Người thoáng hiện của thi hào Rabindranath Tagore

Thơ Tagore là lời tụng ca với ban mai này cũng như với nghìn ban mai, với đời này cũng như với muôn đời.

Thơ ông thường nhắc đến “Dòng trôi vĩnh cửu của cái vô thường, thoáng hiện” (This eternal stream of the transitory, the fugitive).

Cái phôi pha, thấp thoáng, nhất thời trong Tagore luôn luôn mang chiều kích của vĩnh cửu.

Nhà thơ cũng ví đời sống chúng ta như một dòng sông. Đôi mạn bờ nào phải là tường thành giam giữ dòng trôi. Từng sát na một, hãy biết rằng ta có lối thoát vô cùng mênh mang về phía trùng dương vô tận.

Tư tưởng huyền vĩ và cảm thức thâm thiết đó được thể hiện chứa chan trong thi phẩm Người thoáng hiện (The Fugitive) cũng như trong nhiều sáng tác khác của Tagore.

Ở Việt Nam, thơ Tagore đã được yêu mến từ lâu, đã qua vài thế hệ.

Trong những người mê thơ Tagore hiện giờ có nhà thơ, dịch giả Bùi Xuân. Bạn đọc sẽ cảm nhận được điều đó qua các bản dịch đầy đam mê và nỗ lực của anh. Và bạn đọc cũng là người thưởng thức, nhìn nhận một lần nữa bóng dáng Rabindranath Tagore trong một cuộc gặp gỡ mới. Đó sẽ là niềm vui của người dịch, niềm vui thoáng hiện với đời.

NHẬT CHIÊU

Thi hào Rabindranath Tagore của Ấn Độ

NGƯỜI THOÁNG HIỆN I

 

9

Nếu tôi được sống trong hoàng thành Ujjain, khi Kalidasa[1] đã là nhà thơ của đức vua, tôi có thể quen biết một cô gái nào đó ở Malwa và rót đầy suy nghĩ của mình cùng tiếng nhạc về tên cô ấy. Nàng sẽ liếc nhìn tôi qua nét cong mí mắt, và áp mạng che mặt vào những bông hoa nhài như là cái cớ để kéo dài thời gian gần tôi.

Điều này đã xảy ra một đôi lần trong quá khứ mà dấu vết không còn tìm thấy được dưới những chiếc lá chết của thời gian.

Các học giả tranh biện để ngày ngày được chơi trò trốn – và – tìm.

Tôi không phá vỡ mơ mộng của trái tim mình, đã bay lên và biến mất cùng thời đại; nhưng than ôi và than ôi một lần nữa, những cô gái Malwa đã theo họ mất rồi!

Tới thiên đường mà chi, tôi tự hỏi, họ có mang trong những giỏ hoa của mình hằng ngày sự náo nức về những bài hát của nhà thơ của đức vua?

Sáng nay, cách biệt những người mà tôi đã sinh ra quá muộn để cảm nhận sự nặng nề và buồn rầu của trái tim mình.

Lúc này, tháng Tư đã mang đến những bông hoa mà các cô gái Malwa đã cài trên tóc, và làn gió nhẹ nhàng  từ phương nam thổi tới đã làm rung rinh mạng che mặt của họ như là lời thì thầm trên hoa hồng thời nay.

Và, xin nói lên sự thật, niềm vui không thiếu vào mùa xuân này, cho dù Kalidasa không hát nữa, và tôi biết, nếu ông ta có thể nhìn thấy tôi từ Thiên Đường Của Các Nhà Thơ, ông ta có lí  do để mà ghen tị.

 

9

If I were living in the royal town of Ujjain, when Kalidas was the king’s poet, I should know some Malwa girl and fill my thoughts with the music of her name. She would glance at me through the slanting shadow of her eyelids, and allow her veil to catch in the jasmine as an excuse for lingering near me.

This very thing happened in some past whose track is lost under time’s dead leaves.

The scholars fight to-day about dates that play hide-and-seek.

I do not break my heart dreaming over flown and vanished ages: but alas and alas again, that those Malwa girls have followed them!

To what heaven, I wonder, have they carried in their flower-baskets those days that tingled to the lyrics of the king’s poet?

This morning, separation from those whom I was born too late to meet weighs on and saddens my heart.

Yet April carries the same flowers with which they decked their hair, and the same south breeze fluttered their veils as whispers over modern roses.

And, to tell the truth, joys are not lacking to this spring, though Kalidas sing no more; and I know, if he can watch me from the Poets’ Paradise, he has reasons to be envious.

 

15

Trong mọi ngày, em dành ngày này tới thăm vườn tôi.

Nhưng đêm qua cơn bão thổi trên những đóa hoa hồng và cỏ vương đầy lá rách.

Tôi không biết lấy gì để tặng em, bây giờ bờ giậu ngả nghiêng, lối đi thành suối, sự giàu có hào phóng của mùa xuân thưa thớt; hương thơm và bài hát của ngày hôm qua đã cạn mòn.

Nhưng xin em nán lại, cho tôi tìm những bông hoa còn sót, dù tôi ngờ rằng chiếc váy của em có thể chất đầy.

Thời gian sẽ trôi nhanh, những đám mây rồi sẽ sẫm màu và  nơi vườn tôi mưa lại rơi!

 

15

Of all days you have chosen this one to visit my garden.

But the storm passed over my roses last night and the grass is strewn with torn leaves.

I do not know what has brought you, now that the hedges are laid low and rills run in the walks; the prodigal wealth of spring is scattered and the scent and song of yesterday are wrecked.

Yet stay a while, let me find some remnant flowers, though I doubt if your skirt can be filled.

The time will be short, for the clouds thicken and here comes the rain again!

 

19

Ở bờ bên này nước chưa chịu rút, các cô gái không đến đây để lấy nước, đất dọc bờ sông xù xì với các bụi cây còi cọc; bầy chim sáo ồn ào bới tổ dọc bờ sông trong cái nhíu mày của bác dân chài – con thuyền đánh cá chưa tìm ra bến đậu.

Nàng ngồi trên bãi cỏ ít người lui tới, và buổi sáng rõ dần.  Hãy nói cho tôi biết nàng làm  gì trên bờ sông khô hạn nức nẻ đó?

Nàng nhìn mặt tôi và nói, “Không có gì, không có gì đâu.”

Ở phía bên này bờ sông vắng vẻ, không có gia súc đến uống nước. Chỉ có một vài con dê đi lạc từ làng ra gặm những ngọn cỏ non thưa thớt suốt cả ngày, và mặt nước lặng lờ – một con diều hâu đứng quan sát từ trên cây bồ đề nghiêng gốc đội rễ trên bùn.

Nàng ngồi đó một mình trong bóng mát keo kiệt của cây hoa gạo và sớm mai mòn mỏi.

Hãy nói với tôi, ai là người mà nàng chờ đợi?

Nàng nhìn mặt tôi và nói, “Không ai, không một ai cả!”

 

19

On this side of the water there is no landing; the girls do not come here to fetch water; the land along its edge is shaggy with stunted shrubs; a noisy flock of saliks dig their nests in the steep bank under whose frown the fisher-boats find no shelter

You sit there on the unfrequented grass, and the morning wears on. Tell me what you do on this bank so dry that it is agape with cracks?

She looks in my face and says, ‘Nothing, nothing whatsoever.’

On this side of the river the bank is deserted, and no cattle come to water.

Only some stray goats from the village browse the scanty grass all day, and the solitary water-hawk watches from an uprooted peepal aslant over the mud.

You sit there alone in the miserly shade of a shimool, and the morning wears on.

Tell me, for whom do you wait?

She looks in my face and says, ‘No one, no one at all!’

 

NGƯỜI THOÁNG HIỆN II

 

10

Người yêu dấu ơi, hãy bỏ cây đàn luýt xuống, dang đôi tay tự do mà ghì chặt lấy em.

Hãy để sự vuốt ve của chàng mang đến trái tim chan chứa của em đang ở bên bờ vực thẳm không cùng của thân thể em.

Đừng ngoảnh mặt quay đi, mà hãy hôn em, giống như  là hương thơm còn ấp ủ trong nụ.

Đừng làm ngột ngạt khoảnh khắc này bằng những lời sáo rỗng, hãy để trái tim run rẩy vội vàng, im lặng xua tan tất cả những suy nghĩ để đi tới niềm lạc thú không bờ.

 

10

Lay down your lute, my love, leave your arms free to embrace me.

Let your touch bring my overflowing heart to my body’s utmost brink.

Do not bend your neck and turn away your face, but offer up a kiss to me, which has been like some perfume long closed in a bud.

Do not smother this moment under vain words, but let our hearts quake in a rush of silence sweeping all thoughts to the shoreless delight.

 

14

Tất cả những gì em có em đã tặng anh, chỉ giữ lại tấm mạng che mặt bình thường.

Nó mỏng mảnh đến nỗi anh kín đáo mỉm cười và em cảm thấy xấu hổ.

Các cơn gió của mùa xuân thổi nó bay đi mà không biết, và những rung động của trái tim em làm chuyển động nó như là làn sóng làm chuyển động bọt nước.

Anh yêu ơi, xin đừng khổ sở nếu em giữ lớp sương mù mỏng mảnh bao bọc quanh em.

Vật dự trữ mỏng manh của em không phải là biên giới e lệ của người đàn bà, nhưng là một thân cây mảnh mai mà những bông hoa sẽ tự nghiêng xuống, hướng về phía anh với đẹp yêu kiều kín đáo.

 

14

All that I had I gave to you, keeping but the barest veil of reserve.

It is so thin that you secretly smile at it and I feel ashamed.

The gust of the spring breeze sweeps it away unawares, and the flutter of my own heart moves it as the waves move their foam.

My love, do not grieve if I keep this flimsy mist of distance round me.

This frail reserve of mine is no mere woman’s coyness, but a slender stem on which the flower of my self-surrender bends towards you with reticent grace.

 

19

Khi hai chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên, trái tim tôi vang lên khúc nhạc, “Nàng xa đời đời ở bên anh mãi mãi.”

Rằng bản nhạc là sự im lặng, bởi tôi tin rằng tình yêu chỉ gần, và đã quên rằng nàng cũng ở xa, rất xa.

Âm nhạc tràn ngập vô tận giữa hai tâm hồn. Điều này đã bị bóp nghẹt bởi mù sương của những thói quen hằng ngày.

Vào những đêm mùa hạ thẹn thùng, khi gió mang lại tiếng thì thầm rộng lớn ngoài sự im lặng, tôi ngồi trên giường và đau buồn trước sự mất mát lớn lao của nàng, người bên cạnh tôi. Tôi tự hỏi, “Khi nào tôi có một cơ hội khác để thì thầm những lời nàng nói với nhịp điệu đời đời trong chúng?”

Thức dậy, bài hát của tôi, từ người tình im lặng, xé nát bức màn che quen thuộc, và bay tới người yêu của tôi ở đó, trong sự ngạc nhiên bất tận của cuộc gặp mặt đầu tiên của chúng tôi!

 

19

When we two first met my heart rang out in music, ‘She who is eternally afar is beside you for ever.’

That music is silent, because I have grown to believe that my love is only near, and have forgotten that she is also far, far away.

Music fills the infinite between two souls. This has been muffled by the mist of our daily habits.

On shy summer nights, when the breeze brings a vast murmur out of the silence, I sit up in my bed and mourn the great loss of her who is beside me. I ask myself, ‘When shall I have another chance to whisper to her words with the rhythm of eternity in them?’

Wake up, my song, from thy languor, rend this screen of the familiar, and fly to my beloved there, in the endless surprise of our first meeting!

Nhà thơ – dịch giả Bùi Xuân

NGƯỜI THOÁNG HIỆN III

 

7

Trái Đất lớn lao ơi, đã bao lần tôi cảm thấy khao khát được chảy qua người, được sẻ chia hạnh phúc với từng phiến lá xanh đang giơ cao tín hiệu bảy tỏ, trả lời cho cái màu xanh lôi cuốn của bầu trời!

Tôi cảm thấy như mình đã thuộc về người trước khi được sinh ra. Đó là lí  do tại sao, trong những ngày nắng thu lung linh trên lúa nở rộ bông, tôi như nhớ lại một thời dĩ vãng khi tâm trí của tôi đã ở mọi nơi, và thậm chí nghe thấy tiếng nói như là của người bạn thời thơ bé vang vọng từ quá khứ xa xôi và được phủ che sâu thẳm.

Vào buổi tối, khi đàn gia súc trở lại lũng núi của chúng, bụi đất bay lên từ những lối mòn trên đồng cỏ, khi vầng trăng mọc cao hơn so với những làn khói tỏa lên từ những túp lều trong làng, tôi cảm thấy buồn cho một số ngăn cách lớn lao đã xảy ra trong buổi sáng đầu tiên của cuộc sống lẻ loi.

 

7

How often, great Earth, have I felt my being yearn to flow over you, sharing in the happiness of each green blade that raises its signal banner in answer to the beckoning blue of the sky!

I feel as if I had belonged to you ages before I was born. That is why, in the days when the autumn light shimmers on the mellowing ears of rice, I seem to remember a past when my mind was everywhere, and even to hear voices as of playfellows echoing from the remote and deeply veiled past,

When, in the evening, the cattle return to their folds, raising dust from the meadow paths, as the moon rises higher than the smoke ascending from the village huts, I feel sad as for some great separation that happened in the first morning of existence.

 

12

Con trai ơi, kì nghỉ sắp tới rồi, ở nơi đó có trời xanh và đồng trống, kho thóc và ngôi đền đổ nát dưới tán me già.

Kì nghỉ của cha phải được thực hiện qua con, tìm kiếm ánh sáng trong vũ điệu trong mắt của con, âm nhạc trong tiếng la hét ồn ào của con.

Mỗi độ thu về mang lại con kì nghỉ tự do thực sự: với cha, nó mang lại một điều là chẳng thể nào làm  được việc gì; nhìn kìa! con xông vào phòng của cha.

Vâng, kì nghỉ của cha là sự tự do vô tận cho tình yêu đến quấy rầy cha.

 

12

Take your holiday, my boy; there are the blue sky and the bare field, the barn and the ruined temple under the ancient tamarind.

My holiday must be taken through yours, finding light in the dance of your eyes, music in your noisy shouts.

To you autumn brings the true holiday freedom: to me it brings the impossibility of work; for lo! You burst into my room.

Yes, my holiday is an enlless freedom for love to disturb.

 

21

Con Đường Làng quanh co, như thể, đã già lắm rồi. Cô nàng bắt đầu việc tìm kiếm cái đích của mình, lưỡng lự bên phải rồi bên trái, và cứ bối rối mãi.

Trên không, giữa các ngôi nhà, trông giống như một dải băng rách treo ngoài không gian: cô gọi nó là chị gái của khu phố màu xanh.

Cô nhìn thấy mặt trời trong chốc lát vào giữa trưa, và tự hỏi trong nghi ngờ thông thái: “Nó có thật không?”

Trong Tháng Sáu, mưa đôi khi làm mờ bản hợp tấu của ánh mặt trời như đường gạch bóng trên hình vẽ của một cây bút chì. Con đường bùn lầy trơn trượt, và những chiếc ô chạm vào nhau. Bất ngờ các tia nước từ các ống máng bắn tung tóe lên vỉa hè. Trong thất vọng, cô pha trò, bảo đó là kiểu sáng tạo không biết phép lịch sự.

