Ngọn đuốc sáng giữa đêm phù sa châu thổ

VHSG- Nếu như, bạn đã cảm nghiệm sâu sắc đời sống con vật, cây cối qua những tập Kiếp Ba khía, Đời Bọ hung, Bông trái quê nhà, … cho đến nét đẹp thâm trầm in dấu thời gian của người Việt lưu dân trên vùng đất mới; sau nữa, chắc bạn đã nghe thấy hồn cốt phương Nam thâm trầm mà sự tươi mới và sức sống bền bỉ còn in đậm trong đời sống sinh hoạt, chiến đấu của con người Nam bộ; thì hẳn bạn cần phải tìm đến Mùa hoa nắng để cảm nghiệm vẻ đẹp hiếm có của mối tương giao trời đất nhiệm màu, đơm ra những bông hoa tươi tắn như nụ mai bung vỏ lụa trổ vàng đón xuân. Mùa hoa nắng ấy là hoa hay là người?

1. Cảm thức siêu hình từ loài cỏ cây

Ba truyện đầu nói về ba loài hoa: Cỏ May, Cỏ Mực, Xấu Hổ. Có lẽ bạn sẽ cảm thấy ba câu chuyện này dường như nằm ngoài cấu trúc chỉnh thể của tập truyện. Nhưng, nếu bạn nhận thấy cảm thức siêu hình hay Siêu hình luận về Thể xác (Dụng/Khí) và Thể phách (Thể/Lý) hay Tiên và Tục, chắc bạn sẽ nhận thấy đây là sự khai mở cho việc diễn hoạt biện chứng Tam Tài trong phần sau.

Tập truyện ngắn “Mùa hoa nắng” của Trần Bảo Định do Nxb Tổng Hợp TP.HCM ấn hành tháng 10.2020

Kể về các loài cây cỏ, Trần Bảo Định có thể khiến người ta kinh ngạc về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tri kiến thực vật học với các truyền tích dân gian, nhào nặn trong trí tưởng tượng giàu ưu tư của tác giả để hình thành các tình tiết/chi tiết của lời kể. Đó là câu chuyện cỏ may nặng lòng (Tình) với chàng lau rồi đa mang tính mệnh bám víu. Chuyện trinh nữ ngã nghiêng trước mưu toan Mai Dương mà lập thành thể tính xấu hổ (Tính). Hay như Màu mực em, cảm thức về con “tiểu quỷ” của Freud khiến người ta nghĩ đến vấn đề tính dục (tục) sẽ trở thành nguy cơ loạn tâm, đảo điên sinh hiện. Đáng nói ở chỗ cỏ mực đã phản tư (hồi tưởng cố quận) về chính cái tục đó (Tâm). Tự thân cỏ mực đã trở thành phản cỏ mực/phi cỏ mực; cùng một lúc là A và Phi-A (vượt lên trên luận lý Aristote) để lập thức. Bởi vậy chỉ có cỏ mực nhìn ra hiểm họa thần trí điên loạn, sinh hiện đảo điên. Nguy cơ này ắt hẳn không chỉ gói gọn trong câu chuyện mà còn có tính dự cảm về sự mục ruỗng cùng đường của nhân sinh đầu thiên niên kỷ thứ III khi mà các hệ giá trị lần lượt bị phá hủy và sụp đổ (chẳng phải đó là buổi hoàng hôn mà Nietzsche đã nói đến hay sao!). Biểu hiện của nó là sự tẩy trừ/chối bỏ của triết học phương Tây đương đại, sự ngụy tín của xã hội con người trên khắp các châu lục, văn chương đi đến phản văn chương, …. Sự thất bại của Aristote, sự thất bại của Nietzsche, sự thất bại của Freud, sự thất bại của Sartre, sự thất bại của Heidegger, sự thất bại của Beckett, sự thất bại của Grillet, …. khi tất cả cùng đi nhặt nhạnh từng mảnh tim người nhưng ai nấy đều bất lực trong việc hồi sinh trái tim nhân tính đó. Nhưng, Cỏ May, Cỏ Mực và Xấu Hổ đã tìm đến chỗ an nhiên/an vi sau bao trận cuồng phong trời đất. Vì sao vậy? Bởi do đã cảm ứng được lẽ dịch biến của thái nhất xoay vần. Dịch đi từ nội phân dựa trên dị biệt tính tự tái. Nghĩa là một khi phá bỏ luận lý nhất nguyên, rơi vào tác loạn nhị nguyên, nghĩa là động, động thành hai, thành ba, thành năm, thành tám, thành sáu mươi tư, …. Câu chuyện Bông cỏ may sau rốt chỉ còn lại tiếng lòng của người con gái. Tiếng lòng khởi đi từ sự thấu cảm của người viết trước loài cây cỏ. Điều này càng cho thấy cảm ứng siêu hình Tâm-Tính-Tình lần lượt sẽ diện hoạt phân dạng ra khắp cõi nhân sinh. Đây là phép phân dạng mà Tây phương mãi đến hậu bán thế kỷ XX sau Thiên chúa mới nhìn thấy qua hình học phân dạng (Fractal Geometry); nhưng từ lâu lẽ dịch của Việt tộc đã cất giấu trong đó Mô thức/hình học phân dạng của muôn loài trong cõi trời đất. Vậy nên, điều mà tác giả mang lại không phải chuyện cổ tích hay thần thoại về loài cây cỏ; kỳ thực là một cảm thức siêu hình về vòng tuần hoàn của sinh hiện.

2. Thủy tính hay khí phách người phụ nữ Nam bộ. 

Nước tự trong bản thân nó vừa có tính nhu thuận thiên về âm. Bởi vậy nước chảy xuôi, tràn lấp, thấm nhuần. Yếu tính của nước còn có sự bao trùm, nhấn chìm. Khí khách của nước có thể đến mức “tức nước vỡ bờ”. Nghĩa là nước đến cực hạn nhu thuận chuyển hóa thành sức mạnh (trong âm có dương trong dương có âm). Nước gần với Đạo nên thuận theo Đạo. Phàm cái gì nghịch đạo cũng là nghịch nước. Nghịch nước sớm muộn gì cũng bị quật ngã, nhấn chìm (Năm Thẹo hoàn toàn khuất phục trước lòng vị tha của bà Tư Vạn). Sức tiêu diệt cũng như khai thiên của Hồng Thủy bao đời đã minh chứng.

Trong Mùa hoa nắng, nhân vật nữ vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Người đàn bà Nam bộ mang trong mình yếu tính của nước với khí phách bội phần Hồng Thủy. Một đằng giữ lấy sự thuần nhất khai nguyên của con nước tác tạo sự sống. Một đằng thịnh nộ bão giông nhận chìm bất công/bất nghĩa/bất nhơn. Nước biểu hiện cho cơ chế điều hòa cân bằng và bảo toàn của Đạo. Hai người đàn bà ở gãnh Mù ù có lẽ đã đi đến tận cùng của đạo Nhơn giữa thiên địa. Má Hai trong Tết Ông Tý đối diện với lão Xệ yêu râu xanh, má không giận bừng bừng như lửa. Má vẫn giữ được sự bình tĩnh. Khí phách của má chính là thái độ bình tâm dứt khoát sắp xếp việc nhà, chuẩn bị cho gia đình sẵn sàng chống trả cái ác. Và trong tâm của má, cơn đại Hồng Thủy đã dâng cao tới đỉnh điểm. Bà Tư Thịnh, Bà Tư Vạn, Cô Năm Hạnh biểu tượng cho khí phách của người phụ nữ cũng chính là khí phách của nhân dân. Và, văn xuôi Trần Bảo Định đi vào lòng người cũng bởi vì khí tiết xuất phát từ chính tấm lòng trọng nghĩa của nhân dân (nhân chủ) chứ không hề dựa trên bất cứ ý thức hệ của chính thể nào.

Như đã nói, biểu hiệu khí phách của người đàn bà Nam bộ là cơn hồng thủy trước bọn cường ác, đồng thời là con nước lớn ròng đong đầy tình quê. Một tiếng phải nghĩa, đáng giá ngàn vàng. Sáu Xe và Sáu Dũng một tiếng thành vợ chồng. Cái ngàn vàng phải gửi chỗ Nghĩa. Vì Nghĩa đó là nghĩa lớn. Nghĩa trong căn cơ là vì người. Đằng này nghĩa với quê hương. Nên đó là khí phách của người nữ trao gửi nghĩa lớn đối với giống nòi. Má Bảy lẫn Sáu Xe đều nguyện ý thu xếp cho yên việc nhà để Sáu Dũng tòng quân. Nghĩa lớn gộp với tình người, những người đàn bà Nam bộ ấy chính là từng con rạch cái mương âm thầm chuyên chở dòng nước quê hương, ngàn đời tưới tắm và dung dưỡng cố thổ quê nhà, làm cho mảnh đất đau thương nở ra bông trái ngọt lành.

Thế chẳng phải bên ngoài tượng mềm yếu (âm tính) nhưng bên trong cương kiện chánh trực (dương tính) – là nước đó sao! Người phụ nữ Nam bộ đã bẩm thụ con nước quê hương chằng chịt từ thuở tấm mẳn đến khi xế chiều. Tự trong bản mệnh đã có căn tính của nước. Phải chăng chính thủy tính đó đã dạy cho Việt tộc biết cách ứng phó với vó ngựa hiếu sát cướp bóc từ phương Bắc và súng đạn bất nhân từ phương Tây. Khí phách của Nước cứ trụ ở trời Đông Nam đối chọi với Tây Bắc lập thành cán cân thiên địa. Lại nói, từ thuở chúa Nguyễn vào Đàng Trong, yếu tính của Việt tộc cũng theo chân, để con nước Việt tộc chảy mãi đến vùng đầm lầy cuối nẻo. Đến đây, ta có thể hiểu được nguồn cơn khí phách của người đàn bà Nam bộ. Có thể tôn xưng đó là hồn cốt Thủy nữ của Việt tộc trong hình bóng của Tư Thịnh, Tư Vạn, Năm Điền, Năm Hạnh, Sáu Xe, Bảy Nhơn,… và còn biết bao nhiêu hình bóng khác còn lẩn khuất giữa đêm phù sa châu thổ nghĩa tình.

Nhà văn Trần Bảo Định

3. Nữ tính hay muôn ngàn rễ giữ gốc, giữ đất quê nhà. 

Có lời bàn “Nhà khó cậy vợ hiền”, bởi vậy gốc làm sao thiếu rễ. Và rễ có sâu, gốc mới vững. Trần hiền nội đối với Tiến sĩ Phan cầm bằng như rễ cả cắm sâu thủ tiết cho người trai trả nợ tang bồng. Lại nói, bà Hai Cúc (?) với bà Tư Thịnh quả đúng là từng búi rễ bền chặt giữ gìn hương lửa và đất đai cố thổ quê nhà. Hai người đàn bà ấy sống trọn vẹn và đi đến chỗ tận cùng của Tình và Nghĩa.

Chịu đựng hy sinh để giữ gia đình, giữ quê hương làng xóm, giữ phong tục nếp nhà, giữ lề thói ăn ở, giữ cốt cách nhân nghĩa; người phụ nữ trong gia đình còn là điểm tựa cho chồng con trong đời sống hằng ngày cũng như các sinh hoạt xã hội. Hơn nữa, người phụ nữ là rễ bởi vì đã dung dưỡng và tạo động lực cho chồng con sống trọn vẹn tình nghĩa với quê hương, giống nòi. Còn nhớ, má Hai mới cầm chắc tay tía Hai mà nói: “Đe ai thì đe, dọa ai thì dọa; nhưng với mình, thì đe dọa cũng bằng không!” (Tết Ông Tý). Họ chính là từng nhánh rễ nhỏ bé để góp phần tạo nên sự kiêu hùng vĩ đại của đấng mày râu. Bao nhiêu trượng phu của đất Nam Kỳ vẫn còn nợ những người phụ nữ ấy một lời tạ ơn. Càng thấy, rễ có sâu thì gốc mới vững vàng. Công nâng khăn sửa túi của bà Năm Điền đối với Tú Chiểu: “người phụ nữ làng Thanh Ba – biết lấy tuổi thanh xuân và cả đời mình nuôi dưỡng, bảo vệ cái nghĩa lớn trong tâm hồn và trái tim người chồng vĩnh viễn không nhìn thấy mặt trời”. Chính từng cái rễ nhỏ ăn sâu vào đất (Điền) mà lời vẫy gọi lửa lòng (Chiểu) trong đêm mới thắp sáng chữ nghĩa. Chính vậy, gốc phải chịu ơn rễ. Và cái đẹp của rễ chính là vẻ đẹp thầm lặng gắn chặt với đất mẹ sâu dày.

Nhưng, vì đâu rễ có thể cắm sâu vào đất đai quê nhà ? Vì những cái rễ như Tư Thịnh, Năm Điền đã thấm nhuần nghĩa nhơn xứ sở, đã bẩm thụ thiên tính và địa tính rồi thành ra nết ăn ở đối đãi lập thành nhân tính. “Người đất này, tánh tình xởi lởi, còn ăn hết thôi nhưng, rất ghét và khinh cái bọn “nhân diện thú tâm”!”. Nữ tính – đã có một cuộc tranh luận, thậm chí có thể gọi là cách mạng ở trời Tây để giành lại cho phụ nữ quyền phụ nữ. Nữ tính hồ như là cái bị nam quyền tước đoạt. Bấy giờ đàn bà cần phải giành lại. Trước hết, họ hạ bệ Nam quyền bằng nhiều cách. Thứ nữa, họ khẳng định và bày phơi riêng biệt từng khía cạnh nữ tính. Vậy nên, nữ tính Tây phương chính là giãy thoát tách biệt, chia lìa. Ngược lại, nữ tính của hồn Việt chính là giao hòa, bồi tụ. Nữ tính này đã có bản mệnh của Việt tộc. Đi xa hơn Tây phương, nữ tính hồn Việt đã về lại căn cơ lòng mẹ (mẫu tính) mà từ đạo lập đức bản nhiên thành ra tính mệnh khai sinh và hy sinh. Hằng số nữ tính chính là thi triển đến tận cùng hai yếu tính này. Người đàn bà Nam bộ vì thế là những người đàn bà tiêu biểu cho thời cuộc và đất đai quê mình… Bởi hy sinh nên có nữ tính; vì khai sinh nên có Mẫu tính. Ấy là căn cơ bung nở hoa nắng trên khắp dải bình nguyên phương Nam.

4. Thể tính của Mùa hoa nắng

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng THỜ mẹ KÍNH cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

(Ca dao)

THỜ MẸ – Bởi vì sao vậy?

Mẹ khai sinh – là khởi nguyên, đánh dấu bước chuyển từ không thành có. Má Bảy Nhơn (vô cực/thái cực) cho đến Tư Thiệt, Năm Thà chẳng phải là con đường phiên biệt của quê hương tan rã hay sao ? Mẹ sinh ra vốn dĩ Thiệt Thà mà sau rồi phân chia, để đến mức răng môi máu chảy. Từ nỗi đau banh da xé thịt đến nỗi đau da thịt cắn xé lẫn nhau, mẹ là người chịu đựng.

Mẹ dung dưỡng – là căn cơ của sinh hiện vận động và phát triển. Nhưng sự vận động và phát triển nhiều khi ẩn chứa đối nghịch nội tại. Mặc dù trái hay phải, dù Đàng Ngoài hay Đàng Trong, đều là con của mẹ. Lòng mẹ là khởi sinh, dung dưỡng cả những gì nghịch phản triệt tiêu nhau. Bản chất Mẹ (Má Bảy Nhơn, Trần hiền nội, Dì Sáu) đã ngời lên khả năng dung chứa và chữa lành. Cũng bởi vậy, Mẹ là mẫu số có thể cứu vớt tâm hồn con người trong thời ly loạn, là tình thương cứu chuộc hố ngăn cách trở ruột thịt Trong-Ngoài.

Mẹ thương – nỗi đau banh da xé thịt, mẹ là người chống chịu. Rồi nỗi đau huynh đệ tương tàn, chỉ có mẹ thấu biết. “Tụi bây là ruột thịt và đều do má đẻ ra…”. Nỗi đau thấu trời, một mình mẹ trải qua. Nên hơn ai hết, tính mệnh của mẹ từ đau thương đến bi thương. So ra, Mẹ Việt đã bi thương biết bao nhiêu lần. Từ bi thương đến tang thương, lòng mẹ vẫn còn Thương. Trong thương đã có dịch, ấy là đức hóa giải, sửa trị, hàn gắn. Vì lòng mẹ có tha thứ. Từ Mẹ ra đi rồi sẽ trở về Mẹ. Các phản lực tương tranh/tương triệt dẫu có muôn vàn khác biệt vẫn cùng chung mẫu số muôn đời. Thành ra, tính mệnh của Mẹ là Tang Thương, cũng là Chuyển Hóa. Tình thương chính là sự mầu nhiệm của Mẫu tính Việt tộc nơi bà mẹ miền Nam nói chung.

Tính người – Chẳng khi không mà Trần Bảo Định đặt tên Nhơn cho nhân vật Má Bảy. Bởi hoa nắng gởi gắm lại hạt giống cho mùa sau và tính người của hoa theo đó cũng được trao truyền. Cho nên, nói mẹ phương Nam làm riềng mối cho con. Mẹ đẻ con ra. Mẹ nuôi con lớn. Mẹ dạy con khôn. Từ chỗ không tồn tại mà thành ra tồn tại, từ chỗ vỗ tri thành ra hữu tri. Từ chỗ “phi nhân” thành ra “thị nhân”. Mẹ giữ cho con cốt người. Từ cái tên tục mẹ đặt cho đến lời răn dạy khuyên lơn, mẹ vẫn âm thầm trao truyền và gìn giữ cốt người cho con. Thượng cổ Nữ Oa thổi sinh khí vào đất sét, còn bà mẹ miền Nam mớm cho con bầu sữa con người; để con có nhân hình lẫn nhân tính. Mẫu tính vì thế là thể tính của con. Đến đây, ta có thể hình dung phần nào từng mức sâu dày của nhân bản phương Nam.

***

Đi giữa Mùa hoa nắng của Trần Bảo Định, có lẽ độc giả sẽ ngỡ ngàng vì câu chuyện: Bông cỏ may, Màu mực em, Tôi Hoa Xấu hổ! Dễ thấy, truyện loài vật của Ông già Nam bộ nhiều chuyện ở các tập truyện trước có thiên hướng ngụ ngôn và truyện cười thì đến đây truyện mang hơi hướng cảm thức siêu hình về vòng tuần hoàn của sinh hiện trong vỏ bọc thần thoại và cổ tích.

Khi ta thâm nhập vào sinh giới truyện từ khía cạnh này, ta mới ngỡ ngàng nhận thấy chuyện về ba loài hoa cỏ ấy chính là ánh nắng trời (Thiên) tác luyện cùng với Gãnh Mù U, Rạch Miễu, Ba Dừa, Xẻo Rô, Thanh Ba (Địa) để trổ ra muôn ngàn bông hoa nắng (Nhân) rợp tràn đất Nam bộ. Theo đó, ba câu chuyện lập thành bộ kiềng ba chân – thiết định cấu trúc chỉnh thể của Tam Tài. Đây, chính là sự khai mở cho việc thâm nhập vào toàn bộ tập truyện. Từ Tam Tài khai mở Tâm-Tính-Tình, ta có thể hiểu ra ý nghĩa nhan đề tập truyện Mùa (Địa) Hoa (Nhân) Nắng (Trời/Thiên). Và hoa nắng ở đây chính là sự chiếu rọi của “thiên tính” xuống “địa tình” lập thành “nhân tâm”. Hoa nắng chính là con người trong nghĩa lý trọn vẹn tốt đẹp của tính người.

Bên cạnh đó, nghĩa tình quê nhà bền chặt đã giúp Trần Bảo Định có khả năng Nam bộ hóa (Việt hóa) các tư tưởng: Sinh thái học nhân văn, Luận lý Tây phương, Hán Nho, Phật Giáo, Đạo giáo, …. Đây, là sức đề kháng mạnh mẽ của loài chim phương Nam trước muôn vàn tiếng hót ngoại lai, giữ gìn đúng bản nguyên tiếng hót quê mình.

Từ chỗ ngó thấy sự thay đổi về nhận thức luận và thế giới quan, ta nhìn ra sự chuyển hướng trên cuộc du hành chữ nghĩa của Trần Bảo Định. Từ Sinh thái học nhân văn, Xuyên văn bản đến Minh triết phương Nam; sau tới Thương những ngày và Mùa hoa nắng thì Trần Bảo Định càng vượt qua ranh giới văn chương và phi văn chương. Điều này phải chăng trang viết của ông đã đi thật xa (khứ viễn) để trở về (hồi quy) trong yếu tính của Văn (文). Cũng có nghĩa là trở về căn tính thấm nhuần-chất phát-nhất nguyên-uyên ủy của ca dao (kinh thi Việt tộc). Phải chăng chính tên gọi và bút danh của tác giả cũng đã bao hàm tính mệnh “hộ pháp” cho hồn thiêng Việt tộc. Trần Bảo Định trở thành “ngọn đuốc sáng” soi rọi lại những khoảng tối mịt mù giữa đêm phù sa châu thổ, là người bà con thân thuộc bám lấy đất mẹ để giữ gìn các giá trị truyền đời của tộc Việt mà cho đến nay e rằng đã bị thời gian phủ mờ đến nỗi chỉ còn lẩn khuất trong đời sống của người Việt lưu dân trên đất Nam bộ.

Đọc Mùa hoa nắng, mỗi người sẽ tự chiếu rọi nắng trời vào táng lá cây đời để từng chùm hoa nắng rập rờn trong lòng dạ. Từ bông cỏ may đến bông vạn thọ, cách kết truyện của Trần Bảo Định luôn để lại nỗi niềm suy tưởng dìu dặt, vừa thấm vừa nhuần, vừa ngậm mà cũng vừa ngùi trong nỗi bâng khuâng: chẳng đánh mà đau, chẳng xui mà khiến cho lòng người lân la nghĩ ngợi.

Ví như, Trăm năm biết mấy tinh thần!

VÕ QUỐC VIỆT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.