Người đem ánh sáng tâm hồn soi rọi thi ca

VHSG- Đọc tác phẩm Tình thơ bạn thơ – 36 khúc đò đưa, trước hết, tôi hâm mộ nhiệt huyết và lòng kiên trì bền bỉ của nhà văn, nhà phê bình trẻ Nguyễn Văn Hòa. Đây là kết quả của quá trình anh miệt mài đọc, tiếp cận với nhiều nhà thơ trên khắp mọi miền đất nước, với đủ sắc màu của thi ca, lặn lội vào ngõ sâu hun hút của từng số phận cùng những phong cách thơ khác biệt.

36 khúc đò đưa là bấy nhiêu lần Nguyễn Văn Hòa dấn thân vào tầng tầng hoang địa để tìm tòi phát hiện nội cảm sâu kín của thi nhân, đem ánh sáng tâm hồn mình soi rọi từng dòng nhựa nguyên chuyên chở ý thơ trong tác phẩm, mà hương sắc còn ẩn kín đâu đó dưới lớp lớp ngữ ngôn ẩn dụ, để khai quật tâm thức của một nền thơ Việt đang khởi sắc. Qua ngòi bút của anh, từng khuôn mặt nghệ sĩ hiện ra với những nét đặc thù cá nhân, cả về cuộc đời thi ca lẫn những uẩn khúc sâu kín của số phận.

Nhà phê bình trẻ Nguyễn Văn Hòa

Đêm trong thơ Hoàng Thụy Anh là hiện thực cuộc sống, là thân phận con người. Đêm gợi cảm giác cô đơn, buồn, đau, khao khát sống, khao khát yêu, nhiều khi có cả sự ám ảnh: đêm qua những giọt nước mắt em lẩn thẩn vắt ngang tờ giấy trắng/ búng vào đó vệt xước như một tiếng thở dài mùa cũ/ nhắc về em hình hài thuở ban đầu (giấc rời)”.

Với sự nhạy cảm của một tâm hồn tha thiết với thi ca, nhà văn đã xâm nhập vào tâm điểm của nỗi thao thức mà đầy khát khao trăn trở của thi nhân:

Hình ảnh người đàn bà và đêm, người đàn bà ăn bóng tối, người đàn bà sinh ra từ mưa, em mua gánh mưa, em buôn nắng… gây ám ảnh, khắc khoải đến tâm can người đọc. Đó không chỉ là sự lỡ nhịp, chông chênh của cuộc tình mà còn là cuộc sống, là số phận của người phụ nữ, những người luôn chịu nhiều thiệt thòi nhất so với cánh đàn ông”.

Với nhà thơ Bùi Kim Anh, tôi chắc nhà phê bình Nguyễn Văn Hòa phải trải qua nhiều đêm dài thức trắng, so sánh và chắt lọc, để rồi đưa ra nhận định:

Dù viết về mình, về người, về nhân tình thế thái, thơ Bùi Kim Anh vẫn dịu dàng đằm thắm, tha thiết nỗi đời, nỗi người. Ở đó người ta thấy một nhà thơ Bùi Kim Anh luôn sống hết mình với cuộc sống và tình yêu. Nhưng cái chủ đạo trong thơ chị vẫn là giọng trầm buồn, se sắt. Nhà thơ tự làm một cuộc hành trình đi tìm bản thân mình, trở về với chính mình để suy nghĩ, để chiêm nghiệm, để sống thật với bản thân mình hơn: Có như đêm nay tôi tự tìm mình/ đêm cô đơn mở toang cánh cửa/ lúc này gió không còn có nữa/ một bóng người hút cuối bóng cây”.

Nguyễn Văn Hòa thường vận dụng nền tảng lí luận phê bình thi pháp học vào trong trang viết để soi chiếu tác phẩm. Bên cạnh đó, anh có một khả năng cảm thơ, thẩm thấu thơ qua chính tâm hồn mẫn cảm của mình, và tôi nghĩ thứ ánh sáng minh triết cũng đủ làm sáng tỏ bản chất và tính cách thơ của nhà thơ mà anh đang tiếp cận. Nguyễn Văn Hòa ân cần hòa điệu với cảm xúc thi nhân, trang viết của anh tỏa hương thân thiện, gần gũi, chan hòa, không còn sự cách biệt giữa thi nhân và người bình như thường thấy…Độc giả hiện nay là những người cảm thụ thông thái, nhà phê bình không còn giơ cao chiếc búa quyền lực của phê bình để uốn nắn tác phẩm theo quan điểm của mình. Vì vậy, cách tiếp cận của Nguyễn Văn Hòa trong tác phẩm thể hiện sự thông minh và uyên bác, đồng nghĩa với tinh thần tự trọng cao cùng với cái nhìn ưu thời mẫn thế. Phạm vi hiểu biết và phương pháp tiếp cận với nền thơ đương đại của anh khiến tôi ngạc nhiên. Anh không chỉ căn cứ trên tác phẩm mình phân tích, mà anh thấu suốt cả một đời sống văn học của từng tác giả, kể cả những góc khuất của số phận con người:

Y Ban lại mạnh dạn phản ánh những sự thật của đời sống một cách tự nhiên, không hề che giấu, những nỗi đau của kiếp người lần lượt đi vào thơ chị như sự trải lòng. Thơ chị có sự bình dị, tự nhiên, đôi lúc như là lời thủ thỉ tâm sự rất mực gần gũi, đời thường. Nhưng đọc kỹ, thơ chị nhiều ẩn ý, giàu sức liên tưởng. Tôi cho rằng đó lại là cái đáng yêu, tạo nên hồn cốt và nét riêng của một nhà văn đi viết thơ. Thơ viết về tình yêu, miếng ăn, nỗi khổ, sự mất tự do, cái chết, nỗi buồn… Tất cả những điều đó tràn ngập trong thơ chị”.

Tập phê bình Tình thơ bạn thơ – 36 khúc đò đưa của Nguyễn Văn Hòa, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020

Nguyễn Văn Hòa chắt từ đâu để hiểu và viết về tha nhân với cuộc sống và quan điểm phức tạp của mỗi người nếu không là tình yêu văn chương với niềm đam mê vô bờ bến? Hiểu và viết về một bài thơ đã khó, bình về một tác phẩm càng khó hơn và viết về một sự nghiệp văn chương lại càng đòi hỏi sự miệt mài nghiên cứu, tìm đọc và tiếp cận tác giả. Tôi không hình dung được Nguyễn Văn Hòa đã ngấu nghiến bao nhiêu tác phẩm để có từng cái nhìn tỉnh táo, chọn đúng cái đẹp, cái sâu, cái cồn cào nhất của tác giả và tác phẩm để trích dẫn, nhận định đúng trọng tâm, không chỉ chạm vào đáy lòng tác giả được anh “giải phẫu”, mà những độc giả xa lạ cũng được chiếu rọi bằng tia sáng nhân ái để cảm thông và thấu hiểu tác giả và tác phẩm hơn lên.

Nguyễn Văn Hòa không chỉ luận về văn chương chữ nghĩa, nhà phê bình trẻ còn tỏ ra thấu đáo để chia sẻ những vết thương chiến tranh dai dẳng đeo bám số phận con người, dù anh sinh ra sau ngày đất nước thống nhất, mà sự phân chia vẫn còn ám ảnh trong tâm thức bao người, cùng những số phận rủi ro bị cuốn vào cơn lốc tang thương ấy. Anh dẫn thơ của nhà thơ lão thành Nguyễn Nguyên Bảy với cuộc đời thơ văn sóng gió ngã nghiêng:

Điệp câu: “Chúng tôi đã thành cát bụi cả rồi/ Những người con gái con trai thiết tha yêu đất nước.“Không làng xã nào không xây dựng nghĩa trang/ Không thị thành nào không xây dựng nghĩa trang” – Thảm họa của chiến tranh cực kỳ khủng khiếp! Nhưng cái đau khổ nhất mà bão tố chiến tranh đem đến cho con người không chỉ là mất mát, tang thương, điêu tàn mà còn là những vết thương rỉ máu, những ám ảnh kinh hoàng còn mãi trong ký ức, xiết chặt tâm hồn người thời hậu chiến. / Xin người sống nhớ cho/ Chết là điều duy nhất tiếc/ Đừng để chúng tôi tiếc mình chết phí/ Máu nhuộm cờ phải mãi thiêng liêng/…”. Thơ thực sự đã vỡ òa lời trăng trối.

Đã là nhà phê bình văn học, cũng có lúc nhà phê bình vận dụng vốn liếng kiến thức của mình khi nhận định về các thể loại thơ sở trường và đặc trưng của tác giả. Chúng ta hãy nghe anh viết về thơ Lê Thị Kim:

Thơ tự do của Lê Thị Kim viết theo một lối riêng và rất hiện đại. Dưới ngòi bút tài hoa của chị, thể thơ này có sự giãn nở về biên độ phản ánh và cấu trúc hóa nhạc điệu câu thơ. Hình thức thơ biến hóa linh hoạt, câu thơ uốn lượn một cách thoải mái theo cơn bão của cảm xúc tâm hồn, nhịp đập của trái tim. “Em đã buông rồi/ Nhưng tất cả không rơi/ Kỷ niệm vẫn bồng bềnh như sóng biển/ Sân trường cũ … và ngày xưa hoa tím/ Thoáng mưa buồn… vài giọt thả long lanh ….

Thơ 5 chữ phù hợp với việc giãi bày tâm trạng của con người, thường có tính chất tự sự. Nói cách khác, thơ 5 chữ thường kết hợp tự sự với trữ tình. Với thể thơ 5 chữ, nó có khả năng diễn tả đầy đủ dòng cảm xúc dạt dào của nhà thơ khi nhớ về những kỷ niệm của quá khứ, khi nghĩ về hiện tại và cả những dự cảm về tương lai. Ở thể thơ này, Lê Thị Kim đã tạo nên những vần thơ độc đáo mang đậm dấu ấn của một phong cách thơ riêng: phong cách thơ Lê Thị Kim”.

Tôi (Nguyên Bình) lại muốn tò mò tìm xem Nguyễn Văn Hòa đã viết về những nhà thơ tôi đã từng quen biết gần gũi họ, thử so sánh tư duy và nhận định về thơ của anh có “giống” mình không. Tôi chọn nhà thơ Trúc Linh Lan:

Vốn là người tinh tế và giàu lòng trắc ẩn, Trúc Linh Lan cảm thấy nặng nợ với mảnh đất này. Do vậy, dù có đi đâu, làm gì tận sâu trong tâm khảm nhà thơ vẫn dành riêng cho một “vùng nhớ” với nơi ngọn nguồn sinh dưỡng, nuôi chị cả phần xác lẫn phần hồn: Có đi đâu?/ Vẫn thương nhớ đồng bằng!/ Nơi câu dạ cổ hoài lang vang danh một vùng đất…

Những nét đặc trưng của vùng đất Tây Nam của Tổ quốc được chị sử dụng trong thơ với tần số cao. Đây là điểm nổi bật làm nên nét riêng của hồn thơ Trúc Linh Lan. Thậm chí trong 1 bài thơ chị cũng đã có rất nhiều từ ngữ để tái hiện cảnh sắc con người vùng Tây Nam Bộ. Tôi gọi chị là “hồn thơ của sông nước Cửu Long” (Nguyễn Văn Hòa).

Nếu đem so sánh thì quả là khập khiễng, nhưng tôi xin phép trích một đoạn trong bài viết của Nguyên Bình về tập thơ Người đàn bà ngồi nhặt kí ức của nhà thơ Trúc Linh Lan để bạn đọc tự kiểm định mối tương quan giữa người viết bình luận về tác phẩm, chắc cũng đem lại một chút thú vị cho bạn đọc:

Là người con lớn lên từ phù sa sông Hậu hiền hòa, nền thơ của Trúc Linh Lan thấm đẫm những nét đẹp mộc mạc mà ma mị của vùng đồng bằng châu thổ chín nhớ mười thương. Ta hãy lắng nghe điệu lý thương hồ bồng bềnh trong nhịp chèo đặc hữu miền sông nước: “Ta đã thấy gì trong cơn mơ/ Số phận những con người bồng bềnh/ Vầng trăng đong đưa điệu lý thương hồ/ Tiếng đờn ai dạo khúc bi ai” (Nguyên Bình).

Tác phẩm bình luận văn học luôn đem lại cho người đọc những góc nhìn mới, thay đổi góc độ và mức độ cảm thụ cũng như thái độ ứng xử khi tiếp cận tác phẩm. Nguyễn Văn Hòa đã làm được điều đó. Anh mở dần các cánh cửa tâm hồn trong lâu đài thơ ẩn kín giữa khu rừng văn chương bát ngát, thâm u. Ánh sáng chiếu rọi sau cánh cửa mở toang bừng sáng màn đêm, một không gian ấm cúng và gần gũi, mà nơi đó, chính nhà bình luận thiện tâm đã đặt bàn tay tác giả và độc giả vào nhau, khai quật nét đẹp muôn đời của thơ nói riêng và văn chương nói chung.

Tác phẩm Tình thơ bạn thơ – 36 khúc đò đưa, theo tôi là một công trình dày dặn công phu, bởi tác giả đã dùng nhiều tâm huyết, thời gian và công sức. Sự cống hiến ấy của anh không hề nhỏ, rất đáng trân trọng trong bối cảnh đời sống văn chương hôm nay. Trên dòng sông thi ca Việt đương đại, mỗi câu mỗi lời trong 36 khúc đò đưa là một nhịp chèo khoan nhặt, đưa con thuyền văn sang bên kia bờ mỹ cảm.

Bà Rịa, 14.6.2020

NGUYÊN BÌNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *