Truyện ngắn của Hồ Anh Thái: Mr. Nem người vận chuyển

Vài tháng trước tết, các đại sứ quán ta ở nước ngoài đã náo nức chuẩn bị. Nhờ người trong nước mua gạo nếp lá dong để làm bánh chưng. Nhờ mua bánh đa nem và miến để làm nem. Nhờ mua bánh phở khô quế hồi để nấu phở. Toàn những thứ ở nước ngoài không có.

Nhưng nhờ mua được rồi, đóng thùng đóng hộp rồi, thì điều nan giải là ai sẽ vận chuyển. May ra có đoàn công tác sang vào dịp ấy, đoàn của các bộ các ngành hoặc chính cán bộ ngoại giao đi công tác. Họ sang ở nhờ trong phòng khách sứ quán mấy ngày công tác thì họ vận chuyển mấy cái hộp thực phẩm coi như làm quà cho sứ quán luôn.

Chẳng may cho sứ quán ở những nước xa xôi hẻo lánh, vài tháng trước tết chẳng có đoàn nào sang. Thế thì cái tết ấy không có bánh chưng không nem không phở.

Vậy là có câu chuyện mà ta đọc ở đây. Mười lăm ngày trước tết, ông nhận được quyết định lên đường sang một nước Nam Á. Quyết định ghi rõ ông được bổ nhiệm là bí thư thứ ba của sứ quán.

Nhà văn Hồ Anh Thái bên vịnh Seatle của Mỹ

Cơ cấu trong một cơ quan đại diện ngoại giao có khác nhau chút ít, nhưng về cơ bản gồm mấy hàm cấp như thế này:

Đại sứ,

Phó sứ,

Tham tán,

Bí thư thứ nhất,

Bí thư thứ hai,

Bí thư thứ ba,

Tùy viên.

Nhìn vào bảng thứ bậc trên, nếu ông tùy viên là binh nhì thì ông bí thư thứ ba là binh nhất, hai cái hàm thấp nhất trong ngạch ngoại giao (tùy viên quốc phòng, tùy viên thương mại thì có khác).

Ông bí ba nhân vật của chúng ta ở tuổi bốn mươi. Nhận được quyết định ông vui mừng thì đại sứ quán ở Nam Á cũng mừng không kém. Họ đang tuyệt vọng tưởng rằng tết này không có bánh chưng và nem rán. Có người mang đồ tết sang cho thì đúng là trời thương. Tết năm nay sứ quán dự định mời một số sứ quán bạn bè và các quan chức chính phủ sở tại. Ngân sách cho sứ quán cực kỳ eo hẹp, năm năm mới dám mời khách một lần. Làm ngoại giao thời bao cấp anh em thường đùa là quanh năm vác mồm đi ăn tiệc nhưng chẳng chịu mời lại bạn bè bao giờ. Đoàn ngoại giao có hơn một trăm sứ quán và cơ quan đại diện. Quốc khánh lễ tết của bạn, đi ăn. Người ta đồn đại rằng các lễ lạt các tiệc chiêu đãi của đại sứ quán là nơi tụ tập của các thế lực tình báo. Có thể. Đấy phải là tiệc của những nước lớn hoặc tiệc của những nước có vấn đề. Còn thì thông thường những đại tiệc là dịp quan trọng để các nước phô diễn ẩm thực đặc trưng của mình.

Ta thì dăm bảy năm mới có thể mở đại tiệc mừng quốc khánh hay đón tết. Gọi đùa là dịp trả nợ miệng. Nói nghiêm túc thì đấy là dịp bày tỏ thiện chí, bày tỏ tình đoàn kết quốc tế, đồng thời giới thiệu nghệ thuật ẩm thực Việt Nam.

Ẩm thực Việt Nam ngày ấy giơ ra cho bạn nước ngoài chủ yếu chỉ là nem rán và phở. Nem, bạn ăn mà không chấm nước mắm. Phở, bạn vớt lấy phần cái mà ăn rồi bỏ bát nước lại. Đấy, có biết ăn đâu mà khen thì cứ khen. Ngày tết thêm món bánh chưng, bạn ăn một miếng thì gạo nếp làm đầy bụng cả ngày.

Nhân vật của chúng ta đang vận chuyển mấy thứ ấy sang đất nước Nam Á.

***

Thời ấy chưa nhiều chuyến bay. Từ Hà Nội sang Đông Âu phải quá cảnh ở Liên Xô rồi từ đó mới sang “các nước anh em”, trước đó có dừng ở vài sân bay Nam Á như Calcutta, Karachi. Từ Hà Nội còn một tuyến nữa, thường là quá cảnh ở Bangkok, từ đó mới xin visa và mua vé máy bay đi tiếp sang một số nước tư bản không phải anh em. Ông bí ba của chúng ta bay tuyến này, ông sang Bangkok.

Xe cơ quan đưa ông ra sân bay Nội Bài. Cùng lúc cơ quan gửi điện báo cho sứ quán ở Bangkok ra đón cán bộ. Ông bí ba được sứ quán Bangkok đón tận sân bay đưa về nhà khách của sứ quán. Ngồi đấy và chờ vé đi tiếp.

Đưa tận nơi đón tận nơi như vậy vì ông bí ba chỉ biết lõm bõm vài câu tiếng Nga. Sau chiến tranh, nhiều sĩ quan quân đội được chuyển sang các ngành khác, tất nhiên sang cả ngành ngoại giao. Phần lớn họ có học bổ túc chập chờn tiếng Nga tiếng Trung. Nhiều đại sứ hoàn toàn phải có phiên dịch đi kèm. Nhiều binh nhì binh nhất ngoại giao không dùng được tiếng Anh tiếng Pháp, phải có đồng nghiệp dịch giúp. Mỗi sứ quán chỉ có đôi ba người giỏi ngoại ngữ, vừa phải làm phiên dịch cho đại sứ vừa phải dịch giúp ông lái xe, bà cấp dưỡng, ông kế toán, ông biệt phái.

Ông bí ba của chúng ta chỉ bập bẹ tiếng Nga mà bây giờ ông lại sang một nước tư bản. Chỉ còn cách là sứ quán phải đưa tận nơi đón tận chốn. Mà ông lại mang vác theo người mấy thùng đồ quý như vậy. Mấy ngày ông ngồi chờ vé bay tiếp, cánh quản trị của sứ quán Bangkok cứ gạn hỏi ông mang gì trong mấy hộp các tông kia. Toàn phải nói tránh, ờ thì đi công tác ba năm, giống như một cuộc chuyển nhà, tư trang đồ dùng cá nhân có gì phải mang theo bằng hết. Ông nhấn mạnh chữ chuyển nhà. Họ hỏi vậy thôi chứ cũng biết sắp tết rồi, trong mấy hộp đồ kia không phải là gạo nếp và bánh đa nem thì cứ đi bằng đầu. Vị quản trị tìm cách xin một ít đồ ăn tết của ông bí ba. Mơi thì mơi vậy chứ Bangkok là đầu mối, mỗi tháng có hàng chục đoàn đi và về, họ chẳng thiếu đồ tết. Chẳng qua là tính người, xin được thì cứ xin, càng nhiều càng ít.

Nhưng vận chuyển số hàng tết này sang sứ quán là trọng trách của ông bí ba. Ông coi đây là nhiệm vụ chính trị. Cả sứ quán bên kia đang mòn mỏi chờ trông. Hàng tết phải sang thì họ mới thực hiện được đại tiệc ngoại giao như kế hoạch đã định.

Mấy ngày căng thẳng hồi hộp. Bảo vệ mấy thùng hàng như áp tải kho báu giữa lòng địch. Chỉ một sơ suất nhỏ kho báu sẽ rơi vào tay đối phương. Không phải đối phương, đồng nghiệp thôi, nhưng họ cũng đang rình rập như mèo thấy mỡ. Cùng lúc lại cũng lo, nhỡ mà họ thù, họ không đăng ký vé đi tiếp cho mình. Ngồi đây đến tết thì công việc của anh em bên Nam Á nhỡ nhàng hết.

Rốt cuộc chờ hơn mười ngày mới bay được. Chỉ có người lái xe sứ quán đưa ông bí ba và mấy thùng đồ ra sân bay, bắt tay chiếu lệ rồi bái bai.

Ở sân bay lạ, chẳng nói năng gì được, ông bí ba phải dúi chiếc vé vào tay một nhân viên sân bay và bám chặt anh ta. Loay hoay mãi, cuối cùng mấy thùng báu vật đi vào băng chuyền và ông lên được máy bay.

Thở phào nhẹ nhõm. Thoát rồi. Thở phào cái nữa. Thế là đến nơi.

