Khi cái heo may thổi vào từng ngóc ngách của mọi con phố, những chiếc lá phượng li ti bay trong gió và chùm hoa sữa dậy hương quyện vào trái hồng lựng đỏ, là tôi biết thu đã chín mọng trong mọi khoảnh khắc này.
Ngồi bên ly Cold brew quen thuộc với tập sách còn thơm mùi giấy mới, tôi không khỏi xúc động trước một chiếc bìa ăm ắp mùa thu mà họa sĩ Đặng Tiến trình bày. Nó như gợi tôi đến một miền khác, một ký ức xa xăm dội về, nó như thúc đẩy ngón tay tôi lật chậm từng trang để thưởng thức những câu chuyện, những nhân vật mang trên mình hình hài và phận số khác nhau mà nhà văn Đăng Thị Thúy vừa cho ra mắt độc giả. Tập truyện ngắn Nắng mùa thu gồm 11 tác phẩm được Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân in ấn vào quý 2 năm 2026.

Những “người lái đò” gieo chữ vùng biên
Chầm chậm nhâm nhi những câu chuyện đầy nhân văn và đẹp đẽ giữa không khí lãng mạn của mùa thu Hải Phòng như thế này thật là một cảm giác thú vị. Xuyên suốt 11 truyện ngắn có rất nhiều mảnh đời và thân phận khác nhau trong tác phẩm gây nên khoảnh khắc lắng đọng, loang ra… thấm vào tâm thức tôi.
Tôi dừng lại ở cái tên ấn tượng đầu tiên để cảm nhận, để thấm nhuần nét đẹp vốn đã có sẵn trong dòng máu, có sẵn trong bản thể của con người Việt Nam. Cái đẹp ấy dường như còn được tôn lên rõ nét hơn trong nghệ thuật nói chung hay văn học nói riêng mà tác giả đã miêu tả. Là sự dịu dàng, là lòng nhân hậu, là nhiệt huyết của tuổi trẻ, là sự hy sinh cống hiến của nhân vật khi nhà văn Đặng Thị Thúy đã khắc họa vào Nam Ninh trong Nắng mùa thu, cô gái trẻ ấy sau khi tốt nghiệp sư phạm đã theo chỉ thị của chính mẹ mình mà rời thành phố để ra hòn đảo Vĩnh Thực công tác. Một hòn đảo vẫn còn rất hoang sơ và vắng vẻ, một hòn đảo mà đến cái ăn cái mặc của người dân nơi đây khi ấy còn thiếu thốn, thì nói gì đến cái chữ. Mới đầu cô gái còn rất e ngại, cô lo sợ trăm bề và thấy mình có phần nào thiệt thòi khi mẹ đang là đương kim hiệu trưởng của một trường trong thành phố, mà mình lại phải đến một nơi xa xôi hẻo lánh như vậy để dạy học.
Nhưng rồi Nam Ninh cũng giống như người mẹ của mình, cô đã lựa chọn cống hiến tuổi trẻ cho vùng đất đầy khó khăn ấy. Sự vất vả trong điều kiện sống lẫn công việc đã không làm vơi đi ý chí mà Nam Ninh dành cho các em học sinh ở nơi vùng hải đảo này, ý chí bắt nguồn từ ý thức trách nhiệm, từ lòng nhân hậu của một cô giáo trẻ. Khi đọc lá thư Nam Ninh gửi về cho mẹ từ nơi đảo xa, tôi đã khóc vì xúc động: “Mẹ ơi bây giờ con đã hiểu được cảm giác sung sướng khi được là người đem đến niềm hạnh phúc cho biết bao thế hệ học trò, trước đây con đã không thể hiểu vì sao bố, mẹ và các cô chú ngày xưa có thể nhận về mình những khó khăn mà chẳng đòi hỏi quyền lợi gì” trích- Nắng mùa thu.
Rồi tôi nghĩ đến cô giáo Tuy trong Mùa chim ngói, một cô giáo lớn lên ở vùng đất mỏ Đông Triều và có dị tật ở chân, khi cuộc chiến tranh ác liệt xảy ra thời chống Mỹ, mảnh bom của địch ném năm 1972 “đã cướp đi người cha của cô, vùi cô trong đống đổ nát của căn nhà lá và những đụn than nhỏ lô nhô”. Tôi đã không khỏi xúc động, có đoạn ứa nước mắt khi chứng kiến tình cảm của Hậu, cậu học trò cá biệt hét toáng lên: “cô Tuy què” khi thấy cô giáo của mình. Nhà văn Đặng Thị Thuý đã miêu tả thật cảm xúc và chi tiết khi “thằng Hậu cứ đi vào rồi lại đi ra, lòng dạ nó bồn chồn. Hôm qua, đò ra đảo lúc 11h nó cố tình đứng lại mà không thấy bóng cô. Có lẽ cô không ra thật rồi, nó chống chếnh”. Người đọc sẽ cảm nhận rõ rệt được trạng thái xúc cảm đan xen, phức tạp và đầy hối hận của một cậu học trò đang chờ đợi sự bao dung và trở lại của cô giáo mình mà không cần quá nhiều lời thoại.
Những con người ấy đã vì điều gì mà hi sinh cả tuổi trẻ, xa người thân, xa gia đình, bè bạn… để mang đến cho những đứa trẻ ở vùng đất xa xôi hẻo lánh ấy con chữ, mang đến tình thương bao la vô bờ bến. Cô Tuy đã dạy cho các em, cho Hậu không chỉ con chữ mà còn dạy các em cách học làm người “Mỗi khiếm khuyết trên cơ thể một người nào đều là nỗi đau và sự mất mát thiệt thòi của người đó. Nếu người khác vô tình nhắc đến với thái độ cười cợt và trêu chọc thì khác nào khót sâu vào nỗi đau ấy”. Bài học làm người, lòng biết ơn, sự chia sẻ và đồng cảm của người giáo viên đã gợi lên thẳm sâu trắc ẩn của một cậu học sinh cá biệt
Tôi có cảm giác tác giả đã hóa thân vào từng nhận vật, từng cử chỉ, lời nói, thậm chí từng ánh mắt lẫn nhịp thở để kiệt cùng với Nam Ninh, với cô giáo Tuy, với bà Lê hay anh bộ đội Đĩnh…
Và rồi trong đớn đau bất hạnh mà nhân vật Xuân gặp phải, ở Trở lại làm người, nhà văn đã làm tôi day dứt với nhiều ám ảnh, tôi đang đi xuyên biên giới và chứng kiến cuộc đời của Xuân, người đàn bà phải đối mặt với cái nạn buôn người đã từng nhức nhối nơi vùng đất phên giậu này. Đặng Thị Thúy lột tả sự đau đớn vằn lên trong mắt người đàn bà lưu lạc hơn hai mươi năm xứ người, chị ta sống một cuộc đời ngơ ngơ ngẩn ngẩn, một cuộc đời câm lặng và chỉ bừng tỉnh khi nghe những giai điệu đến từ quê hương mình: “ngồi rằng là ngồi (í) tựa (a) có mấy mạn (í í í í) thuyền là ngồi tựa có a mạn thuyền…”.

Những thân phận đàn bà trong Nắng mùa thu mang nhiều cảm khái buồn, vui, xót xa, hạnh phúc… mỗi người một duyên nghiệp khác nhau không ai giống ai cả. Như Đông, như Nhiên (trong Mạch Sống), như hai chị em sinh đôi nhưng lại có hai cuộc đời khác biệt nhau hoàn toàn (trong Số Mệnh), một người thì sung sướng, người kia thì bất hạnh, khổ đau… Họ dường như không cách này thì cách khác đều phải mang trên mình cái đa đoan mà cuộc đời giáng xuống, họ làm cho tôi ngờ ngợ hay là tin vào thứ gọi là định mệnh đã được thượng đế sắp đặt an bài. Nhưng không vì thế mà những người đàn bà của Đặng Thị Thúy trở nên cay nghiệt, nhà văn đã xây dựng hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn biết nhường nhịn, cam chịu, bao dung và tha thứ cho nghịch cảnh quấn lấy đời mình, họ đứng lên như cái cây bám đất mà hồi sinh từng ngày.
Tôi tiếp tục du miên mình băng qua vùng lãnh thổ biên giới bằng ngòi bút của Nhà văn để gặp Tự của ”Con chim bay lạc”, một người đàn ông từng có tuổi thơ bi kịch, hắn cũng đã cố gắng vượt qua bi kịch để tìm cho mình một hạnh phúc riêng bằng một gia đình nhỏ. Cuộc sống tuy vất vả với nghề cửu vạn bên sông, Tự mãn nguyện với cô vợ và ba đứa con khỏe mạnh của mình. Thế nhưng, bi kịch lại một lần nữa giáng xuống cuộc đời Tự khi vợ hắn bỏ chồng, bỏ con đi theo trai, người đàn ông ấy đã căm thù, đã chán nản và tuyệt vọng mà lao đầu vào rượu, hắn chìm đắm trong hơi men tưởng chừng vô bờ bến.
Và chính lúc tuyệt vọng ấy tác giả đã vô cùng nhân văn khi xây dựng nhân vật trong một lần ngủ mơ khi say, Tự đã thấy người cha nuôi của mình căn dặn” Bởi cuộc đời này đã lắm nỗi đắng cay, đừng mang đến cho người khác những gì từng làm mình đau khổ”. Thế đấy, sự tài tình mang tính hướng thiện luôn được Đặng Thị Thúy dẫn dắt khéo léo trong mỗi bối cảnh, nhân vật. Ở Tự, hắn đã thay đổi, đã bừng tỉnh như một “Con chim bay lạc” tìm được định vị vì bỗng nhiên, một khoảnh khắc mịt mù nào đó, hắn thấm nhuần lời dạy đạo đức của cha, lời dạy ấy như một ánh quang phổ chiếu sáng cái ý nghĩ tăm tối của hắn.
Tôi bỗng thấy cay mắt, cổ họng mình như có gì đang chẹn lại vì xúc động bởi sự cho đi là còn mãi của những người chở chuyến đò tri thức đến tương lai. Ngày giáp tết, mọi người còn đang tất tả ngược xuôi để chuẩn bị cho gia đình mình một cái tết đủ đầy, thì cô giáo Mai đã nhận được một món nợ từ rất lâu rồi của một người quen cũ, một món nợ “từ tám năm trước”, khi cô học trò nghèo ngày ấy có một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. “ba trăm hai mươi nghìn” lúc đó không phải là một số tiền quá lớn, cũng không quá nhỏ nhưng nó đã giúp đỡ gia đình cô học trò nghèo qua cơn bĩ cực, đặc biệt nó như thúc đẩy tinh thần cô học trò có một ý chí sống tích cực, nghị lực vươn lên để thoát khỏi cái nghèo, cái khổ của sự khó khăn, lạc hậu bao trùm lấy những mảnh đời bất hạnh như cô. Để rồi tám năm sau người học trò ấy trở lại để trả ơn người thầy của mình bằng – Những sắc nắng phương nam – thật là nhân văn và xúc động.
Có lẽ đã từng trải qua hai mươi năm công tác tại dải biên cương xanh, nơi địa đầu của Tổ quốc, đã chứng kiến biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố của mảnh đất nơi đặt nét bút đầu tiên vẽ nên hình chữ S này, mà nhà văn Đặng Thị Thuý đã rút ruột rút gan mình ra để lột tả sâu vào nội tâm nhân vật. Tôi thiết nghĩ, có lẽ biển đảo, biên giới, những con người với tấm chân tình ở nơi ấy gắn bó và trở thành một phần máu thịt, trở thành quê hương thứ hai của chị rồi, sự yêu thương chân tình ấy nó nằm ngay trong từng ý nghĩ khi xây dựng tác phẩm mà chị đau đau nỗi niềm.
Và ươm mình khi nắng lên
Mùa thu năm nay tôi rất hữu duyên khi có dịp cùng nhà văn Đặng Thị Thuý cùng đi công tác dài ngày ở dải biên cương phía cực Bắc của Tổ quốc. Chúng tôi ăn, ở, sinh hoạt và cùng nhau xuyên biên giới, thâm nhập vào các làng bản. Tôi mới thấm thía rõ rệt sự yêu thương quý trọng của tác giả đối với miền biên viễn ấy như thế nào. Chị từng nói với tôi, Hải Phòng là nơi sinh ra chị, nhưng Quảng Ninh lại là nơi gắn bó với chị suốt những năm tháng tuổi trẻ. Trước khi trở lại Hải Phòng công tác như bây giờ, chị cũng từng là giáo viên với bao nhiêu năm giảng dạy ở các trường trên đất liền và vùng đảo biên giới. Có lẽ vì vậy mà chị luôn khát khao cháy bỏng sẽ làm được những gì hơn thế nữa cho vùng đất yêu dấu này!
Xuyên suốt 11 tác phẩm trong Nắng mùa thu, tôi chợt thấy có một sợi liên kết đặc biệt giữa hồi ức và hiện tại rất rõ nét trong bút pháp của Đặng Thị Thúy. Chị đã sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để phản ánh hiện thực, lối sống và tư tưởng các nhân vật chính luôn với tinh thần lạc quan cách mạng. Từ Nam Ninh, cô giáo Tuy, anh lính biên phòng Đĩnh, thầy giáo Dương, hay là Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Dụng…, tất cả họ đều mang trong mình những khó khăn bộn bề của cuộc sống nơi vùng biên cương hải đảo, thậm chí là đứng giữa lằn sinh tử, nhưng tất cả đều mang trong mình lý tưởng sống, những tâm hồn cao đẹp sẵn sàng đem đến cho cuộc đời dải nắng mùa thu ngọt ngào tươi mát, họ đã âm thầm cống hiến và gieo những nụ mầm mới, để mai sau, những nụ mầm ấy sẽ là những cái cây trong một rừng cây xanh mướt.

Ký ức và hiện thực, sự liên kết đầy logic khiến cho người đọc không bị gẫy mạch, hẫng cảm xúc. Đặc biệt, tính nữ và cái thiện luôn luôn được kích hoạt như một mục tiêu nhân văn mà tác giả muốn truyền tải tới người đọc. Bên cạnh đó, tôi còn thấy Hải Phòng qua sự hào sảng của những nhân vật đời thường, những cô gái trẻ hiện đại, phóng khoáng như Hoa như Liên. Dù có lúc họ tuyệt vọng và chìm đắm trong cô đơn buồn bã, nhưng những cô gái khí phách ấy đã vượt qua cái tôi, qua sự cảm dỗ để giữ trọn đúng tinh thần người phụ nữ Việt Nam: công, dung, ngôn, hạnh.
Gập sách lại, tôi rời quán cà phê quen thuộc để lang thang tản bộ dưới lòng phố. Con đường Trần Hưng Đạo rợp những lá vàng bay. Tôi đã đưa mình qua biết bao nhiêu cung bậc thăng trầm của cảm xúc bằng hơn hai trăm trang sách, để bây giờ lòng bỗng nhẹ tênh đến lạ kỳ. Thành phố tôi hôm nay sầm uất với những cửa hàng, những dãy nhà cao tầng mọc lên san sát, những gương mặt lướt qua tôi mang biểu cảm hoàn toàn thân thiện. Phải chăng, khi con người ta thanh thản thì mọi thứ chạm đến với mình cũng thật là dịu dàng, nhẹ nhõm.
Đôi chân tôi cứ lang thang như thế đến dải trung tâm thành phố, kia là cột cờ Tổ quốc, kia là Quán Hoa, kia là quảng trường Nhà Hát Lớn, một biểu tượng vô cùng ý nghĩa của thành phố với kiến trúc kiểu Pháp. Lòng tôi ngập tràn niềm xúc động, nơi đây hơn 70 năm trước đã diễn ra trận chiến khốc liệt cuối cùng, trận đánh sinh tử của những người con của Hải Phòng với thực dân Pháp. Biết bao nhiêu xương máu của cha ông ta đổ xuống để bảo vệ tòa nhà này, từng tấc đất, từng con phố này. Tôi bước vào khán phòng, rờ tay vào “vết lõm tròn, sâu và lạnh”, như Đặng Thị Thúy đã miêu tả trong Lỗ thủng giữa lô ghế F. Đâu đó tôi mơ hồ mường tượng ra người Nghệ sĩ già Quốc Dụng đang nhòa đôi mắt của mình đi vì xúc động khi tiếng vĩ cầm cất lên trong vở diễn Khúc tráng ca màu đỏ.
Nhà văn Đặng Thị Thúy sinh năm 1977, hiện là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng; Chi hội phó Chi hội VHNT các DTTS Việt Nam TP Hải Phòng. Tính đến thời điểm này, Đặng Thị Thúy đã xuất bản 6 đầu sách riêng ở nhiều thể loại gồm: truyện ngắn, bút ký, nghiên cứu văn hóa dân gian và tiểu luận phê bình. Trong hành trình hơn 30 năm gắn bó với nghề viết, chị đã đạt được rất nhiều giải thưởng văn học như: Giải thưởng Cuộc thi Sáng tác Văn học Trẻ báo Hạ Long (2006, 2007); Giải thưởng Tạp chí Cửa Biển (các năm 2014, 2015, 2019, 2020); Giải thưởng Liên hiệp Các Hội VHNT Việt Nam (2019); Giải thưởng Hội VHNT Các DTTS Việt Nam (2023); và nhiều giải thưởng khác của các Bộ, Ban ngành Trung ương và các địa phương.
Đọc tập truyện ngắn Nắng mùa thu, tôi lại nghĩ đến những điều Đặng Thị Thúy từng tâm đắc khi nói về nghề viết: “Nghề viết văn giống nghề dạy học ở điểm căn cốt nhất: Nó đòi hỏi người làm nghề phải là người thực sự tử tế, phải thực sự tận hiến bằng lương tâm và đam mê nghề nghiệp, nó thôi thúc người làm nghề phải luôn tự hoàn thiện nhân cách và nâng cao năng lực của chính mình”. Ngòi bút eo hẹp của tôi lúc này không thể nào lột tả hết những nguồn cơn đang chảy trong tâm trí; những dòng cảm nhận dường như cũng chưa thể dừng lại sau khi đi qua 11 cung bậc cảm xúc mà Nắng mùa thu mang đến.
Tôi tin rằng, tập truyện ngắn đầy xúc động này sẽ đến với độc giả như một món quà tinh thần đẹp đẽ. Bởi giữa những bộn bề, đôi khi con người chỉ cần một chút nắng dịu, một chút gió heo may, một câu chuyện đủ chân thành… để lòng mình chậm lại, để biết yêu thương và gần gũi nhau hơn. Và có lẽ, đó cũng chính là điều còn ở lại lâu nhất sau khi trang sách cuối cùng khép lại: một vệt nắng mùa thu dịu dàng, đủ ấm để thắp sáng một góc tâm hồn người đọc.
LÊ NHI

















