lấy nhau đã là một mô típ quen thuộc với độc giả, nhưng được chắt lọc và kể lại trong một bài thơ 1-2-3 ngắn gọn hàm súc thì quả là một điều mới, do vậy bài thơ đã để lại một ấn tượng độc đáo thú vị. Cuộc tình tréo ngoe ấy bị Ngọc Hoàng chia thúy rẽ quyên. Nàng tiên bị bắt về trời. Dĩ nhiên là đau khổ “nước mắt chảy xanh sông Miện/ Cặp nhũ thương con gửi lại tượng hình Núi Đôi”.

Nhà thơ Vũ Trần Anh Thư

Cái hay ở đây là ý thơ đã khéo léo lách sang tình mẫu tử. Thế thì tình yêu đôi lứa chỉ làm cái nền tôn vinh cho tình mẫu tử. Tình mẫu tử mới là cái đích nhân văn cao quý hướng đến của bài thơ. Sự nhịp nhàng đi từ tình yêu đôi lứa sang tình mẫu tử đã đem đến một cấu tứ hết sức chặt cho bài thơ. Lời nhận định đặt trong lời kết bài như sự reo mừng thăng hoa của thắng cảnh “để bây giờ bốn mùa tuyệt tác thiên nhiên mê đắm lòng người”. Một kiểu kể, một cách tả vẻ đẹp thiên nhiên quả là độc đáo. Bài thơ đâu chỉ là lời ngợi ca nét đẹp hoang sơ mê say lữ khách, bài thơ còn như một lời khẳng định vẻ đẹp lôi cuốn của thiên tình sử kiểu “gái ham tài trai ham sắc”, và rồi cuối cùng là đọng lại và vút lên tình mẫu tử thiêng liêng cao quý. Sự nén ý vào lời thơ quả là độc đáo. Lời thơ nhẹ nhàng vi vút, giọng thơ êm đềm tự nhiên cuốn hút, ý nghĩa cứ thế nở ra mênh mang theo sự gọt đẽo câu chữ. Để rồi lời và ý thơ cứ thế xoắn quyện nhịp nhàng mê đắm:

Em đến nhé cổng trời Quản Bạ

 

Nghe câu chuyện chàng trai H’mông đàn môi réo rắt

Dụ nàng tiên Hoa Đào theo suối nhạc nương lại trần gian

 

Nàng bị Ngọc Hoàng bắt về trời nước mắt chảy xanh sông Miện

Cặp nhũ thương con gửi lại tượng hình Núi Đôi

Để bây giờ bốn mùa tuyệt tác thiên nhiên mê đắm lòng người.

(Vũ Trần Anh Thư – Hà Nội)

Những câu thơ như được ướp lạnh, đã “ngơ ngác” thì cả đời như mãi còn ngơ ngác, và “chân tu” thì mãi mãi chân tu!? Câu chữ lại dường như được rắc thêm chút muối làm cho tác phẩm đằm thêm vị, nên từng câu chữ có sự mặn mòi của tình cảm và có độ thăng hoa của cảm xúc. Dáng vóc chiêm nghiệm phủ lên hai dòng thơ đoạn giữa ngay sau khi nhân vật trữ tình quăng ra câu hỏi tu từ “Người có về miền cát mặn nắng hanh” của Tạ Hùng Việt làm cho câu chữ cứ ánh lên sắc màu khắc khoải. Chia tay và những ám ảnh “chia tay mùa thi cuối, người nói – đủ xa sẽ cũ/ lần tình cờ gặp lại, người bảo – đủ lạ sẽ quên”. Ý thơ dập dình vừa như là chiếc áo kí ức vắt qua vừa như thoáng nhớ để nhận diện thước đo quẳng vào tâm hồn nhau đầy những xào xạc ám ảnh “đủ xa sẽ cũ/ đủ lạ sẽ quên”. Nhưng thời gian thì dường như bị gói lại, còn y nguyên những hình ảnh tưởng cũ mà không cũ, tưởng quên mà không quên “đi hết thanh xuân, không tìm được con đường đủ xa để cũ/ mải miết bến bờ, không đến được chân trời đủ lạ để quên”.

Nhà thơ Tạ Hùng Việt

Ý thơ có sự trả lời trong cái thế chơi chữ kiểu nhấp nhổm nhảy dây ngồ ngộ. Kiểu chơi chữ đảo vòng như cố khẳng định tiếng yêu cũ đã dậy men, một kiểu tình yêu đeo đẳng lên tiếng, chữ chung thủy bám liền phía sau, câu chữ lấp lánh màu yêu thương nguyên vẹn. Song, ý thơ mở ra bóng dáng thời gian đang làm nhân chứng cho cái sự vẹn nguyên ấy “đi hết thanh xuân/ mải miết bến bờ” mà nào có thấy “đủ xa để cũ” và “đủ lạ để quên” đâu hỡi người? Thì đã bảo mà, một người đã ngơ ngác thì cả đời mãi như còn ngơ ngác. Một sự ngơ ngác trong sáng đến tinh khôi. Câu thơ cuối gần như rẽ hướng, xoáy vào nhân vật trữ tình “người” “nấn ná cổng chùa huyền niệm, ngơ ngác người một cõi chân tu”. Đến lượt người “chân tu” lại “ngơ ngác người” trước “một cõi chân tu” nơi cổng chùa.

Câu chữ bập bùng, ý nghĩa dường như đang có sự xoay vòng. “Người” cho ta “ngơ ngác” về tình duyên cuộc đời nhưng rồi “người” lại cũng đang bị cái “ngơ ngác” với “cổng chùa” kia bám víu. Một sự diễn ngôn đa dạng giàu ý nghĩa được lập trình, bóng dáng ma trận lí trí xuất hiện là cuộc đời lại cứ như nhấp nhổm theo. Tưởng sáng lắm nhưng nào lại có sáng, tưởng thoát “ngơ ngác” nhưng lại bị sự “ngơ ngác” nó vây bủa. Cuộc đời quả là những trùng vây bủa lưới của tâm trạng. Cho nên con chữ của Tạ Hùng Việt dường như động đậy và thổn thức theo những ngã rẽ và sắc thái của tâm trạng. Những câu thơ có sự pha trộn đa sắc diện, có chút chất vấn, có chút giãi bày, có chút nấn ná, có chút tâm tình, có chút chia sẻ, có chút vương mang… tất cả gom tụ vào một bài thơ 1-2-3 ngắn gọn rồi bật tung lên để cảm thấu cuộc đời. Quý thay!

Người có về miền cát mặn nắng xanh

 

Chia tay mùa thi cuối, người nói – đủ xa sẽ cũ

Lần tình cờ gặp lại, người bảo – đủ lạ sẽ quên

 

Đi hết thanh xuân, không tìm được con đường đủ xa để cũ

Mải miết bến bờ, không đến được chân trời đủ lạ để quên

Nấn ná cổng chùa huyền niệm, ngơ ngác người một cõi chân tu.

(Tạ Hùng Việt – Khánh Hòa)

Một bài thơ nhỏ, giọng nhẹ nhàng nhưng lại mang sức nặng ghê gớm của kiếp người. Hình dạng nhỏ to dẫu biết chỉ là tương đối nhưng lại gợi lên bao nhiêu là thăm thẳm hun hút. Hai hình ảnh máy bay lửng lơ treo trên bầu trời được đặt trong mối tương quan ngược chiều nhau, nền tảng dung chứa là một không gian mênh mông vô tận. Những hình ảnh xuất hiện trong sự gợi tả “chấm nhỏ bầu trời”, “máy bay ngược chiều”, “khoảnh khắc hoàng hôn vừa tắt” đặt liền nhau tạo nên sự liên tưởng vô cùng. Do vậy, ý thơ vụt qua mà dựng lên cái nhìn về thân phận con người “côi cút giữa mênh mông”, “thui thủi bay” để cuối cùng tụ lại điểm nhìn ẩn chứa tâm trạng mông lung quánh đặc “tôi nhìn thấy nỗi cô đơn đến rợn người”. Sự nhấn nhá dựa trên thi ảnh để bật ra mênh mang cảm giác. Thế thì, cảm xúc ấy, suy nghĩ ấy gắn với thực tại con người đang hiện hữu trên máy bay phải chăng chính là xuất phát điểm cho cuộc đời hữu hạn của con người đang vùn vụt bay cùng phi cơ kia mà phập phồng mang bao nhiêu những suy tư âu lo?

Nhà thơ Huỳnh Khang

Sự tương phản được cài vào trong cái nhìn mang màu sắc của thuyết tương đối “chấm nhỏ bầu trời”, “côi cút giữa mênh mông” càng làm cho ý thơ thăm thẳm vời vợi hơn. Cái gì là hữu hạn? Cái gì là mênh mông? Cái gì là ngược chiều? Cài gì là vĩnh cửu? Cái gì là côi cút? Cái gì là cô đơn? Tất cả như dồn ứ lại, ý thơ như cuộn sóng phun lên tạo ra dư âm cho bài thơ. Cõi người đấy! Cuộc đời là đấy! Mênh mông trong hữu hạn, hữu hạn trong mênh mông, rồi cô đơn côi cút trong cao vời vùn vụt, đâu chỉ là cảm giác bay trên độ cao mà ngẫm ngợi, nó là cảm thức đời người trìu trĩu đấy, là cuộc sống ẩn tàng bao nhiêu những mâu thuẫn giằng xé ghê gớm đấy! Vụt qua mà thênh thang, nhỏ bé mà cao rộng hay ngược lại cũng vẫn chỉ là thế giới này, thế giới của vũ trụ và con người bao đời nay vây bủa. Lời thơ Huỳnh Khang nhẹ nhàng mà giàu sức gợi, nhịp thơ chắc trong cái thế đung đưa tâm tình, giọng nằng nặng những suy tư.

Chấm nhỏ bầu trời

 

Một chiếc máy bay ngược chiều

Côi cút giữa mênh mông.

 

Nó vẫn thui thủi bay

Trong khoảnh khắc hoàng hôn vừa tắt

Tôi nhìn thấy nỗi cô đơn đến rợn người.

(Huỳnh Khang – Phú Yên)

Tại sao lại là “Mùa hè lạnh”? Câu đầu tiên và cũng là tựa đề bài thơ Đỗ Thu Hằng đã ẩn chứa một cái gì đó khác thường, nghe hơi hướng ngược đời. Mùa hè là mùa của nghỉ ngơi, thường nắng nóng, mưa nhiều. Nhưng danh từ “mùa hè” ở đây lại đi kèm với tính từ “lạnh”, thì lẽ tất nhiên ý thơ không nhằm diễn tả thiên nhiên mùa hè. Cảnh mùa hè, nếu có chỉ là cái cớ làm phương tiện chuyển tải cảm xúc nỗi niềm của nhân vật trữ tình bật lên mà thôi. Rõ ràng thời điểm “mùa hè” đến mà “lạnh” là chỉ như thêm một lần nữa xác tín tâm trạng lạnh lùng, dửng dưng bởi những hình ảnh “sớm mai đầy xác phượng hồng/ mặt đường trôi miên man từng mảnh vụn vui buồn” xuất hiện liền phía sau như một sự phù trợ đẩy tâm trạng lên phần phật.

Nhà thơ Đỗ Thu Hằng

Yếu tố thời gian “sớm mai” gắn với hình ảnh “xác phượng hồng” đầy mặt đất mở ra một không gian nặng về tâm tư. Cái nhìn ở đây phải chăng đã ngấm sự tơi tả, và chính tâm trạng ấy đang cố thúc cho kí ức vụt hiện lên “mặt đường trôi miên man từng mảnh vụn vui buồn”? Câu thơ như đang tả vòng quay chuyển động của thời gian vụt trôi “buồn vui” vỡ ra như “từng mảnh vụn”. Thế thì “mùa hè” ở đây sao có thể vui nhộn để tránh khỏi tâm trạng “lạnh” lùng giá buốt? Cuộc sống trôi nhanh con người quẫy đạp. Ý thơ chợt dừng lại như suy tư chiêm nghiệm “chỉ khi nào/ cuộc sống chậm dần trong trí nhớ/ mới biết quý từng ngày đang dần mất, biến thiên”.

Sức nặng ý thơ dồn vào đoạn cuối. Sau những “miên man” vùn vụt “trôi” qua ta còn lại gì khi cuộc đời không ngừng “biến thiên”? Nhịp thơ chậm, tứ thơ chắc, giọng đẫm chất suy tư. Lời thơ vừa như thủ thỉ nhắc nhủ mà lại vừa như ấp ủ ước mơ. Con người thường bị cuốn vòng quay cuộc đời. Không theo kịp vòng quay kia con người có nguy cơ bị đào thải hoặc bị hất tung ra khỏi vòng quay ấy. Chính ý nghĩ đó làm cho chúng ta quay cuồng với bao nhiêu những khát vọng, đam mê. Rồi kí ức sống dậy vây bủa, vui buồn đủ cả. Sức ép tứ bề để rồi ngày tháng trôi qua mà ít khi chúng ta nhìn lại. Chỉ có thời gian và sự trưởng thành “cuộc sống chậm dần trong trí nhớ” mới có thể giúp chúng ta “biết quý từng ngày đang dần mất, biến thiên”. Bởi thế, giọng thơ ở đây đâu chỉ có sự trầm lắng suy tư mà còn chất chứa sự sẻ chia đồng cảm. Đồng cảm cho chính sự mệt nhoài cuộc đời mỗi người đang ngày đêm cõng trên vai tháng năm với vô vàn những lo toan tính toán. Nhịp thơ chậm, giọng trầm lắng suy tư.

Mùa hè lạnh

 

Sớm mai đầy xác phượng hồng

Mặt đường trôi miên man từng mảnh vụn vui buồn

 

Chỉ khi nào

Cuộc sống chậm dần trong trí nhớ

Mới biết quý từng ngày đang dần mất, biến thiên.

(Đỗ Thu Hằng – Hà Nội)

Sài Gòn 29.7.2022

KHANG QUỐC NGỌC

(còn tiếp…)

One thought on “Kỳ 8: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3

  1. Phương says:

    Góp ý:
    Cho bài phê của tác giả Khang quốc Ngọc:
    Kỳ 8: Đã thấy những đốm lửa lóe sáng trong thơ 1-2-3.
    -Tôi đọc bài phê của anh Ngọc về các bài thơ 1-2-3 đã được anh trích ra để phân tích,để góp ý,để làm “bật lên” những điểm hay của các bài thơ trên.v.v.Riêng tôi,một độc giả bình thường đọc bài phê của anh thấy “nó”(tức là bài phê bình được vanhocsaigon.com đăng trên)còn thiếu,còn chưa hay! Vì sao?Tôi xin góp ý:
    -Lúc anh Ngọc góp ý,phê bình các bài thơ 1-2-3 của các tác giả trên,theo tôi là anh đưa ra ý “chủ quan” của anh(tức là theo ý của anh-nhà phê bình),chứ anh không hiểu theo ý của tác giả của chính bài thơ.Tôi xin minh họa:
    -bài 1: Em đến nhé cổng trời Quản Bạ(Vũ trần Anh Thư-Hanoi).Đây là bài nói về tình yêu lứa đôi.Vậy mà qua lời bình của anh Ngọc “nó” lại trở thành “tình mẫu tử” được anh chuyển hóa & đề cao.Vậy là sao ta???Tôi không biết lúc bạn Anh Thư-Hanoi lúc xem lời bình của anh thì có “cảm xúc” hay có “tâm tình” gì không???Tôi xin trích lại lời bình của anh Ngọc: “Cái hay ở đây là ý thơ đã khéo léo lách sang tình mẫu tử…”.Tôi nghĩ: đây là ý của anh thôi!Đã chắc gì bạn Anh Thư-Hanoi có ý như vậy phải không???
    -Ngay chính bài thơ Núi đôi(tác giả Vũ Cao) cũng là ý nêu tình yêu đôi lứa trong thời chiến:sắt son-chung thủy.Bây giờ,cũng vậy thôi,vì trong bài thơ của bạn Anh Thư-Hanoi có nêu hình tượng núi đôi.
    -Các lời bình cho các bài thơ tiếp theo cũng là ý chủ quan của anh Ngọc thôi!Tôi suy ra từ phân tích tích như trên cho nên:tóm lại bài phê thơ của anh Ngọc về thơ 1-2-3 hiện nay là: không hay,độc giả đọc xong chẳng có “cảm xúc” gì hết!Vì là toàn là ý-cảm xúc của anh Ngọc,theo anh Ngọc mà thôi.
    Tôi chân thành mong anh Ngọc thứ lỗi,mong BBT-BLĐ trang vanhocsaigon.com bỏ qua vì tôi đã góp ý.Tôi chào trân trọng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.