Đã đến nơi đâu. Nhưng ông cứ coi là điều khó khăn nhất đã qua. Mấy ngày căng thẳng nhất đã qua. Những cặp mắt nhòm ngó báu vật của ông đã trôi vào dĩ vãng. Mọi trở lực đã gạt sang bên và ta đang thênh thang con đường lớn tiến về phía trước.

Ăn xong một bữa tối trên máy bay, ông bí ba lăn ra ngủ. Người ta phát cho cái băng che mắt, ông che luôn và ngủ luôn. Yên tâm quá rồi, yên tâm thì chỉ có ngủ.

Lúc 0 giờ 25 phút máy bay hạ cánh ở sân bay Nam Á. Một số khách xuống và một số khách lên để bay tiếp. Đây là sân bay mà ông bí ba phải xuống. Cô chiêu đãi viên thấy ông vẫn che mắt ngủ say sưa thì nghĩ rằng ông là hành khách bay tiếp. Cũng là ông trời sắp đặt, chuyến bay khá vắng, không ai lên đòi ghế của ông. Thế là ông cứ ngủ. Ngủ tít. Máy bay cứ thế bay tuốt sang châu Âu.

Đáng ra xuống Nam Á thì lại bay sang Tây Âu.

Bí ba, tất nhiên là có hộ chiếu ngoại giao. Hộ chiếu ấy được miễn thị thực ở cả Nam Á lẫn Tây Âu. Cứ thế ông chìa hộ chiếu ra, viên sĩ quan xuất nhập cảnh hỏi mấy câu tiếng Anh kiểu ông đi công tác gì, mấy ngày, ông ở sứ quán hay ở đâu. Ông ú ớ nói lại vài câu tiếng Nga mà người Nga cũng không hiểu. Xuất nhập cảnh đành đóng dấu cho đi.

Lại vẫn ông trời sắp đặt, kho báu của ông bị nhân viên hàng không ở Bangkok nhầm nhọt thế nào gửi thẳng sang Tây Âu chứ không phải Nam Á. Thế là thánh nhân đãi kẻ khù khờ, ông lấy được hết mấy thùng báu vật, đẩy xe ra khỏi nhà chờ sân bay. Hân hoan. Phấn khởi lắm. Ba giờ sáng ở trước sân bay mà tỉnh như sáo. Lúc ấy ở Việt Nam đã là mười giờ sáng rồi mà.

Nhưng điều bất ngờ đang chờ ông ở ngoài kia.

***

Ta đều biết ông lên máy bay ở Bangkok để bay sang Nam Á. Nhưng ông ngủ một giấc, mở mắt ra đã thấy mình đứng giữa đất trời Tây Âu.

Không một ai ra đón. Người ra đón ông ở sân bay bên Nam Á chờ hành khách ra hết mà không đón được. Tin rằng bên Bangkok điện báo nhầm. Quay về nhà ngủ luôn một giấc chứ không điện sang Bangkok hỏi lại.

Ở bên Tây Âu, ông bí ba chờ dài cổ trước sân bay. Đi công tác kiểu bao cấp, cán bộ đến đâu đưa rước đấy, chẳng thủ trong túi số điện thoại lẫn địa chỉ sứ quán. Nếu có ghi lại cẩn thận thì cũng chỉ là địa chỉ bên Nam Á. Khách đã vắng hết, ông vồ lấy một viên cảnh sát lơ ngơ đứng gần đấy. Ông hoa chân múa tay mấy câu tiếng Nga bồi. Viên cảnh sát hỏi lại bằng tiếng Anh. Biết là dùng ngôn ngữ không ăn thua, ông giở con bài cuối cùng. Khi bế tắc mọi con đường trong cuộc sống, người ta quay về với mẹ. Đây là mẹ Việt Nam. Cảnh sát ra sức hỏi bằng tiếng Anh còn ông chỉ đáp lại bằng một từ. Đây là cuộc đối thoại của ông với viên cảnh sát.

Cảnh sát: Tôi có thể giúp được gì cho ông?

Bí ba: Việt Nam.

Cảnh sát: Ông muốn đi tắc xi phải không?

Bí ba: Việt Nam.

Cảnh sát: Địa chỉ của ông ở đâu?

Bí ba: Việt Nam.

Thêm vài câu Việt Nam nữa thì cảnh sát hiểu ông này là người Việt Nam. Cảnh sát gọi điện đến đại sứ quán Việt Nam. Gần bốn giờ sáng, không có ai nghe máy. Lúng túng mất một lúc. Trước sân bay chỉ còn lại cảnh sát với ông khách lạ. Lâu sau, cảnh sát nảy ra sáng kiến. Anh ta gọi một chiếc tắc xi, dặn đưa ông này về đại sứ quán Việt Nam ở địa chỉ ấy địa chỉ nọ. OK.

Tắc xi niềm nở. Hỏi chuyện luôn mồm. Lại tiếp tục nội dung đối thoại như ở trên. Tôi chưa đến Việt Nam bao giờ nhưng biết đấy là nấm mồ tập thể của các cường quốc. Đáp: Việt Nam. Đúng, Việt Nam, ở đây tôi có gặp một số người Việt Nam, họ thân thiện lắm. Đáp: Việt Nam. Nghe nói ở Việt Nam nhiều công ăn việc làm, ông mời tôi sang Việt Nam nhé. Đáp: Việt Nam.

Cứ thế và cứ thế. Cho đến lúc: Việt Nam đây rồi. Xe dừng. Bước ra thấy một tòa nhà im lìm trong đêm. Cửa chính và các cửa sổ đều tối đen. Chỉ có tấm biển bằng đồng gắn trước cổng nhờ ánh đèn của vọng gác hiện rõ dòng chữ Đại sứ quán Việt Nam. Bấm chuông. Anh lính cảnh vệ từ trong vọng gác chạy ra xua tay, không có ai đâu, đây chỉ là văn phòng, ban đêm mọi người về nhà riêng hết rồi.

Cảnh vệ người nước ngoài không biết địa chỉ nhà riêng của cán bộ sứ quán. Tắc xi thì chỉ chở được đến đây thôi. Khuân hết thùng hộp va li xuống, dựng tạm ở gốc cây gần bốt bảo vệ. Lúc này tắc xi mới chìa tay đòi tiền. Bí ba xòe ra hai bàn tay không. Thời bao cấp cán bộ đi công tác nước ngoài là thế. Mỗi người chỉ được phát hai mươi đô la Mỹ để đi đường. Thì đưa tận nơi đón tận chốn, tiêu gì nữa mà cần tiền. Hai mươi đô đã nộp tiền ăn mấy ngày ở sứ quán bên Bangkok rồi. Đúng là hai bàn tay trắng.

Tắc xi phân trần đôi co qua lại với lính cảnh vệ. Cảnh vệ cũng chẳng có tiền. Chịu thôi. Tắc xi đã bế tắc lắm, giọng nói đã mệt mỏi và căng thẳng. Gần năm giờ sáng nên trời vẫn rất tối. Biết làm sao bây giờ.

Lo lắng, ngượng ngùng, chẳng biết làm sao thoát khỏi cái sự dây dưa lằng nhằng. Bất chợt bí ba nghĩ ra. Ông rạch một thùng các tông, cái thùng báu vật. Lôi ra một vật báu mà ông kiên cường bảo vệ mấy ngày qua. Một tập bánh đa nem. Không có tiền thì trả bằng hiện vật. Ông chìa tập bánh đa nem cho anh tắc xi.

Tắc xi châu Âu cầm cái vật kỳ lạ trong túi giấy bóng, chẳng hiểu mô tê thế nào. Gì, gì thế này, ông đùa tôi đấy à. Bí ba cười cười đẩy tay tắc xi như là nói khó ông nhận đi cho.

Đang cơn bực mình, tắc xi ném toẹt tập bánh đa nem xuống đất. Ném toẹt.

Cuối cùng cảnh vệ ghi lại số điện thoại và địa chỉ của tắc xi, hẹn khi nào sứ quán mở cửa thì quay lại. Đành vậy.

Một đêm hoảng sợ và mệt mỏi. Bí ba được anh cảnh vệ thương tình, cho vào ngồi trong vọng gác, đỡ lạnh hơn hẳn.

Câu chuyện sau đấy có thể là vui với người này mà buồn với người kia.

***

Trước hết kể chuyện buồn. Ở xứ Nam Á kia, anh em sứ quán đã chuẩn bị sẵn nguyên liệu cho món nem. Chỉ còn năm ngày nữa là tết. Mua sẵn gà và cua bể để làm nhân, chỉ chờ bí ba mang miến mộc nhĩ nấm hương và bánh đa nem sang để gói. Tôn giáo xứ này kỵ thịt lợn và thịt bò, đành phải dùng thịt gà làm nhân cho bánh chưng. Chuẩn bị sẵn sàng cả rồi. Đùng một cái, bí ba không thấy tăm hơi. Thế là tàn một giấc mơ. Bữa đại tiệc ngoại giao tết ấy không có những món điển hình ẩm thực Việt.

Bây giờ kể chuyện vui. Người ta bảo nhân đức hưởng thái bình. Sứ quán Tây Âu tự nhiên rơi xuống đầu một đống hàng tết. Họ đi đăng ký vé cho bí ba quay trở lại Nam Á, nhưng giàng sắp đặt, phải mười một ngày sau mới có chuyến bay. Mùng sáu tết mới bay được. Thôi xong, giờ thì có bao nhiêu hàng tết xùy hết ra đây.

Thoạt đầu bí ba cố thủ trong công sự của mình. Hàng tết của Nam Á cấm có động vào. Tây Âu chỉ là nơi chẳng may phải ở nhờ chục ngày, Nam Á mới là cơ quan lâu dài của ta, ta phải bảo vệ chuyến hàng cho Nam Á. Vay mấy cân gạo nếp. Không. Vay một ít lá dong. Không. Vay mấy cân miến. Không. Vay bánh đa nem. Không. Nói là vay, giữa xứ Tây Âu này họ lấy đâu ra đồ Việt Nam mà trả.

Nhưng rồi bí ba phải lùi dần từng bước. Họ cưu mang ta khi ta bơ vơ giữa xứ lạ. Ta lại vào nhà họ đúng lúc tết nhất tưng bừng, ta không thể ích kỷ ngồi ôm mấy thùng hàng để họ thiếu thốn. Một ngày cũng nên nghĩa, nữa là mười một ngày.

Thua. Bí ba đành mở tung mấy thùng hàng tết ra. Cắt từng sợi dây như cắt vào da thịt mình. Anh em sứ quán tưng bừng cả lên. Xứ này có đủ thịt lợn cho nem và cho bánh chưng, có đủ thịt bò thịt gà cho phở. Nồi bánh chưng sôi sùng sục, mấy anh em phân công mỗi người thức hai tiếng ban đêm để canh, khi nào cạn nước thì đổ thêm nước vào. Bí ba cũng phải ngồi gác một ca.

Tết ấy, một cái tết cộng đồng thật to, lại mời thêm một lô đại sứ các nước và quan chức chính phủ sở tại. Ẩm thực Việt lên ngôi ở Tây Âu. Sứ quán mời cả anh cảnh vệ và anh lái tắc xi đến. Anh lái tắc xi mắt xanh tóc vàng ôm chầm lấy bí ba. Bắt tay nhau cười ha ha. Bí ba dẫn anh ta vào bếp, lôi bánh đa nem ra biểu diễn cách gói nem. Anh ta tròn mắt, ăn thì ngon mà giờ mới biết cái tờ giấy gạo kia là dùng để gói nem.

Vui tết ở Tây Âu, nhưng khi bí ba được gửi trở lại Nam Á thì bị kỷ luật. Trước đó, sứ quán Tây Âu đã đánh moóc thông báo tình hình và thanh toán tiền hàng tết cho Nam Á. Thanh toán thì vẫn bị kỷ luật. Làm tan tành kế hoạch tết đối ngoại của Nam Á. Cảnh cáo trong cơ quan vì để mất hàng. Cả tội ngủ quên trên máy bay nữa. Cả tội khiến quản trị phải xuất thêm tiền vé máy bay từ Tây Âu về Nam Á. Ba năm nhiệm kỳ không một lần được bầu là lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua lại càng không.

Đấy là chuyện của ba mươi sáu năm trước. Bí ba khi về hưu thì đã mang hàm bí thư thứ nhất. Cách đây ba năm anh Tây lái tắc xi ngày trước đi du lịch sang Việt Nam, lần mò thế nào tìm được đến nhà ông. Anh ta vẫn giữ được địa chỉ từ cái ngày tết ăn nem và xì xồ với nhau. Oh, Mr. Nem. Anh ta kêu lên và ôm ông rất chặt. Bữa ấy vợ chồng Mr. Nem giữ anh Tây ở lại ăn cơm. Cơm Việt. Ẩm thực Việt. Tất nhiên là có cả món nem.

HỒ ANH THÁI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *