Truyện ngắn của La Thị Ánh Hường: Đoạn kết

Đã quá mười hai giờ khuya. Mảnh trăng non chỉ mỏng như một nét vẽ, ẩn hiện sau tán lá ngọc lan trong khu vườn trên đỉnh đồi bạt ngàn gió. Đạt nhìn ra ngoài, màn đêm cao nguyên sâu thăm thẳm tưởng như chẳng có điểm dừng.

Thỉnh thoảng Đạt kiểm tra điện thoại, xem thử có tín hiệu gì từ Mai không. Liệu Mai có biết Đạt đã lên cao nguyên không? Việc Đạt đồng ý tham gia chuyến đi lần này không khỏi khiến cả đám bạn trố mắt ngạc nhiên. Từ ngày quen Mai, Đạt ít khi rời thành phố. Công việc và sự ấm áp bên Mai trong căn phòng nhỏ giữa lòng thành phố giữ chân Đạt ở lại.

Vì vậy mà tâm trạng bồn chồn của Đạt lúc này càng không giấu được đám bạn thân. Hảo khoác tay lên vai Đạt, giọng đã ngà ngà say: “Trưởng thành rồi, ai mà đau lòng nữa mậy, chỉ đau… cổ vai gáy thôi!”. Dù biết Đạt đang có tâm trạng không tốt, cả đám vẫn phá lên cười khi nghe Hảo nói. Hóa ra Hảo cũng nhớ bài kỹ chứ, câu này của thầy Nghĩa trong lớp tâm lý nói và đã được tụi nó lưu truyền suốt thời sinh viên. Nhưng ngẫm lại, ở tuổi ngoài 30 mới thấy đúng. Cả thời sinh viên và suốt những năm sau đó, mỗi đứa đã tốn không biết bao nhiêu năng lượng cho những thứ vụn vặt, không đâu. Khi ấy, tụi nó luôn tự cho vấn đề của mình là trầm trọng nhất, đáng quan tâm nhất. Ngoài 30 tuổi mới thấy, những bộn bề mang tên cuộc sống mới là thứ hút hết nguồn năng lượng của tụi nó mỗi ngày.

Nhà văn La Thị Ánh Hường

Trong màn sương giăng mờ, Chi từ dưới nhà bếp đi lên, khệ nệ với nồi cháo nóng trên tay. Hảo đứng bật dậy, chạy lại đỡ cho Chi. Nói sao Chi không gọi Hảo xuống mang lên phụ. Chi xua tay, nói có gì đâu, Chi làm việc nặng vậy quen rồi. Chi là dân xứ này mà. Chi vừa nói vừa đon đả mở nắp nồi cháo gà ra. Mùi thịt gà thơm lừng, béo ngậy bốc lên khiến đứa nào cũng nuốt nước miếng, dù cái bụng còn no căng. Trên bàn, thức ăn còn đầy ắp. Mấy xâu thịt rừng nướng dở còn để trên bếp than hồng. Mùi thịt rừng Chi ướp với những loại lá cây chỉ nơi này mới có, khi vừa chín tới, thịt dậy lên mùi thơm hấp dẫn khó cưỡng.

Lần nào lên đây, cả đám cũng ăn “ngập mặt” như vậy. Chi nói phải ăn thật nhiều chứ, cho bù lại cái thời sinh viên thèm thịt mà nhà trọ không cho nấu nướng. Với số tiền còm cõi trong túi mỗi đứa, dĩa cơm sườn nếu có cũng chỉ là miếng thịt mỏng như lá lúa. Ăn không đủ dính răng. Một lần, tụi nó nảy ra ý tưởng tự mua thịt về nướng ăn. Nhưng nướng bằng cách nào trong căn phòng không có lửa? Một đứa trong số tụi nó nảy ra sáng kiến lấy bàn là cắm điện cho thật nóng, sau đó áp lên 2 mặt của miếng thịt đã ướp sẵn cho đến khi thịt chín. Vụ lấy bàn là nướng thịt của tụi nó trở thành câu chuyện cười ra nước mắt mãi đến sau này.

Thu thì nói mỗi lần lên đây về là cả tháng sau cô ấy không màng đến món thịt vì thịt ở đây thơm, ngọt quá. Về lại thành phố ăn cứ thấy nhạt nhạt. Với lại, ăn nhiều quá nên cảm giác đủ đạm cho cả tháng. Dù sau đó có hì hục tập thể dục cho lấy lại vóc dáng, nhưng cam lòng, vì không thể cưỡng lại được thức ăn quá ngon của Chi làm.

Nhưng thêm nồi cháo gà nữa vào giờ này thì nhiều thật. Chi đưa tay lên miệng, suỵt suỵt vẻ bí mật, mà chắc chắn chồng Chi đã ngủ khò từ hơn tám giờ tối chẳng thể nào còn biết gì ở bên trong nhà. Chi nói mọi người quên kế hoạch đêm nay rồi à? Lúc đó cả nhóm mới nhớ ra, vội đón lấy chén cháo nóng còn bốc khói từ tay Chi, xì xụp húp. Ăn để có sức đi bộ qua đồi bên kia, đến cánh cửa thần kỳ. Chi nói chỉ cần bước qua cánh cửa đó, chọn lá bài là nơi muốn đến, ta sẽ đến được nơi cần đến. Cả ở quá khứ hay tương lai.

Đạt vừa ăn vừa nhìn điện thoại. Vẫn không có tín hiệu từ Mai. Có khi Mai đã ngủ từ sớm rồi. Lần này Mai nói chia tay Đạt với giọng điệu dứt khoát lắm. Không như những lần trước, Mai chỉ bỏ đi đâu đó vài tiếng sẽ quay lại. Đạt không thể nhớ hết lý do của những lần hai đứa giận nhau. Chỉ biết rằng, sau đó, khi hàn gắn lại, Đạt và Mai càng quấn quýt nhau hơn. Lần này thì khác, Mai đã rời khỏi nhà một tuần. Lần về nhà gần đây, khi Đạt còn đang ở công ty, Mai đã dọn hết những thứ cần thiết với cô ấy. Đạt trở về trong căn phòng trống, anh nghe rõ sự vụn vỡ trong tim mình. Anh ngã khuỵu với nỗi đe dọa do chính mình dựng lên, rằng lần này Mai đi thật.

* * *

Những câu chuyện huyền hoặc đầy thu hút ở vùng núi đồi, Đạt đã nghe nhiều rồi, nhưng cánh cửa thần kỳ thì hơi giống trong phim hoạt hình Doraemon. Lúc đầu nghe, cả nhóm nửa tin nửa ngờ. Bây giờ người ta chuẩn bị lên mặt trăng, lên sao Hỏa để tìm nguồn sống mới rồi, khoa học tiến bộ lắm rồi, đã lý giải được hầu hết những điều muốn lý giải, chứ có mấy người mê tín dị đoan như thời xưa đâu. Nhưng chính niềm tin từ ánh mắt Chi là một minh chứng sắt đá rằng, điều đó có thật. Nó như một thứ sức mạnh vô hình nào đó đẩy điều vô thực thành điều hiển nhiên. Có chăng, một câu chuyện huyền hoặc cũng trở nên hoàn toàn chấp nhận được, chỉ bởi niềm tin từ người truyền đạt. Lý thuyết này Đạt cũng học được rất nhiều ở những lớp kỹ năng: bản thân mình phải tin tuyệt đối, thì mới truyền niềm tin đó cho người khác. Và tụi nó đều tin Chi.

Cánh cửa thần kỳ theo Chi nói, nằm ở ngọn đồi bên kia. Không có bất cứ phương tiện gì khác ngoài đi bộ. “Nhưng sao lại phải đi khuya khoắt thế này?”. Chi dõng dạc bảo, đã được học về những trạng thái trong giấc ngủ rồi nhỉ, delta, theta… Nói thật là Chi cũng chẳng nhớ, tóm gọn lại là như một giấc mơ, nên mình phải ở gần với trạng thái đó thì mới mơ được. Chỉ trong một đêm thôi để du hành đến nơi cần đến trong cuộc đời mình. Không phải quá thú vị hay sao?

Đêm xuống lạnh buốt. Khói nhả ra theo từng nhịp thở. Hết lên dốc rồi lại xuống dốc, có những đoạn phải bám chặt vào rễ cây để khỏi trơn trượt. Hảo triết lý rằng, tụi mình đã đi cùng nhau hơn nửa chặng đường đời rồi, ngán gì con đường này. Với lại, có thêm kỷ niệm cùng nhau là quý lắm. Thời bây giờ đâu có mấy ai sống chậm được. Quay lưng đi là lại lao vào vòng xoáy thường nhật với cơm áo gạo tiền, vợ chồng, con cái… Đến cả thứ nỗi buồn vu vơ của cái thời thanh xuân phơi phới cũng trở thành đặc sản quý hiếm.

Tụi nó vừa đi vừa chia sẻ với nhau sẽ dùng lá bài du hành cho việc gì, tương lai hay quá khứ. Thu bảo nó muốn quay lại quá khứ, chỉ để nấu cho ba mẹ bữa cơm trọn vẹn cho khỏi phải day dứt với điều giản đơn mà mình không làm được. Không kịp làm thì đấng sinh thành đã rời khỏi trần gian. Thu phải điều trị theo cách chữa lành để vượt qua nỗi đau lẫn day dứt đó. Nhưng gần như không có vết thương nào lành lặn hẳn. Ít nhiều cũng còn để lại những cơn đau khi trái gió, trở trời. Vì vậy mà Thu tha thiết được quay về thời điểm đó.

Hảo thì nói nó chỉ muốn biết ước mơ giàu có của nó có thành hiện thực không. Hảo là đứa lanh lợi ngoài đời nhất trong nhóm. Nó biết kiếm tiền từ những sản phẩm tự chế của mình khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Nhưng cuộc đời luôn có những điều bất ngờ và thường không suôn sẻ như mình nghĩ. Sau bao nhiêu nỗ lực, cố gắng trong công việc, kể cả mở công ty từ khi còn rất trẻ, đến giờ Hảo vẫn “bầm dập” chứ chưa ngày nào yên ả. Được cái Hảo là đứa lạc quan. Nó thuộc nằm lòng câu chuyện làm giàu của cậu bé người Do Thái. Để mỗi khi cần xả stress thì kể nghe cho vui. Chuyện kể rằng có một cậu bé người Do Thái, thấy cha mẹ ở nhà buôn bán nên khi đi học, cậu quyết tâm bắt chước. Ngày đầu đến trường, cha cho cậu một xu ăn quà. Cậu dùng xu đó mua một quả táo, lấy vạt áo lau cho bóng lên, vào trường cậu bán lại cho đứa bạn lấy hai xu. Ngày thứ hai, cậu dùng hai xu mua hai quả táo, cũng lau thật sạch và bán cho hai người bạn, được bốn xu. Ngày thứ ba cũng thế. Cậu lặp đi lặp lại với ước vọng làm giàu. Đến năm 18 tuổi, luật sư cho biết cậu được thừa hưởng toàn bộ gia tài người cha vừa chết. Và… cậu trở thành triệu phú nhờ tài sản của cha mẹ để lại. Kể xong, Hảo kết luận: “Muốn làm giàu thành công thì trước hết phải xem cha mẹ mình có giàu không đã”. Rồi Hảo cười rất sảng khoái.

Dù thỉnh thoảng có bất cần đời, nhưng Hảo vẫn cháy bỏng với niềm tin nó sẽ trở thành người kiếm tiền thật nhiều.

Trong nhóm bạn, Đạt có cuộc sống vật chất tạm hài lòng. Anh cũng không có quá nhiều nhu cầu để phải dốc hết sức kiếm tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy mà Đạt sống an nhiên, thư thái nhất. Ngày chủ nhật, trong khi đám bạn Đạt tất bật với các sự kiện, dự án, Đạt dành riêng ngày nghỉ cho bản thân và người thương bên cạnh. Nhìn Đạt lúc nào cũng an nhàn, thong thả. Nét mặt thảnh thơi, vô lo. Mọi thứ đến với Đạt như một món quà, đúng như câu nói mà Đạt nghe được “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”. Mai đến với Đạt cũng vậy – là một món quà quý mà Đạt cần có ở bên cạnh suốt cuộc đời. Mai là lẽ sống với Đạt trong khoảng thời gian này. Vậy nên anh rất muốn bước vào cánh cửa thời gian của 10 năm tới, để xem khi ấy mình như thế nào. Người ở bên cạnh Đạt là ai?

* * *

Cánh cửa bật mở. Ánh sáng chan hòa khắp không gian, mang lại sự cân bằng dễ chịu ngay tức khắc. Trước mặt Đạt là khu vườn được sắp xếp hợp lý nhìn gọn gàng và đầy sức sống. Vẻ như nó được chăm sóc rất kỹ, đều đặn mỗi ngày. Ở gốc cây ngọc lan có tán lá xòe rộng, vài cánh hoa trắng rụng trên mặt bàn gỗ, có sẵn tách trà và hai ly nhỏ đặt cạnh mấy quyển sách như có ai đó vừa mới lật đọc. Hương ngọc lan thoảng theo cơn gió, tỏa ra khắp khu vườn. Đạt ngồi cạnh tách trà, ở góc nhìn này có thể thấy bao quát khu vườn, cả căn nhà sơn màu trắng tinh khôi. Đó là căn nhà thiết kế theo kiểu châu Âu mà Đạt lưu sẵn trong điện thoại từ sau buổi học về luật hấp dẫn. Như một bài tập thực hành đầy quyền năng, để rồi những điều ta nghĩ sẽ ứng với thời điểm thích hợp. Giờ thì nó đang ở trước mắt Đạt. Như một phép màu.

Ở cánh cửa khép hờ, Đạt đang phân vân có nên bước vào trong không thì có tiếng động khẽ. Cánh cửa khẽ khàng được đẩy hẳn ra. Một cậu bé chừng 5, 6 tuổi, với khuôn mặt còn ngái ngủ, cầm trên tay món đồ chơi gì đó, tiến về phía Đạt. Trong khi Đạt trố mắt nhìn cậu bé, chưa biết sẽ nói câu gì đầu tiên trong số rất nhiều dấu chấm hỏi trong đầu, thì cậu bé tiến lại gần hơn, chìa món đồ chơi trong tay đưa cho Đạt, giọng rõ từng câu: “Ba, nó bị gãy rồi!”. Giờ thì Đạt lờ mờ hiểu ra câu chuyện, vai trò của mình trong căn nhà này. Tất cả những dấu chấm hỏi khi nãy định hỏi cậu bé, giờ chỉ còn gom về một: Mẹ của cậu nhóc đáng yêu, có khuôn mặt rất sáng này là ai? Tại sao vừa ngủ dậy, cậu bé không đi tìm mẹ mà đi tìm ba? Đạt xua đi cái ý nghĩ tiêu cực, rằng mình sẽ nuôi con một mình.

Đạt đã ám ảnh điều đó từ khi Mai rời đi, để lại câu nói đanh thép với Đạt: “Trong đầu anh chỉ là những điều không hài lòng, trách cứ về em. Như vậy, dù với ai thì cuối cùng cũng dẫn đến kết quả này thôi!”. Đạt đã không chấp Mai, tha thứ cho mình với những hành xử nhất thời trong mối quan hệ. Khi trong người đang cuộn trào thứ năng lượng tiêu cực, mọi lời nói khó nghe nhất, người ta dễ dàng thốt ra với đối phương mà chẳng có ý nghĩ sâu xa gì về nó. Con người cũng không phải là thánh nhân để vượt qua được bản ngã của chính mình trong cơn tức giận, để bao dung như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói “ta và cuộc đời tha thứ cho nhau”. Dù sao, sau tất cả thì Đạt vẫn cần có Mai. Nhưng như một lẽ thường tình, sự trải nghiệm còn là những điều tổn thương mà cả đời ta phải tự chữa lành để vượt qua. Nên ở tình huống này, câu nói của Mai lại hiện về thật rõ, và còn dịch theo sát nghĩa: “Anh sẽ cô độc cả đời”.

Đạt tiến đến gần con, đón lấy món đồ chơi trên tay con. Ở tầm gần nhất, Đạt kéo con vào lòng, hôn lên lớp tóc mềm mịn của con, trong đầu cố tìm một câu gì đó để hỏi cho tự nhiên nhất, về mẹ cậu bé thì bất ngờ có tiếng bước chân sau cánh cửa.

Đạt quay lại, tiếng bước chân cũng vừa dừng. Một cái đầu thò ra khỏi cánh cửa, kèm giọng nói quen: “Hai cha con vào ăn sáng!”. Cậu nhóc rời khỏi tay anh, ù chạy về phía mẹ, giọng trong veo: “Ăn sáng xong cả nhà mình đi picnic phải không mẹ?”. Mai đưa tay đón lấy con: “Phởn nhà mình giống tính ai vậy ta? Đã hứa là nhất định phải thực hiện mới chịu!”. Ở vế sau, Mai hướng ánh nhìn về phía Đạt. Hình như ánh mắt cô ấy đang cười.

* * *

Suốt chặng đường về nhà. Đạt không tham gia vào câu chuyện của nhóm bạn. Anh đi sau, tủm tỉm cười một mình.

LA THỊ ÁNH HƯỜNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *