Bút ký Việt Nga: Huyền Trân Công chúa trong ký ức Kim Đâu

Hơn bảy trăm năm đã trôi qua, người dân vẫn còn gọi tên Huyền Trân. Và có lẽ, với một con người đã đi vào lịch sử, không có sự tưởng niệm nào lớn hơn thế. Một ngôi miếu có thể rất nhỏ. Một làng quê có thể rất ít người ngoài biết đến. Nhưng nếu ở đó, ký ức về một con người vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, thì nơi ấy đã trở thành một phần của lịch sử. Bởi cuối cùng, lịch sử không chỉ nằm trong những gì đã xảy ra. Lịch sử còn nằm trong cách con người lựa chọn để nhớ về những gì đã xảy ra.

Từ phường Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về làng Kim Đâu không xa.

Rời những con phố đông đúc của khu vực Đông Hà hôm nay, chỉ một quãng đường ngắn, cảnh vật đã đổi khác. Những mái nhà phố kề nhau thưa dần, những khoảng ruộng mở ra, làng xóm mang vẻ yên bình của vùng Cam Lộ cũ. Đường đi thuận tiện đến mức tôi cứ ngạc nhiên: ở một nơi gần đô thị như thế, có một ngôi miếu thờ một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử dân tộc mà rất ít người ngoài vùng biết đến.

Bức ảnh treo trong miếu chụp ngôi miếu cổ thờ Huyền Trân Công chúa trước khi xuống cấp và trùng tu ở Kim Đâu

Kim Đâu bây giờ thuộc xã Hiếu Giang. Trước cuộc sắp xếp đơn vị hành chính, làng thuộc xã Thanh An, huyện Cam Lộ. Xã Hiếu Giang hiện nay được hình thành trên cơ sở sáp nhập bốn xã Cam Thủy, Cam Tuyền, Cam Hiếu và Thanh An. Nhưng lịch sử Kim Đâu thì lâu đời hơn rất nhiều những lần thay đổi địa giới hành chính. Đây là một làng cổ. Và điều đặc biệt nhất đối với tôi khi tìm hiểu về Kim Đâu là: trên một không gian làng quê không lớn, những dấu tích của văn hóa Chăm vẫn hiện diện khá dày đặc. Ở Kim Đâu hiện còn ba địa điểm văn hóa lịch sử đáng chú ý nằm rất gần nhau là phế tích tháp Chăm, giếng cổ Bàu Đá và ngôi miếu nhỏ, thường được nhân dân gọi là Miếu Bà – nơi thờ Huyền Trân Công chúa.

Người dân địa phương kể lại rằng giữa cánh đồng Kim Đâu thuở xa xưa từng có một ngọn tháp Chăm. Qua thời gian biến cải, tháp không còn nguyên vẹn, nhưng nền tháp và những di vật khảo cổ còn lại cho thấy nơi đây từng là một không gian tín ngưỡng của cư dân Champa. Đặc biệt, năm 1986, tại khu vực phế tích tháp, người dân phát hiện tượng bò thần Nandin bằng sa thạch; hiện vật quý giá này sau đó được đưa về lưu giữ tại Bảo tàng Quảng Trị. Còn Bàu Đá là tên một chiếc giếng cổ hình vuông được nhận diện là giếng Chăm. Bàu nước, giếng cổ, phế tích tháp, tượng bò thần… từng ấy dấu vết nằm trong một làng nhỏ đủ để nhắc người đến sau rằng trước những làng Việt ở đây đã từng có một cộng đồng khác sinh sống, thờ phụng, dựng xây và để lại dấu chân của mình trên đất. Đó là cộng đồng người Chăm của vương quốc Chiêm Thành xa xưa.

Tôi đã nghĩ rất lâu về điều ấy khi đến Kim Đâu. Một vùng đất chưa bao giờ chỉ có một lớp lịch sử. Dưới lớp đất hôm nay là lớp đất của người xưa. Dưới một tên làng Việt có thể còn những dấu tích của một cộng đồng Chăm. Trong mạch nước chiếc giếng cổ, trong nền một ngọn tháp đã mất, trong pho tượng đá nằm lại hàng trăm năm dưới đất, thời gian dường như không trôi theo đường thẳng tuyến tính. Nó chồng lớp lên nhau, lớp sau phủ lên lớp trước nhưng không hoàn toàn xóa được lớp trước. Và cũng trong không gian văn hóa ấy có một ngôi miếu rất nhỏ thờ Huyền Trân Công chúa.

Trước khi đến đây, tôi đã hình dung nơi thờ một người phụ nữ có tên tuổi gắn với một bước ngoặt lớn trong lịch sử Đại Việt chắc hẳn phải là một công trình khá bề thế. Nhưng tôi đã nhầm. Ngôi miếu nhỏ đến bất ngờ. Không tam quan lớn. Không sân rộng. Không những lớp mái cong nối nhau. Không có vẻ uy nghi của những quần thể đền đài nổi tiếng mà khách thập phương tìm đến quanh năm. Chỉ vài bước chân từ ngoài sân là tới cửa miếu. Qua ô cửa vòm nhỏ đã nhìn thấy ban thờ. Trên đó là tên người được phụng thờ: Huyền Trân Công chúa.

Tôi đã đứng lặng khá lâu. Có sự tương phản thật lớn: một mái miếu nhỏ, bình dị đến mức gần như lọt thỏm trong làng quê, nhưng người được thờ bên trong lại là một công chúa mà cuộc đời đã đi vào lịch sử hơn bảy thế kỷ. Ở Huế hôm nay có cả một Trung tâm Văn hóa Huyền Trân dưới chân núi Ngũ Phong; lễ hội Đền Huyền Trân được tổ chức hằng năm vào dịp giỗ bà, thu hút đông đảo người dân và du khách. Còn ở Kim Đâu, Huyền Trân chỉ có một ngôi miếu rất nhỏ. Khách thập phương chưa nhiều. Người tìm đến hương khói phần lớn vẫn là người quanh vùng, người Quảng Trị và đặc biệt là chính những người dân Kim Đâu. Nhưng lòng biết ơn đâu được đo bằng kích thước của đền đài. Trong ngôi miếu đã được trùng tu hôm nay có treo một bức ảnh cũ. Đó là hình ảnh ngôi miếu trước khi được trùng tu: một công trình nhỏ bằng gạch, cửa cuốn vòm, dáng cổ kính, khác khá nhiều ngôi miếu hiện tại.

Chiến tranh từng làm ngôi miếu cổ hư hại nặng nề; sau chiến tranh, dân làng dựng lại nơi thờ tự, rồi ngôi miếu tiếp tục được sửa chữa, tôn tạo qua các giai đoạn sau. Một số tài liệu địa phương ghi nhận các đợt phục dựng, xây dựng vào các năm 1978, 1998 và gần đây nhất là năm 2010.  Những người dân làng Kim Đâu tôi gặp lại kể rằng từ khi còn nhỏ đã thấy người lớn gọi đây là miếu Huyền Trân. Ông bà họ gọi như thế. Cha mẹ gọi như thế. Rồi đến thế hệ họ cũng gọi như thế. Không ai nhớ chính xác việc thờ Huyền Trân ở Kim Đâu bắt đầu từ bao giờ. Dân gian ít khi nhớ bằng niên đại. Dân gian nhớ bằng cách khác. Nhớ một cái tên. Nhớ một nơi phải đến khi làng có việc. Nhớ ngày hương khói. Nhớ câu chuyện ông bà từng kể. Và cứ thế, một ký ức đi từ đời này sang đời khác.

Người dân còn kể với tôi rằng miếu rất thiêng. Khi gia đình có việc quan trọng, gặp điều chưa yên lòng hoặc có một mong ước nào đó, họ lại đến thắp hương. Người ở những vùng lân cận cũng tìm về. Có người bảo điều mình cầu đã được như ý. Có người chẳng kể đã cầu xin điều gì, chỉ lặng lẽ trở lại đặt lễ, thắp một nén hương tạ. Tôi không có ý định tìm cách kiểm chứng những chuyện linh ứng ấy. Đức tin vốn thuộc về một miền khác với những chứng cứ của lịch sử. Nhưng tôi hiểu rằng một nơi thờ tự chỉ thật sự sống khi còn người tìm đến. Một công trình thông thường có thể tồn tại chỉ bằng gạch đá. Một ngôi miếu lại tồn tại bằng ký ức và niềm tin. Ở Kim Đâu, khói hương vẫn còn. Nhưng chính ngôi miếu nhỏ ấy lại chứa trong nó một cuộc tranh luận không nhỏ. Đó là người được thờ ở đây thực sự là ai?

Đã có một luồng ý kiến cho rằng nơi này vốn là miếu Bà Chúa Ngọc, một nữ thần thuộc lớp tín ngưỡng Chăm, chứ không phải miếu thờ Huyền Trân công chúa. Ngay trong thiết kế ngôi miếu cổ (còn được lưu lại qua tấm ảnh được treo trong miếu đã trùng tu), dấu vết kiến trúc Chăm khá rõ ràng.  Một số tài liệu nghiên cứu ghi nhận tại Kim Đâu dấu vết tín ngưỡng Chúa Ngọc và nhìn nhận việc Huyền Trân được thờ ở đây trong quan hệ với quá trình tiếp biến Việt – Chăm. Cũng đã có những bài viết trên báo chí khá gay gắt, nói rằng ai đã “biến”  miếu thờ Bà Chúa Ngọc thành miếu thờ công chúa Huyền Trân.

Mặt tiền ngôi miếu nhỏ thờ Huyền Trân Công chúa ở Kim Đâu

Ở chiều ngược lại của dư luận, truyền thống thờ Huyền Trân công chúa tại Kim Đâu cũng không phải một điều vừa mới xuất hiện. Các bài viết từ nhiều năm trước đã ghi nhận miếu Huyền Trân ở làng Kim Đâu; những nghiên cứu về Huyền Trân trong tâm thức người Quảng Trị mô tả khá rõ việc dân làng ngưỡng vọng bà như một nhân thần có công với vùng đất.  Chính quyền địa phương hiện cũng chính thức giới thiệu đây là Miếu thờ Huyền Trân Công chúa và tổ chức dâng hương tưởng niệm bà. Ngay trong Bằng xếp hạng Di tích cấp tỉnh, thành phố của miếu được Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cấp năm 2004 cũng ghi rất rõ tên di tích là “Miếu thờ Huyên Trân công chúa”.

Vậy nhân vật được thờ trong miếu là Bà Chúa Ngọc hay Huyền Trân? Tôi đã tự hỏi câu ấy để tìm hiểu. Nhưng càng tìm hiểu, tôi càng thấy có lẽ không nên vội đặt hai hình tượng vào hai phía đối lập rồi buộc mình phải lựa chọn một đáp án. Bởi trước năm 1306, vùng đất này thuộc Chăm pa. Những cộng đồng cư dân Chăm từng sinh sống ở đây, dựng tháp, đào giếng và thờ những vị thần của họ. Trong thế giới tín ngưỡng ấy, nữ thần Mẹ Xứ Sở giữ một vị trí đặc biệt. Qua quá trình giao lưu với người Việt, hình tượng ấy được tiếp nhận dưới những danh xưng như Bà Chúa Ngọc, Thiên Y A Na. Rồi năm 1306, lịch sử chuyển sang một trang khác. Huyền Trân Công chúa nhà Trần kết hôn với vua Chăm pa là Chế Mân. Hai châu Ô và Lý được chuyển giao cho Đại Việt; năm sau, nhà Trần đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu.

Từ đó, những lớp cư dân Việt dần đi vào vùng đất mới. Nhưng đường biên thay đổi không có nghĩa con người, phong tục và tín ngưỡng có thể thay đổi trong một ngày. Những người cư trú cũ không đồng loạt biến mất. Những lớp dân cư mới không bước vào một vùng đất trống không. Họ gặp nhau. Cộng cư. Giao lưu. Có những phong tục, những nét văn hóa được giữ nguyên. Có những điều biến đổi. Có những cái được gọi bằng một tên mới. Có vị thần cũ được người đến sau tiếp tục thờ phụng nhưng diễn giải lại bằng hệ thống tín ngưỡng của mình. Đó là một quy luật rất tự nhiên của văn hóa. Và phải chăng ngôi miếu ở Kim Đâu cũng đã trải qua một hành trình như thế? Có thể nơi đây từng là một không gian thiêng của người Chăm, nơi Bà Chúa Ngọc được thờ như một nữ thần của xứ sở. Rồi người Việt đến. Họ sinh sống trên chính vùng đất Ô, Lý cũ. Họ mang theo ký ức của Đại Việt. Và trong ký ức ấy có Huyền Trân, nàng công chúa mà cuộc hôn nhân của nàng với nhà vua Chế Mân đã gắn trực tiếp với sự chuyển giao vùng đất họ đang lập làng, dựng nhà, sinh con đẻ cháu.

Có thể trong ngôi miếu nhỏ này đã có một thời kỳ phối thờ. Có thể hai lớp tín ngưỡng cùng tồn tại. Có thể qua nhiều thế hệ, các hình tượng dần chồng lên nhau, đến mức cộng đồng không còn cảm thấy cần thiết phải phân định rạch ròi như những người nghiên cứu hôm nay. Một số bài viết về ngôi miếu cổ Kim Đâu này đã gọi hiện tượng ấy là một dạng tín ngưỡng song trùng, một sự giao thoa giữa hình tượng Chúa Ngọc và Huyền Trân.  Tôi thấy cách giải thích ấy có sức gợi. Bởi có một sự gặp gỡ rất đặc biệt giữa hai hình tượng nữ nhân. Bà Chúa Ngọc gắn với đất. Huyền Trân cũng gắn với đất. Một người là nữ thần Mẹ Xứ Sở trong đời sống tín ngưỡng của cư dân Chăm. Một người là người phụ nữ lịch sử có cuộc đời gắn với việc chính miền đất ấy bước sang một thời đoạn khác. Nếu quả thật hai hình tượng từng gặp nhau dưới mái miếu này, thì phải chăng đó không phải là câu chuyện một người đến để xóa tên một người? Mà là câu chuyện hai lớp văn hóa cùng tìm được chỗ trú trong một không gian thiêng. Văn hóa đâu phải một tờ giấy trắng để người đến sau xóa hết chữ của người đến trước. Văn hóa giống như đất. Lớp sau bồi lên lớp trước. Đào càng sâu, càng gặp nhiều dấu tích.

Ở Kim Đâu còn một dòng nước dẫn câu chuyện ấy về xa hơn bảy thế kỷ. Đó là dòng sông Hiếu. Từ miền thượng nguồn, sông đi qua vùng Cam Lộ, Đông Hà rồi xuôi về phía đồng bằng và biển. Nhưng trong tâm thức người dân vùng này, dòng sông không chỉ là một địa danh địa lý. Nó còn giữ một câu chuyện về Huyền Trân. Chính sử ghi cuộc hôn nhân năm 1306. Ghi tên nhà vua Chế Mân. Ghi tên vùng đất châu Ô, châu Lý. Ghi việc nhà Trần tiếp nhận vùng đất và đổi tên thành Thuận, Hóa…

Nhưng chính sử không thể ghi hết từng đoạn đường Huyền Trân đã đi, nàng dừng ở đâu, đã nhìn gì, nghĩ gì trên hành trình từ Thăng Long vào Champa. Dân gian bù vào những khoảng trống ấy bằng truyền tụng. Người dân địa phương kể rằng đoàn tùy tùng nhà Trần đưa Huyền Trân đã đến vùng này. Trước khi xuống thuyền để theo đường thủy ra Cửa Việt rồi tiếp tục vào đất Chiêm Thành, công chúa dừng lại bên sông. Nàng quay về phương Bắc. Phương của Thăng Long. Phương của vua cha và tổ tiên nhà Trần. Nàng bái vọng. Theo dân gian, cảm động trước tấm lòng hướng về quê cha đất tổ ấy, người dân và binh sĩ gọi đoạn sông nơi nàng dừng chân là sông Hiếu. Câu chuyện này đến nay vẫn được chính người dân địa phương truyền tụng. Cái tên sông Hiếu bởi thế mang nhiều ý nghĩa sâu xa và đẹp đẽ.

Sử sách không xác nhận câu chuyện ấy. Lịch sử địa danh cũng còn những vấn đề phải khảo cứu. Nhưng tôi vẫn thấy truyền tụng ấy đẹp vô cùng. Bởi chính sử thường ghi việc nước. Dân gian lại thường giữ lòng người. Chính sử nhớ Huyền Trân bằng bằng tên đất châu Ô, châu Lý. Người bên dòng sông này nhớ nàng bằng một chữ Hiếu. Một chữ thôi, nhưng chứa trong nó cách hậu thế hình dung về người con gái năm ấy: vâng lời vua cha, rời kinh thành, bước vào một cuộc hôn nhân mà phía trước là cả một đời sống xa lạ nơi một quốc gia xa lạ. Có lẽ vì thế mà Huyền Trân là một người phụ nữ rất đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Lịch sử dân tộc đã ghi tên rất nhiều người phụ nữ phi thường. Hai Bà Trưng đi vào lịch sử bằng cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ. Bà Triệu để lại một hình tượng bất khuất giữa trận tiền. Nữ tướng Lê Chân vừa là nữ tướng tài, vừa gắn với công cuộc khai phá một vùng đất. Dương Vân Nga hiện diện trong một thời khắc đặc biệt của vận nước. Nguyễn Thị Duệ vượt qua những giới hạn của xã hội phong kiến để đi vào lịch sử khoa bảng…

Huyền Trân lại khác. Nàng không cầm gươm. Không chỉ huy quân đội. Không phất cờ khởi nghĩa. Nàng đi vào lịch sử bằng một cuộc xuất giá. Nhưng cuộc xuất giá ấy không chỉ là việc riêng của một đời người con gái. Năm 1306, Huyền Trân mười chín tuổi. Ở độ tuổi mà một người con gái hẳn cũng đã có những ước vọng của riêng mình về hạnh phúc, nàng rời Thăng Long để làm vợ vua Chế Mân ở một vương quốc khác. Sử sách không ghi nàng nghĩ gì. Nhưng phía sau cuộc hôn nhân ấy, hai châu Ô, Lý trở thành đất Đại Việt. Một người con gái bước sang nhà chồng. Một đường biên quốc gia dịch chuyển.

Có những người mở rộng cương vực bằng chiến trận. Huyền Trân gắn với một bước mở rộng cương vực bằng bang giao và chính cuộc đời mình. Có lẽ chính điều ấy làm nên sự đặc biệt của bà. Không chỉ công lao. Mà còn số phận. Không chỉ khiến hậu thế kính trọng. Mà còn khiến người đời thương cảm. Và đôi khi, chính sự hòa quyện giữa kính trọng, biết ơn và thương cảm làm cho một nhân vật lịch sử đi sâu vào tâm thức dân gian hơn rất nhiều những trang biên niên khô cứng. Bởi vậy, trên dải đất miền Trung, tên Huyền Trân vẫn hiện diện trong nhiều không gian tưởng niệm. Huế tổ chức lễ hội Đền Huyền Trân hằng năm; tại Quảng Trị, bà được nhiều cộng đồng tôn kính như một nhân thần gắn với vùng đất Thuận Hóa xưa.  Và ở Kim Đâu, bà ở trong một ngôi miếu nhỏ. Nhỏ đến mức chỉ vài bước chân là tới ban thờ. Nhưng một ngôi miếu nhỏ vẫn có thể chứa một ký ức lớn.

Trước khi rời Kim Đâu, tôi quay lại ngôi miếu một lần nữa. Khói hương vẫn mỏng trước ban thờ. Bức ảnh ngôi miếu cũ vẫn lặng lẽ trên tường. Ngoài kia là Bàu Đá, là dấu tích giếng Chăm, là nền tháp đã mất. Xa hơn một chút, dòng sông Hiếu vẫn chảy qua miền đất từng mang một cái tên khác trong những lớp lịch sử xa xưa. Tất cả ở rất gần nhau. Gần đến mức tôi bỗng nghĩ: có lẽ hiếm nơi nào như Kim Đâu, chỉ trong một khoảng đất không rộng lại có thể nhìn thấy nhiều lớp ký ức đến thế. Một lớp thuộc về Champa. Một lớp thuộc về Đại Việt. Một lớp nằm trong đất, trong gạch đá, trong phế tích. Một lớp tồn tại trong tên gọi, truyền thuyết, tín ngưỡng. Một lớp được ghi trong sử sách. Một lớp chỉ còn được kể lại từ đời này sang đời khác. Và dưới mái miếu nhỏ ấy, những lớp ký ức tưởng như khác biệt lại gặp nhau. Người được thờ là Bà Chúa Ngọc hay Huyền Trân? Có lẽ câu hỏi ấy rồi vẫn còn được những người nghiên cứu tiếp tục tranh luận.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga dâng hương Huyền Trân Công chúa ở miếu Kim Đâu

Tôi cũng không muốn đi đến Kim Đâu để giành phần đúng cho một giả thuyết nào. Bởi càng đứng trước ngôi miếu, tôi càng nhận ra rằng đôi khi lịch sử văn hóa không vận động bằng những đường ranh rạch ròi như chúng ta vẫn muốn phân chia. Đất này từng là đất của người Chăm. Rồi trở thành đất Đại Việt. Nhưng một đường biên thay đổi không làm ký ức của lớp cư dân trước lập tức biến mất. Con người có thể rời đi, nhưng một chiếc giếng vẫn còn. Một ngọn tháp có thể đổ xuống, nhưng viên gạch vẫn nằm trong đất. Một vị thần có thể mang thêm một tên gọi khác, nhưng cái thiêng mà cộng đồng đã gửi vào nơi thờ tự thì không dễ mất đi.

Văn hóa của một vùng đất có lẽ cũng giống chính đất đai. Lớp sau bồi lên lớp trước. Không phải lớp sau xuất hiện thì lớp trước không còn. Và càng đi sâu vào lòng đất, càng thấy lịch sử chưa bao giờ chỉ có một màu. Vì thế, tôi muốn nhìn ngôi miếu Kim Đâu không phải như chứng tích của một sự thay thế, mà như một chứng tích của sự gặp gỡ. Sự gặp gỡ giữa Chăm và Việt. Giữa nữ thần và nhân thần. Giữa huyền thoại với chính sử. Giữa một người Mẹ của xứ sở trong tín ngưỡng cổ và một người phụ nữ có thật đã bước vào lịch sử của vùng đất ấy bằng chính cuộc đời mình. Và thật kỳ lạ, cả hai đều là phụ nữ. Một người gắn với đất bằng tín ngưỡng. Một người gắn với đất bằng số phận. Có lẽ chính ở điểm ấy, tôi hiểu thêm vì sao Huyền Trân có một sức sống đặc biệt trong tâm thức hậu thế.

Tôi rời Kim Đâu khi nắng đã ngả trên những cánh đồng. Con đường trở lại Đông Hà rất gần. Nhưng trong tôi, câu chuyện của ngôi miếu nhỏ ấy lại mở ra một khoảng thời gian rất xa: hơn bảy thế kỷ của một vùng đất, của những cuộc dịch chuyển biên cương, những lớp cư dân, những nền văn hóa và số phận của một người phụ nữ. Tôi không biết hơn bảy trăm năm trước, Huyền Trân có thực sự đã đứng bên dòng sông này, quay về phương Bắc mà lạy tạ hay không. Tôi cũng không biết từ chính xác năm nào người Kim Đâu bắt đầu thờ nàng dưới mái miếu này. Nhưng tôi biết một điều có thật: Hơn bảy trăm năm đã trôi qua, người dân vẫn còn gọi tên Huyền Trân. Và có lẽ, với một con người đã đi vào lịch sử, không có sự tưởng niệm nào lớn hơn thế. Một ngôi miếu có thể rất nhỏ. Một làng quê có thể rất ít người ngoài biết đến. Nhưng nếu ở đó, ký ức về một con người vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ, thì nơi ấy đã trở thành một phần của lịch sử. Bởi cuối cùng, lịch sử không chỉ nằm trong những gì đã xảy ra. Lịch sử còn nằm trong cách con người lựa chọn để nhớ về những gì đã xảy ra.

Và ở Kim Đâu, giữa những lớp trầm tích Chăm và Việt, giữa khói hương của ngôi miếu nhỏ, Huyền Trân vẫn đang được nhớ theo cách của dân gian: không ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ. Như một dòng sông vẫn chảy. Như một lớp đất vẫn nằm lại dưới chân người. Như một cái tên đã đi qua hơn bảy thế kỷ mà chưa hề mất hút trong thời gian.

NGUYỄN THỊ VIỆT NGA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *