Lâm Thị Mỹ Dạ và những bài thơ đi cùng năm tháng – Hoàng Thị Thu Thủy

VHSG- Thế kỷ XX có một thế hệ những nhà thơ nữ với những tên tuổi quen thuộc với độc giả: Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến, Phi Tuyết Ba, Bùi Kim Anh, Lâm Thị Mỹ Dạ (LTMD)… Mỗi nhà thơ nữ để lại một nét riêng trong sáng tác của họ và họ đã làm nên bề dày, sự phong phú cho thi ca Việt trong hơn một thế kỷ. Nhà thơ LTMD được số lượng đông đảo độc giả biết đến bởi những vần thơ với những rung cảm đầy nữ tính; bởi sự tinh tế, giản dị, và tài hoa. Đặc biệt, chị có bài thơ Chuyện cổ nước mình được đưa vào giảng dạy ở Chương trình Tiểu học.

LTMD đã tạo nên dấu ấn riêng trong lòng độc giả không chỉ “Vì cái đẹp/ Vì thơ/ Ta sống/ Tâm hồn ơi/ Đừng hoá thạch/ Xin đừng”…(LTMD, Nguyện cầu) mà còn vì “Đàn bà làm thơ trăm cái khổ/ Thấm vào trong như cát chẳng thấy gì/ Góc khuất nào lòng người chưa thấu được/ Xin chia cùng cho bạn nhẹ chân đi”…  (LTMD, Thân phận tơ trời)

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Những nhà nghiên cứu lý giải về tài thơ của LTMD thường tìm về tiểu sử với lời tự bạch trong bài Dòng sông đen của chị, để nhận chân quy luật là nhà văn có đau ở đâu đó thì viết mới hay; nhưng nếu độc giả tìm về nơi chị sinh ra và lớn lên bên dòng sông Kiến Giang trong veo mát rượi trong những ngày hè, dữ dội trong mùa thu và mùa lũ, cùng cái chợ Tuy Lộc tuy bé nhỏ nhưng đó như là trung tâm văn hóa thu nhỏ của huyện Lệ Thủy thời chiến tranh thì mới biết chính nơi đó đã nuôi dưỡng tâm hồn LTMD. Xã Tuy Lộc, Huyện Lệ Thủy lúc bấy giờ như cái làng trong Đào Hoa nguyên ký của Đào Uyên Minh, êm đềm, yên bình và trong lành. Đứng ở nơi đây người ta có thể vận vào các câu ca dao hay nhất về làng quê Việt Nam như “Đứng bên ni đồng mênh mông bát ngát/ Ngó bên tê đồng bát ngát mênh mông… Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”… Và cái nơi êm đềm lãng mạn đó lại cũng là nơi hứng đạn bom ác liệt nhất trong chiến tranh. Máy bay Mỹ ra miền Bắc, khi xẹt qua Quảng Bình nghiêng cánh ném bom, đánh nhau ở đâu đó khi bay vào, còn bom đạn lại nghiêng cánh đổ xuống Quảng Bình. Người ta vẫn gọi vùng cán soong này là tâm điểm của đạn bom. Và chiến tranh càng ác liệt, con người nơi đây càng yêu nước nồng nàn “Xe chưa qua nhà không tiếc”, sẵn sàng quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh. Không gian đó đã làm nên những vần thơ của LTMD trường tồn cùng năm tháng: Chuyện cổ nước mình, Khoảng trời và hố bom… Không gian đó, không khí đó cũng làm nên một tính cách thi sĩ mềm mại mà dữ dội, âm thầm mà quyết liệt. 15 tuổi, LTMD đã muốn mang ba lô ra trận, không được học tiếp đại học, đắng cay mang ba lô trở về quê, nhưng không vì thế mà chị buông xuôi, mà “Ước gì cầm được cô đơn/ Ném thia lia được hóa buồn thành vui”.

Thì ra, thơ chính là cứu cánh cho tâm hồn buồn tủi của chị, là niềm tin để chị vững bước vào đời, là tình yêu để chị đơm hoa kết trái cho hạnh phúc của đời mình. Giải thích về tâm hồn biết rung cảm của mình, chị giản dị kể về kí ức tuổi thơ, lên bảy tuổi mới giật mình biết là mình có một trái tim; và từ trái tim đa cảm, đa tình chị đã viết nên những bài thơ đi cùng năm tháng, những bài thơ làm nên dấu gạch nối của các thế hệ thơ nữ Việt Nam. Thế kỷ XVIII nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương ao ước: “Có phải duyên nhau thì thắm lại”… thế kỷ XX nữ thi sĩ LTMD ao ước: “Cuộc đời em vo tròn lại/ Và/ Ném vào cuộc đời anh/ Nó sẽ lăn sâu tận đáy/ Cuộc đời anh/ Sâu cho tới tận… Cái chết/ Trời ơi / Làm sao có một cuộc đời/ Để tôi ném mình vào đó/ Mà không hề cân nhắc đắn đo/ Rằng: Cuộc đời ấy còn chưa đủ”…(LTMD, Vô đề)

Khát khao hạnh phúc bỏng cháy, cùng tâm hồn lãng mạn, đắm say đã giúp LTMD viết nên những vần thơ dịu dàng tha thiết, mang vẻ đẹp văn hóa, chở cả tình yêu thương: “Đôi làn môi con/ Nghiêng về vú mẹ/ Như cây lúa nhỏ/  Nghiêng về phù sa/ Như hương hoa thơmNghiêng về ngọn gióĐôi làn môi con / Ngậm bầu sữa mẹ” … (LTMD, Khúc hát ru người mẹ trẻ), hoặc: “Dẫu khi tắt nghỉ cuộc đời/ Trái tim mẹ giữa đất trời con yêu” (LTMD, Trái tim sinh nở); thơ của chị là nghị lực phi thường, là tình yêu thủy chung đằm thắm: “Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em!” (LTMD, Cho anh tựa vào em).

Thơ hay nhờ tứ, dù tứ thơ nói như nhà thơ Đỗ Trung Lai “là cái hình chiếu ma quái trên một bài thơ”. Tài thơ của LTMD chính là ở cái tứ. Mỗi bài thơ của LTMD đều có tứ. Bắt đầu từ tứ thơ chiếc hôn như lá, bài thơ Như lá đã triển khai mạch cảm xúc theo thi tứ mới lạ, hiện đại và nhiều khi nhà thơ đã hi sinh cả vần điệu để đạt được ý tứ sâu xa: “Nhìn lá/ cứ ngỡ là lá ngọt/ Bởi lá tơ non mơn mởn quá chừng/ Lá tươi thắm xua mùa đông rét buốt/ Hỡi chiếc hôn em có như lá không?/ Tôi đi giữa mùa non/ Sững sờ trong bao dáng lá/ Nhớ ai/ Tôi gửi nụ hôn lên trời/ Con người không có tình yêu/ Như trái đất này không có lá/ Là hơi thở đất đai không thể thiếu/ Lá dịu dàng sâu thẳm của tôi ơi! Nếu vẽ được chiếc hôn dưới mặt trời/ Tôi sẽ vẽ chiếc hôn như lá”… (LTMD, Như lá). Bài thơ Nhỏ bé tựa búp bê cũng có tứ thơ thật giản dị, tự nhiên: “Này tôi ơi, có phải/ Làm một người đàn bà/ Người ta phải nhỏ bé/ Nhỏ bé tựa búp bê/ Mới dễ dàng hạnh phúc?” Dường như nhà thơ không giấu được nỗi khao khát hạnh phúc trong trái tim đa tình và lãng mạn của mình. Khao khát hạnh phúc, chị muốn mình nhỏ bé tựa búp bê, thế nhưng người thơ LTMD khi vừa bước vào tuổi ngũ thập tri thiên mệnh thì bờ vai che chở cho chị lại bị bạo bệnh, nằm một chỗ, chị lại phải gồng mình đứng thẳng để cho anh tựa vào em. Bởi vậy, khi tiếp xúc với LTMD người ta không hình dung được mọi vất vả, nhọc nhằn, mọi lo toan bề bộn chị từng trải qua, chỉ thấy một gương mặt niềm nở, dịu dàng, khiêm tốn, nhẹ nhàng, âu đó cũng là cách chị rèn luyện cho nước mắt chảy vào trong, biết cách trở về với chính mình: “Thả mây cho gió/ Thả xanh cho cỏ/ Thả trăng cho trời/ Tôi về với tôi”. (LTMD, Tôi về với tôi). Vẫn là bắt đầu từ cái tứ thơ, LTMD đã đưa độc giả đến với cuộc đời của người phụ nữ từ khi là thục nữ hồn nhiên đến thiếu nữ thả chùm tóc bạc và may có đứa bé với trái tim thơ dại đưa tôi về với tôi.

Thi ca là vậy, là cảm xúc, là tài năng, là lãng mạn, là đắm say. Ở LTMD hòa quyện các yếu tố đó đến tận thẳm sâu, nên trước bất cứ hiện tượng gì, bất cứ cảm nhận nào lòng chị cũng rung động, cũng thể hiện cảm xúc bằng tứ thơ tài hoa.

Nhà phê bình Hoàng Thị Thu Thủy

LTMD quan niệm: Với tôi, thơ là cái đẹp, mãi mãi như vậy. Cái đẹp là khao khát muôn đời của con người, có lẽ vì vậy mà cả cuộc đời của LTMD là cuộc trường chinh đi tìm cái đẹp. Chị giơ cao cờ trắng đầu hàng thơ bởi sau một thời gian dài chăm sóc cho chồng, không có cơ hội đi đây đi đó, chị nói rằng thơ thì phải nhìn thấy, nhìn thấy thì mới có cảm xúc, có cảm xúc thì mới viết được, không có cơ hội để tôi về với tôi theo đúng nghĩa của nó, chị sợ mình không đủ sức để chiếm lĩnh cái đẹp và bất tử hóa cái đẹp. Chị cũng tâm sự rằng: Muốn có thơ hay, theo tôi là phải sống thật với chính mình. Nhờ đó, mà những bài thơ của chị lấp lánh vẻ đẹp của nghệ thuật bởi trái tim chân thành, nhân hậu, dịu dàng…

Độc giả sẽ mãi biết ơn nhà thơ nữ tài hoa LTMD, bởi chị đã để lại cho đời những vần thơ tình dịu ngọt. Những giải thưởng trong sự nghiệp thơ văn của LTMD là minh chứng cho tài năng của chị: Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1971-1973; Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam 1981 – 1983; Giải A thơ năm 1999 của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập thơ Ðề tặng một giấc mơ; Giải A thơ – giải thưởng văn học Cố Đô (1998-2004) của UBND tỉnh TT Huế và Hội LHVHNT TT Huế; Giải 3 cho tập thơ Hồn đầy hoa cúc dại của Hội VHNT tỉnh TT Huế, 2007.  Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với chùm tác phẩm: Đề tặng một giấc mơ, Trái tim sinh nở, Bài thơ không năm tháng. Đọc thơ LTMD, ta càng hiểu thêm quan niệm về thơ của nhà thơ Xuân Diệu: “Tình yêu và thơ là hai phạm trù mà trong đó cái tuyệt vời thông minh kết hợp với cái tuyệt vời ngây thơ, là hương đặc biệt của một số tâm hồn thi sĩ và tình nhân” (Trong việc làm thơ, Văn nghệ, 5/3/1977).

         Huế ngày 6.10.2018

HOÀNG THỊ THU THỦY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *