Nét độc đáo trong “Thủ thỉ phù sa” của Nguyễn Đinh Văn Hiếu

Hiện nay trên thi đàn xuất hiện khá nhiều tập thơ 1-2-3. Tác giả Nguyễn Đinh Văn Hiếu ở Trà Vinh cũng là một nhân tố góp phần lan toả thể loại thơ này với tập thơ đầu tay “Thủ thỉ phù sa do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Đặc biệt, trong tập thơ này tác giả dùng đến hơn hai trăm từ láy. Trong đó chỉ có mươi từ được lặp lại. Một nét độc đáo…

Nhà thơ Nguyễn Đinh Văn Hiếu

“Thơ 1-2-3 mỗi bài thơ là chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn, 6 câu. Đoạn 1 chỉ có 1 câu gồm tối đa 11 chữ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ hoặc ít hơn. Còn đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ hoặc ít hơn…”. Chúng ta luôn bắt gặp những dòng này trước mỗi chùm thơ 1-2-3 được đăng trên website vanhocsaigon.com.

Thơ 1-2-3 có sức lan toả mạnh mẽ trong thời gian qua. Nó được nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp nhắc đến trong bài “Những cú hích lịch sử – văn hóa và sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại” được trình bày ở Hội thảo Văn học quốc tế: “Những năm đầu thế kỉ XXI cũng xuất hiện một số hiện tượng đáng chú ý nhằm tạo sự gắn kết với mĩ cảm công chúng nghệ thuật đương đại như thơ sắp đặt, trình diễn, tân hình thức, thơ 1-2-3…”

Có thể cho rằng người sáng lập thể thơ này đã bắt kịp xu thế thời đại. Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của người viết lẫn người đọc. Nhìn từ góc độ người viết, loại thơ này không khó để tuân thủ theo luật. Chỉ có 6 câu luôn cả tựa đề thì thật không mất thời gian nhiều đọc, để cảm một bài thơ trong sự bùng nổ mạnh mẽ của thời đại internet như hiện nay. Nhưng không phải vì ngắn mà dễ viết, dễ chuyển tải. Không phải vì ngắn mà đọc nhanh, không có gì đọng lại. Muốn có được bài thơ hay cũng phải lắm công phu.

“Thủ thỉ phù sa” là tập thơ đầu tay của tác giả Nguyễn Đinh Văn Hiếu được viết hoàn toàn theo thể thơ 1-2-3. Sách dày 139 trang với khoảng hơn trăm bài thơ được in khổ 14x14cm, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp phép đầu năm 2022. Bìa sách thanh nhã với gam màu nhẹ nhàng, đơn giản. Người đọc cũng cảm thấy thoải mái khi xem từ trang đầu đến trang cuối của tập sách như đang trôi bồng bềnh nhè nhẹ trên sông nước Cửu Long quê hương tác giả.

Có lẽ vì “Trà Vinh là xứ ruộng, giồngRừng xanh, biển rộng, nhiều sông, lắm vườn.” nên tác giả đã dành rất nhiều trang trong tập thơ này cho không gian rừng, biển, sông, vườn quê mình. Như “Con nước lớn ròng con nước đầy vơi” trong bài “Gió thổi phía triền sông má bước”. “Đêm Tân Quy ngồi mạn xuồng nghe kể bối trên sông…/ Nâng chén rượu ngang mày uống phù sa cạn cùng bồi bãi”. “Con sông Cần Chong ngăn ngắt mấy lời thề/ Tối thủ thỉ nước lớn ròng nuôi sông đắp đổi phù sa”.

Tập thơ “Thủ thỉ phù sa” của Nguyễn Đinh Văn Hiếu

Hình ảnh sông nước còn được tác giả nhắc đến trong nhiều bài thơ khác.

Hình ảnh quen thuộc của làng quê với những cây cầu khỉ đong đưa, vườn cây trái sau nhà hay cánh hoa dầu xoay tít… đã trôi vào dĩ vãng lại hiện lên trong thơ thật tự nhiên như không sắp đặt, cố ý. “Lang thang ngắm rừng trong phố” có “cánh hoa dầu xoay xoay miền ký ức”.“Anh nhắm trốn tìm cho tuổi thơ đi trốn”. “Cùng nhau đua đi qua cầu khỉ đong đưa/ Trèo cây hái trộm, ổi vừa ra hoa”.

Ai đã từng đến Trà Vinh chắc cũng mải mê với bãi biển Ba Động, với bờ với sóng dỗi hờn. “Em lạc giữa chiều Ba Động mênh mang…/ Sóng đâu biết bờ dỗi hờn, cát lặn lòng khơi thăm thẳm”.

Người con miền Tây Nam bộ có câu hò giao duyên đắm đuối là đặc sản miền sông nước quê mình. Và những tuồng tích cải lương, những tên tuổi đã làm nên di sản văn hoá đã ăn sâu trong tiềm thức của tác giả . Những câu thơ này chắc hẳn cũng làm rung động các độc giả thế hệ 7x trở về trước đã từng mê cải lương.

Tuồng tích cải lương anh thuộc nằm lòng” . “Em còn nhớ đoạn đầu tuồng cải lương Tô Ánh Nguyệt”. “Em nói với anh về cô Lựu”. “Kê ghế sát tivi cho nội ngồi xem Minh Vương”. “Sân khấu sáng đèn em hoá lung linh”. “Vai tuồng nào cho đời em

Rất nhiều ngôn ngữ hoặc hình ảnh rặt Tây Nam bộ được tác giả sử dụng trong tập thơ. “Hí ngựa ô ngoài ngõ đón em dìa”. “Giờ ai cũng ghiền hát lý chim quyên”. “Bậu ơi bậu hỡi ơi tình tang”. “Qua gọi cưng thời cưng có ưng?”. “Qua để ý hai từ lúc mẹ mang”. “Trọng trọng tuổi rồi vẫn mong đừng dứt sữa”. “Ba hồn bảy vía…”

Nhà thơ Trần Nhã My – tác giả bài viết

Có lẽ là giáo viên chuyên ngành văn học nên tác giả hiểu rõ công dụng của từ láy hay vì cái mênh mang sông nước bình dị đã tự nhiên chảy mãi như những từ láy bồng bềnh trong thơ. Tác giả dùng khá nhiều từ láy để tả cảnh, tả tình hay biểu đạt cảm xúc, tâm trạng của mình. Trong tập thơ này tác giả dùng đến hơn hai trăm từ láy. Trong đó chỉ có mươi từ được lặp lại. Một nét độc đáo!

Ví như bài thơ  “Ngạch cửa má ngồi chờ đợi đứa con xa”

Ngạch cửa má ngồi chờ đợi đứa con xa

Tất bật bôn ba nơi phố thị phồn hoa vật vã

Nước mắt, mồ hôi vãi rơi bấp bênh nơi xứ lạ

Lê la đêm Sài thành lăng lặng người ngắm bóng trăng rơi

Chợt nhớ ánh trăng quê nhà nhập nhoạng ngạch cửa má ngồi

Nhoi nhói khung trời vô định, tái tê lòng – trăng khóc.

Các từ láy tất bật, vật vã, lê la, lăng lặng, nhập nhoạng, nhoi nhói trong bài thơ nhấn mạnh nỗi vất vả mưa sinh của đứa con xa nhà xa quê. Làm cho hình ảnh đứa con xa xứ được khắc hoạ đậm nét hơn, khổ sở hơn… khi nỗi nhớ má dâng lên da diết trong lòng. Nỗi nhớ quay quắt trong lúc khổ đau vật vã khiến lòng nhoi nhói cơn đau, cơn nhớ. Nơi phố thị lặng lẽ nhìn bóng trăng rơi nhớ trăng quê nhà. Người nhớ dưới ánh trăng quê nhà má ngồi ngạch cửa chờ con phương trời xa. Người khóc nhoè ánh trăng hay trăng khóc thương người xa xứ nhớ quê, nhớ má. Vỏn vẹn với 6 câu thơ luôn tựa bài, tác giả biết kết hợp nhuần nhuyễn các từ láy làm cho bài thơ trở nên độc đáo. Ngoài ra, từ láy trong mỗi câu thơ trên cũng góp phần tạo nên nhịp điệu thơ nhẹ nhàng, chậm rãi như dòng nước lững lờ trôi êm, như phù sa thủ thỉ…

Hiện nay trên thi đàn xuất hiện khá nhiều tập thơ 1-2-3. Tác giả Nguyễn Đinh Văn Hiếu cũng là một nhân tố góp phần lan toả thể loại thơ này.

Bờ đông Vàm Cỏ, ngày 22.3.2022

TRẦN NHÃ MY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.