Gió xuân, đi lạc trong cuộn dây vặn vẹo của cô, tình cờ như một người nghiện rượu lang thang, vấp vào góc tường hoặc lối rẽ, làm không khí đầy bụi bặm với giấy lộn và giẻ rách. “Giận dữ gì lũ  ngốc! Có phải là các Vị Thần điên?” Cô hét lên trong phẫn nộ.

Nhưng rác thải hằng ngày từ các ngôi nhà hai bên đường – vảy cá lẫn lộn với tro, rau hư, quả thối, và chuột chết – không bao giờ khêu gợi ở cô câu hỏi, “Tại sao cần những thứ này?”

Cô chấp nhận những viên đá lát lên cô. Nhưng ở giữa khe hở của chúng đôi khi ló lên ngọn cỏ. Đó là trở ngại của cô. Làm thế nào có thể một vật rắn lại cho phép sự xâm nhập như vậy?

Vào một buổi sáng, khi chạm vào ánh sáng mùa thu, những ngôi  nhà của cô thức dậy trong vẻ đẹp từ những giấc mơ hôi thối của chúng, cô nàng thì thầm với chính mình, “Có một kì quan vô hạn ở đâu đó bên ngoài những tòa nhà này.”

Nhưng thì giờ trôi qua; các gia đình trở dậy; người tớ gái trở về từ chợ, tay phải đung đưa và bên trái cặp chặt chiếc rổ, mùi hôi thối và khói bếp tỏa lên trong không khí. Một lần nữa nó trở nên rõ ràng, rằng con Đường Làng của chúng tôi rất thật và bình thường như chỉ có ở cô, những ngôi nhà của cô, và những đống phân chuồng của họ.

 

21

Our lane is tortuous, as if, ages ago, she started in quest of her goal, vacillated right and left, and remained bewildered for ever.

Above in the air, between her buildings, hangs like a ribbon a strip torn out of space: she calls it her sister of the blue town.

She sees the sun only for a few moments at mid-day, and asks herself in wise doubt, ‘Is it real?’

In June rain sometimes shades her band of daylight as with pencil hatchings. The path grows slippery with mud, and umbrellas collide. Sudden jets of water from spouts overhead splash on her startled pavement. In her dismay, she takes it for the jest of an unmannerly scheme of creation.

The spring breeze, gone astray in her coil of contortions, stumbles like a drunken vagabond against angle and corner, filling the dusty air with scraps of paper and rag. ‘What fury of foolishness! Are the Gods gone mad?’ she exclaims in indignation.

But the daily refuse from the houses on both sides-scales of fish mixed with ashes, vegetable peelings, rotten fruit, and dead rats-never rouse her to question, ‘Why should these things be?’

She accepts every stone of her paving. But from between their chinks sometimes a blade of grass peeps up. That baffles her. How can solid facts permit such intrusion?

On a morning when at the touch of autumn light her houses wake up into beauty from their foul dreams, she whispers to herself, ‘There is a limitless wonder somewhere beyond these buildings.’

But the hours pass on; the households are astir; the maid strolls back from the market, swinging her right arm and with the left clasping the basket of provisions to her side; the air grows thick with the smell and smoke of kitchens. It again becomes clear to our Lane that the real and normal consist solely of herself, her houses, and their muck-heaps

 

24

Người ta nói rằng Kabir[2], người thợ dệt, được hưởng phước lành của Chúa, và đám đông tụ tập quanh ngài bởi y học và phép lạ. Nhưng ngài gặp rắc rối; nguồn gốc thấp hèn đã ban tặng cho ngài sự tối tăm quý báu để làm ngọt những bài hát và sự hiện diện của Chúa. Ngài cầu nguyện rằng nó có thể khôi phục lại.

Ghen tị với danh tiếng của con người cô độc này, các thầy tế tự mình liên minh với gái điếm để làm ô nhục ngài. Kabir đến chợ để bán vải, dệt từ khung cửi của mình; khi người phụ nữ nắm tay, vu vạ ngài là xảo trá, và đi theo ngài về nhà, bảo rằng cô ta không chịu bị bỏ rơi, Kabir nói với chính mình, “Chúa đáp lời cầu nguyện theo cách riêng của người”.

Chẳng bao lâu sau, người phụ nữ cảm thấy rùng mình sợ hãi, quỳ xuống và khóc, “Cứu vớt tôi khỏi tội lỗi của mình!” thế là ngài nói, “Hãy mở cuộc sống của bạn ra với ánh sáng của Chúa!”

Kabir làm việc ở khung cửi của mình và hát, và những bài hát của ngài đã rửa sạch các vết nhơ trong trái tim của người phụ nữ, trả lại cho cô ta giọng nói ngọt ngào.

Một ngày nọ, Đức Vua, trong cơn thất thường, đã gửi chiếu thư mời Kabir đến và hát trước người. Người thợ dệt lắc đầu: nhưng sứ giả không dám rời khỏi cửa nhà ngài cho đến khi những công việc lặt vặt của ngài hoàn tất.

Đức Vua và các quan trong triều đình bắt đầu nhìn thấy Kabir khi ngài bước vào hành lang. Ngài không đi một mình, người phụ nữ theo sau ngài. Một số mỉm cười, một số cau mày, và khuôn mặt của Đức Vua tối sầm trước niềm tự hào và không chút hổ thẹn của con người nghèo túng.

Kabir về lại ngôi nhà của mình trong ghét bỏ, người phụ nữ quỳ gối  dưới chân ngài mà khóc, “Thầy ơi, tại sao phải chấp nhận ô danh như vậy chỉ vì lợi ích của con? Hãy cho con quay trở lại với nỗi ô nhục của minh!”

Kabir nói, “Tôi không dám quay lưng với Chúa khi người đến với danh phận là  sỉ nhục”.

 

24

They said that Kabir, the weaver, was favoured of God, and the crowd flocked round him for medicine and miracles. But he was troubled; his low birth had hitherto endowed him with a most precious obscurity to sweeten with songs and with the presence of his God. He prayed that it might be restored.

Envious of the repute of this outcast, the priests leagued themselves with a harlot to disgrace him. Kabir came to the market to sell cloths from his loom; when the woman grasped his hand, blaming him for being faithless, and followed him to his house, saying she would not be forsaken, Kabir said to himself, ‘God answers prayers in his own way.’

Soon the woman felt a shiver of fear and fell on her knees and cried, ‘Save me from my sin!’ To which he said, ‘Open your life to God’s light!’

Kabir worked at his loom and sang, and his songs washed the stains from that woman’s heart, and by way of return found a home in her sweet voice.

One day the King, in a fit of caprice, sent a message to Kabir to come and sing before him. The weaver shook his head: but the messenger dared not leave his door till his master’s errand was fulfilled.

The King and his courtiers started at the sight of Kabir when he entered the hall. For he was not alone, the woman followed him. Some smiled, some frowned, and the King’s face darkened at the beggar’s pride and shamelessness.

Kabir came back to his house disgraced, the woman fell at his feet crying, ‘Why accept such dishonour for my sake, master? Suffer me to go back to my infamy!’

Kabir said, ‘I dare not turn my God away when he comes branded with insult.’

RABINDRANATH TAGORE – BÙI XUÂN dịch

Rút từ tập thơ Người thoáng hiện của Rabindranath Tagore,

Bùi Xuân dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2015 (bản song ngữ Anh Việt)

và Nhà xuất bản Kim Đồng, 2017 (bản tiếng Việt).

______________

[1] Kalidasa (Kālidāsa) là nhà viết kịch, nhà thơ vĩ đại của Ấn Độ cổ đại.

[2] Kabir là Nhà huyền môn, Nhà thơ thần bí Ấn Độ thời trung cổ.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.