Hoàng Nhuận Cầm thời chống Mỹ: Một tâm hồn học sinh những câu thơ trận mạc

Nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm vừa đột ngột vĩnh biệt cõi trần ngày 20.4.2021 tại Hà Nội hưởng thọ 70 tuổi. Ông sinh ngày 7.2.1952 tại Hà Nội, tác giả của các tập thơ: “Thơ tuổi hai mươi” (in chung, 1974); “Những câu thơ viết đợi mặt trời” (1983); “Xúc xắc mùa thu” (1992); “Thơ với tuổi thơ” (2004); “Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến” (2007); “36 bài thơ” (2008).​ Là 1 trong 4 giải Nhất của cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1972-1973, Hoàng Nhuận Cầm cũng được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 cho tập thơ “Xúc xắc mùa thu”. Bộ phim “Mùi cỏ cháy” do ông biên kịch (đạo diễn Nguyễn Hữu Mười) đã đoạt Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17. Phim cũng được trao 4 giải Cánh diều Vàng tại giải thưởng Cánh diều Vàng năm 2011… VHSG xin chia buồn sâu sắc với gia đình, đồng nghiệp của nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm và trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương về ông.

Nhà thơ, nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm

Cái tên Hoàng Nhuận Cầm được trình làng lần thứ nhất trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số tháng Giêng 1972 với ba bài thơ: “Bức tranh dọc đường hành quân, Đêm khuya nói chuyện với Andecxen và Mùa thu tôi yêu”. Ba bài thơ khá kết nhau trong một giọng điệu tâm hồn: trẻ trung, trong sáng. Thơ nói đời về đời sống chiến sĩ, chiến trường, nhưng còn thấm đầy hương vị tuổi học trò.

Hoàng Nhuận Cầm đang học dở đại học thì đi bộ đội, khi những bài thơ trên được đăng, anh trọn một tuổi quân và hai mươi tuổi đời. Hoàng Nhuận Cầm là một đại diện tiêu biểu cho lứa tuổi sinh ta và lớn lên trong lòng chế độ mới, qua ngưỡng cửa nhà trường vào ngay cuộc chiến tranh rộng lớn, ác liệt… Kiểu tâm hồn bộ đội này trong kháng chiến chống Pháp chưa có. Anh vệ quốc năm xưa “Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá” thường bước vào đời bộ đội sau khi đã trải qua những năm tháng cực nhọc trên đồng ruộng, làm lụng đến u mê, họ “gặp nhau hồi chưa biết chữ”, những hố ngang hố dọc cản cơ giới giặc trên đường hành quân còn gợi họ liên tưởng đến với chữ I chữ tờ ở lớp bình dân buổi tối. Họ chưa thể có, như Hoàng Nhuận Cầm, mười lăm sách vở nhà trường, họ chưa thể có những đêm thức trắng mải mê rất học trò với những trang cổ tích tuyệt vời của Andecxen, họ chưa nắm được đầy đủ cái vị ngọt ngào của Truyện Kiều, của ca dao tục ngữ, của Đường thi trong các bài giảng văn lớp Tám, lớp Mười. “Tháng bảy lác đác cành ngô, tiếng chày ai nện đêm thu ghẹo người”. Họ chưa có thì giờ và sự thơ thới trong tâm hồn để cảm nhận cái hơi mùa thu Việt Nam dịu dàng bâng khuâng trong màu xanh hoa lá ruộng đồng, trong ánh sáng tròn vạnh một vầng trăng và hương thơm những trái bưởi trung thu. Đằng sau những câu thơ chiến sĩ của Hoàng Nhuận Cầm, người ta thấy một xã hội trong lành tươi sáng cho phép con người, đặc biệt là ở lứa tuổi mới bước vào đời, được sống trong tin cậy, yêu thương. Trong tâm hồn thơ Hoàng Nhuận Cầm những buổi đầu tiên ấy, người ta thấy một phong vị trữ tình thấm đẫm những mơ mộng khát khao. Đôi lúc cảm xúc lãng mạn được đẩy lên đến độ thần thoại hoá những nét thực của đời sống thường ngày. Thơ Hoàng Nhuận Cầm không có những dây trầm của ưu tư, lo ngại về những mặt phản diện hay những nét khắc khổ của đời sống trong chiến tranh. Cuộc đời được nhìn bằng đôi mắt “xanh non”. Cảnh vật trong thơ Hoàng Nhuận Cầm tươi sáng và luôn luôn vang động những âm thanh xao xuyến của lần gặp gỡ đầu tiên, đôi lúc được phủ trong một khí quyển hư ảo như cổ tích. Bài thơ Anh bộ đội và tiếng nhạc la được anh viết nhanh chóng, tại trận, câu thơ cuối cùng chấm hết khi tiếng nhạc la đoàn vận tải còn vọng lại phía cuối nẻo rừng. Bài thơ liền một hơi cảm xúc trong một nhạc điệu chơi vơi, lãng đãng rất kỳ ảo, anh bộ đội xắn quần đi trong mưa với bầy la tải đạn qua những con đường ác liệt của chiến tranh mà thơ mộng như trong cổ tích:

Những cây nấm nâu mầu nâu già

Tự dưng thức dậy bên vòm lá

Những bông hoa chửa có tên hoa.

Bỗng nhiên mở cánh ra nghe ngóng.

Hoàng Nhuận Cầm không dùng những nét dữ dội để vẽ cái dữ dội của cuộc chiến. Hiện thực không được thể hiện trực tiếp, trần trụi như thơ của phần đông các cây bút trẻ bộ đội. Hoàng Nhuận Cầm quen dùng những nét mềm, những đường vờn rất mảnh để tạo hình. Thực tế đời sống hơi lùi xa, nhường chỗ cho cảm xúc rung động. Thơ Hoàng Nhuận Cầm nhờ vậy dễ thân với bạn đọc. Giọng thơ nhỏ nhẹ, tinh tế chính là sức hấp dẫn đầu tiên của thơ Hoàng Nhuận Cầm. Đọc thơ anh, người ta gặp một tâm hồn trước khi nhận ra đầu đuôi sự việc.

Hoàng Nhuận Cầm cũng không thiên về kể việc. Anh chỉ muốn ghi lại những biến động của lòng mình. Bài thơ thoáng, sự việc chỉ đủ để làm điểm tựa khơi gợi tâm hồn. Giá trị hiện thực của thơ Hoàng Nhuận Cầm chưa bằng của Nguyễn Đức Mậu, Phạm Tiến Duật… nhưng anh lại biết lắng nghe những chuyển động, có khi rất nhỏ bé, của lòng mình trước hiện thực lớn lao của đất nước. Một bài thơ nhan đề Nhật ký viết năm 1971, năm bộ đội đầu tiên của anh, có ba đoạn sáng, chiều, tối thế này:

Sáng: Bình minh ấy là bình minh kỷ niệm

Chiều: Hoàng hôn như lạ lại như quen.

Tối: Tắc kè liếm lưỡi vào đêm,

Có ngủ được đâu

Nằm nghe lá thở

Nằm nghe súng nổ,

Đnáh giặc lần đầu, ai chả thế

Thôi sáng rồi vẫn tiếng gà xóm mẹ

Cuốn võng vào theo tiếng súng mà đi.

Bình minh ấy, để xác định không gian, thời gian chỉ là một chữ ấy. Rồi cái vẻ đặc biệt của hoàng hôn cũng được ghi nhận từ cảm giác như lạ lại như quen. Hoàng Nhuận Cầm muốn diễn tả cái hiện thực bên trong, hiện thực của những biến động nội tâm hơn là miêu tả những gì nhìn được bằng mắt, nghe được bằng tai. Ưu điểm của loại thơ này là gọn, súc tích, tránh được kể lể. Khi anh cho thơ bám vào câu chuyện thường không thành công. Bằng chứng là ở bài Anh bộ đội và tiếng nhạc la trong bản in ở Nhà xuất bản Quân đội, còn có một phần dài nữa nói về sự hy sinh của anh chiến sỹ và những việc sau đó, bút pháp kể chuyện ở đây không liền mạch với giọng trữ tình của phần trên. Báo Văn nghệ có lý khi tặng giải chỉ lấy phần trên, bài thơ gọn và hoàn chỉnh hơn nhiều, dù diện mạo có khác đi.

Thơ Hoàng Nhuận Cầm là thơ của tuổi trẻ ý thức đầy đủ trách nhiệm mình trước đất nước, trước nhân dân. Ba tiếng tuổi hai mươi nhiều lần vang động trong thơ kiêu hãnh và da diết:

Con đã sống những ngày cao đẹp nhất.

Tuổi hai mươi chỉ có một lần.

Ngay khi mình hai mươi tuổi – bình minh

Má đã sống bạc đầu đêm Côn Đảo

Em đã sống ba nghìn ngày địa đạo.

Áp má vào, uống nắng lỗ thông hơi.

Tuổi hai mươi chỉ có một lần. Hoàng Nhuận Cầm đã có câu thơ như vậy, đã ý thức như vậy, nhưng không phải ý thức để hưởng thụ, để vội vàng sống gấp: Đất nước đã mấy thế hệ người ra trận, đánh và thắng hai đế quốc lớn, lứa tuổi hai mươi hiểu, hiểu lắm:

Ngay khi mình hai mươi tuổi thời gian

Nếu không nhanh, ta đã chậm mất rồi.

 Khẩu AK quàng trước ngực tuổi hai mươi.

Vẻ đẹp của tuổi hai mươi trong thơ Hoàng Nhuận Cầm tràn đầy một khí vị lãng mạn, nhưng vẫn không giấu đi cái đắng đót của lớp người tha thiết yêu cuộc sống hoà bình xây dựng. Trong tâm hồn có cái quyết liệt rắn khoẻ, một mất một còn trong chiến đấu, nhưng vẫn có cái rưng rưng thơ mộng:

Còn một mắt ư, còn một tay ư. Mình còn trái tim này nhớ suối từ nguồn, thương cây từ gốc, yêu đất nước này từ ngọn gió heo may với lay lay rơm rạ thu về.

Đọc thơ Hoàng Nhuận Cầm, đôi lúc chúng ta xúc động, lặng ướt những chân mi vì những điều ở đằng sau câu thơ, những điều tác giả như muốn giấu đi, chưa muốn nói, nhưng cái hơi thở của thơ anh lại làm ta nhận ra. Một cái tết: Giao thừa đến lưng chừng dây cháy chậm. Một mùa xuân: Lính tráng cởi trần lội sông đón tết. Một vẻ đẹp: Sáng nay tuổi hai mươi/ Hồng lên như viên đạn.

Sự tươi mới của lứa tuổi vừa bước vào đời được so sánh với cái mới mẻ của viên đạn vừa xuất xưởng. Câu thơ hồn nhiên, sự so sánh hồn nhiên mà nghe xót ở trong lòng. Viên đạn sinh ra là để bắn đi, một lần là hết. Câu thơ có cái nghĩa lớn, cái sức nặng của việc đời những ngày tháng ấy. Cao cả và xót thương.

Nếu được chết cho quê hương, con sẽ chết như bạn bè con thế đấy, với câu Kiều trên miệng, súng trên tay.

Đọc những dòng này chúng ta lại nhớ tới một Tố Hữu thời “Từ ấy” vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng.

Cảm xúc thơ Hoàng Nhuận Cầm non tơ và tinh nhạy. Trong tâm hồn anh chất liệu đời sống xen lẫn với chất liệu rút ra từ sách vở nhà trường, thực và mơ đan nhau. Sách vở đã chuẩn bị cho rung cảm việc đời khi anh chạm vào thực tế. Các anh bộ đội chống Mỹ, hành quân qua đèo Ngang, ai cũng bâng khuâng một nỗi niềm thương nước. Nỗi niềm bâng khuâng ấy được bắt đầu từ một bài thơ của bà huyện Thanh Quan học ở nhà trường. Hoàng Nhuận Cầm cũng vậy, những gì của thời đi học, cảm xúc về văn học, lịch sử, địa dư… như cùng cộng hưởng với những việc anh gặp ngoài đời, dọc đường ra trận, mà ngân vang không dứt trong tâm tưởng. Nếu không được đọc, được học những gì về Huế từ những ngày đất nước chia cắt thì làm sao đêm 23 tháng 3 năm 1975, khi tiến vào Huế vừa giải phóng, Cầm đã có ngay được cảm xúc rưng rưng ghi nguyệch ngoạc trong sổ tay nhật ký: Con đến hôn Huế bằng chính đôi môi xương thịt của mình. Đêm nay ngủ ở nhà trong thành Huế. Đã đứng dưới cờ Phu Văn Lâu. Đêm không thể ngủ. Ở một trang khác mấy câu thơ chưa thành bài: Đứng trước hồ Tĩnh Tâm lòng không yên được… Sau này Hoàng Nhuận Cầm đã viết một bài thơ dài về Huế Giữa hai hàng lục bát, trong đó chúng ta gặp lại cái rưng rưng ấy của Cầm:

Mắt tôi nhoà giữa chợ Đông Ba

Hôn một cái vội vàng trên đập đá.

Chân vấp ngã mấy lần bên Vĩ Dạ.

Một câu hò ai đã đỡ tôi lên.

Phu Văn Lâu giờ phút ấy oai nghiêm

Hồ Tĩnh Tâm ngàn sen hồi hộp thở,

Mắt rơm rớm bà con Huế ngó,

Ngôi sao vàng trong gió cuốn thiêng liêng.

Khi Hoàng Nhuận Cầm đã là anh bộ đội thì Trần Đăng Khoa còn là chú bé học trường làng. Họ chênh nhau bốn tuổi nhưng trong thơ anh bộ đội Hoàng Nhuận Cầm thì đầy những trò chơi, cùng ý nghĩ của tuổi học trò. Và trong ý nghĩ học sinh của em Trần Đăng Khoa thì bao nhiêu lần hiện ra anh bộ đội. Thành ra anh bộ đội trong thơ Cầm và trong thơ Khoa đều giống nhau ở cái chất học trò, cái vẻ dễ thương của tuổi vừa lớn lên. Anh bộ đội trong thơ Khoa: Chú đi gánh nước, chú ngồi đánh bi. Hòn bi ấy cũng vừa mới lăn hết vòng tuổi nhỏ ở anh bộ đội trong thơ Cầm. Anh bộ đội ấy ra trận, trong ba lô còn có một hai ba giọng hát chú ve kim và khi chốt trên đồi cao điểm sau lúc nguỵ trang công sự, lại ngồi lắng nghe tiếng chim kể chuyện, những con chim quen thuộc của tuổi thơ, của cổ tích và cả những gì thuộc về đất nước đã thấm vào máu thịt tự bé thơ. Tiếng kêu con cuốc chạy về quả tim.

So sánh anh bộ đội trong thơ Hoàng Nhuận Cầm với anh bộ đội trong thơ kháng chiến chống Pháp: Quân đội ta càng trưởng thành thì tâm hồn mỗi người lính lại càng trẻ trung hơn. Vẻ tươi sáng, hồn nhiên, tự tin của những tâm hồn ấy chính là sản phẩm của những năm hoà bình xây dựng ở miền Bắc. Họ yêu ruộng đất xóm làng nhà máy, nhưng cũng biết yêu những tà áo xanh đung đưa trong quả thị, những đầu voi chín ngà và ngựa chín hồng mao. Với họ, câu Kiều cũng cần thiết như vũ khí, như súng trên tay:

Con sẽ chết như bạn bè con thế đấy

Với câu Kiều trên miệng, súng trên tay.

Nhưng súng đạn không bao giờ là ý nghĩ duy nhất của họ dù đang trên đường ra trận. Bên súng đạn là bao nhiêu ý nghĩ tươi xanh về cuộc đời, những dự cảm về tương lai. Hoàng Nhuận Cầm hồn nhiên đặt chung trong một vần hai thái cực của đời sống.

Chung quanh đây nhiều hố bom rách nát

Chung quanh đây nhiều chồi non dịu mát.

Và Hoàng Nhuận Cầm cũng không hồn nhiên chút nào khi gặp lại hai thái cực ấy trong một dạng khác.

Đêm đêm,

Tiếng pháo kích từ thành cổ vọng về đây…

Lửa đốt nương cháy suốt ngày,

Tàn tranh rơi như lông ngỗng trong thần thoại,

Phủ đầy lên mâm pháo lên mũ sắt,

Khói bay,

Phủ đi những lô cốt giặc

Tôi như muốn khóc:

Mẹ ơi!

Mẹ đốt nữa đi,

Rồi lúa khoai sẽ mọc,

Mùa ngô rồi vàng lắm, mẹ ơi…

Ánh lửa đốt nương tần tảo kiên nhẫn của bà mẹ đợi gieo trồng giữa vùng đất đang diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và địch, một điều gì đấy thuộc về ý nghĩa lớn lao của cuộc đời làm chói lòng người viết: Tôi như muốn khóc. Đấy là giọt nước mắt của sự trưởng thành, nó là dấu hiệu cho thấy phía sâu xa trong những cảm xúc ngỡ như hồn nhiên của Hoàng Nhuận Cầm. Trong bài Nghe chính uỷ hát sau trận đánh viết năm 1975, Hoàng Nhuận Cầm đã biết lắng nghe, không phải chỉ bằng cả trái tim mình cái tiếng hát cất lên từ một người chính uỷ đã bạc phơ mái tóc:

Cái bàn tay to thô,

Vỗ vào đùi nhẹ hát,

Mùi bộc phá bỏng rát,

Cũng theo vào bài ca,

Đồng bằng kia đâu xa,

Đau đáu ngày hẹn gặp,

Lời ca bay lên mắt,

Rồi lại lặn xuống môi,

Người hát đã qua bao nhiêu từng trải khốc liệt của đạn bom sống chết, ông kín đáo giấu cảm xúc của lòng mình trong tiếng hát, người viết đã phát hiện được cảm xúc ấy và cũng thể hiện một cách kín đáo trong câu thơ của mình. Ý nghĩa nhân tình của bài thơ này rất thấm thía, nó cho thấy tính chất phong phú của thơ ca đánh giặc thời chống Mỹ của chúng ta.

Hoàng Nhuận Cầm xuất hiện cùng lúc với nhiều người làm thơ trẻ trong và ngoài quân đội. Năm anh được giải nhất của báo Văn nghệ trong một cuộc thi thơ (1972-1973) cũng là nhất với ba bạn khác trong đó thì hai cũng là bộ đội như anh (Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu). Giữa đông đảo như vậy mà Cầm được bạn đọc nhớ tới, vì anh đã sớm có nét riêng, nét riêng ấy là chất tâm hồn ở thơ Cầm. Đây là một ưu điểm đáng quý vì trong những năm ấy do sức hấp dẫn mãnh liệt của những sự kiện, trước vẻ bi hùng lớn lao của cuộc sống đánh giặc, nhiều cây bút đã để phần việc của đời lấn phần hồn của thơ trong sáng tác của mình. Muốn vươn tới cái vĩ đại cao cả của hiện thực, nhưng lại để thiếu đi cái thầm lặng gốc rễ của cảm xúc, thơ thường bị khô. Hoàng Nhuận Cầm tránh được nhược điểm ấy. Thơ anh luôn có cái rưng rưng non xanh của tuổi mới lớn, háo hức trước tương lai và bâng khuâng trong kỷ niệm. Hoàng Nhuận Cầm lấy cảm xúc làm cứu cánh cho tứ thơ, anh chịu lắng nghe để viết những cái thực sự mình có, thực sự là mình. Viết như tâm sự, chân thành như tự thú:

Thôi xin chào mười năm học phổ thông,

Cánh hoa phượng cuối cùng thương mến nhất,

Một chấm đỏ rung rung trên lòng đất,

Tuổi khăn quàng, phấn tráng, nắng vô tâm

Không phải không có lúc hồn thơ Hoàng Nhuận Cầm bị đắm đuối vào những cảm xúc mơ hồ, khơi gợi những rung cảm ngòn ngọt đã quen mòn, thậm chí có khi là những cảm xúc đã bị chuyền tay qua nhiều người viết.

Và trong khuynh hướng khai thác chất liệu của Hoàng Nhuận Cầm (từ sách vở, từ kỷ niệm, từ những “cái nên thơ”…) dễ dẫn đến sự né tránh những chất liệu mới thật sự của đời, sống sít, phức tạp chưa hợp với khẩu vị quen thuộc của thơ, do vậy, sự khai thác, sức đi tới táo bạo của nhà thơ bị hạn chế. Chính vì thế khi đọc được câu thơ “Lính tráng cởi truồng vượt sông đón tết”1 chúng tôi thấy được sự cố gắng của tác giả trong việc xáp vào hiện thực, mặc dù ý thơ này chưa hẳn là mới (tuy vẫn còn là bạo), ba mươi năm trước anh bộ đánh Pháp đã nói rồi2.

Có lẽ chính Hoàng Nhuận Cầm cũng ý thức cái sở trường, sở đoản trong lối viết của mình, nên sau khi trở lại trường đại học, anh thay đổi bút pháp: câu thơ lạ hơn, tứ thơ phức tạp hơn, cảm xúc có phần rắc rối hơn, đôi lúc thành khó hiểu, thậm chí kỳ quái. Chặng tìm tòi mới đó của Hoàng Nhuận Cầm có thể chưa đến cái đích mà anh muốn, nhiều bài đã bị gạt lại ngay từ ngăn kéo biên tập viên các toà soạn. Những trồi trụt ấy cũng ít ai tránh khỏi. Bạn đọc có thể chưa chấp nhận bài này bài khác, hay hơn nữa có thể phản đối một khuynh hướng tân kỳ nào đó mà anh đang ham thích, nhưng chưa ai dám vội vã kết luận là anh đã dừng lại. Anh vẫn đang còn nhiều thời gian trước mặt, anh thuộc vào loại trẻ trong số các cây bút trẻ bấy giờ. Một bản năng nhạy cảm, một sự hiểu biết đời sống ngày một sâu, cộng với một kiến thức văn hoá và văn học ngày càng vững vàng là những yếu tố để chúng ta chờ đợi những thành công mới của Hoàng Nhuận Cầm.

VŨ QUẦN PHƯƠNG

_____________

Câu này khi in báo đã được sửa lại cho “nhã” hơn: Lính tráng cởi trần

Qua sông mà chẳng có đò/ Phần lo làm mảng, phần lo cởi quần/ Quản trị xếp súng xếp chăn/ Kiễng chân đẩy mảng hò quân sang bờ/ Anh kia áo vén thập thò/ Áo quần nhất bọ còn lo ai cười.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.