Nguyễn Bản – Nhà văn, người thầy ở ẩn

Nhà văn, dịch giả Nguyễn Bản sinh năm 1931 tại Bắc Ninh, tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Văn khoa năm 1976. Các tác phẩm của ông chủ yếu là viết truyện ngắn và dịch văn. Ông đã cho ra mắt bạn đọc các tác phẩm gồm: Truyện ngắn “Bức tranh và vết thạch” (1992), “Mùi tóc Thảo” (1994), “Truyện ngắn Nguyễn Bản” (1996), “Nợ trần gian” (2003), “Những cánh hoa quỳ dại” (2006), “Rừng đêm cuối năm”, “Mặt trời đồng xu”, “Đường phố lòng tôi” (năm 2007)… Ông đã từ trần ngày 15.9.2023 tại Hà Nội sau nửa năm chống chọi với bệnh tật, hưởng thọ 92 tuổi. VHSG trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Nguyễn Văn Thọ để tưởng nhớ bậc lão thành tài hoa.

Nhà văn, dịch giả Nguyễn Bản (1931 – 2023)

“Năm 1996, tôi gặp ông lần đầu ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn, khi nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư trân trọng hướng vào một người đã cao tuổi, trên bảy chục, nhỏ thó, vai nhỏ, trán cao vuông, mắt cũng nhỏ, lóe ra cái ánh nhìn tinh sáng, miệng tủm tỉm: Đây là nhà văn đàn anh Nguyễn Bản. Tôi bắt chặt bàn tay không nhỏ, dày, ấm, khi thấy sáng lên ở đôi mắt nho nhỏ kia cái nhìn thân thiện. Thầm nghĩ, ô hay, Nguyễn Bản, tác giả Ánh trăng đây ư? Ở Đức tôi cứ nghĩ, tác giả chỉ tứ tuần, Ánh trăng và da thịt mỹ miều trong trăng của người đàn bà đẹp sao có thể của một người già đến thế?”. Hóa ra, chúng tôi là hàng xóm với nhau trong làng Ngọc Hà.

Làng rày, chuyện nay còn ghi lại ở đền thiêng Đống Nước, xưa vua nhà Lý và Trần trước khi đi đánh giặc đều ghé thuyền tấp qua gò đất, nhờ cô gái thôn dã, thần thiêng phù trợ… Sông xưa đã lấp, bồi lên làng hoa Ngọc Hà, qua nhiều thế kỷ đã bước vào văn chương với những cô gái gánh hoa làng Ngọc. Hoa Ngọc Hà trở nên rõ nét trong tâm thức văn hóa Hà Nội xưa và thời nay lại là làng quy tụ nhiều văn nhân, lắm nghệ sĩ thành danh như nhà thơ Nguyễn Phan Hách, cố đạo diễn Lê Mạnh Thích, vợ chồng nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng một thời Ngọc Lan, Ngô Mạnh Lân,…

Nguyễn Bản cũng âm thầm ẩn tụ ở đấy hơn chục năm nay, sau bao năm trôi nổi, sống một mình trong căn nhà nhỏ một tầng, chỉ 24m2, xây nên từ tiền nhuận bút. Khách tới, ông tiếp chuyện sát cái bàn viết đầy tự điển và chồng truyện tiếng Anh. Cái bàn nước ép sát tường, dăm tách nhỏ cáu ám mầu trà, kế bên là tủ sách cũ đầy tiểu thuyết đã dịch, các tập truyện ngắn riêng ông và tuyển nhiều tác giả… cuốn cũ, cuốn tái bản còn mới tinh. Trên nóc bếp và khu vệ sinh là xép đựng sách vở, tài liệu, cất giữ cả những tờ Văn học in truyện Nguyễn Bản từ thập kỷ sáu mươi, những giai phẩm đã chuyển sắc vàng, dễ vỡ, rơi ra những hạt chữ, nếu người xem không cẩn trọng nâng niu.

Ở làng Ngọc Hà, ông và tôi hay dùng cơm cùng nhau nom ra cái vườn nhà bốn mùa đầy hương mộc, cau và tiếng chim. Những bữa cơm rau sạch, thịt nạc rim, vài chén rượu ngon đủ cho những câu chuyện bất tận về văn chương bao nhiêu thăng trầm đời ông – một người chỉ dạy văn và viết văn, sống đúng nghĩa người trí thức, làm thầy, là nhà văn có tấm lòng sống với ngòi bút sạch trong.

Nguyễn Bản sinh năm 1931, trong một gia đình phong lưu làng Đình Bảng, hậu duệ Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính thuộc đất Đông Ngàn, đất khoa bảng sinh ra tiến sĩ, văn nhân nhiều nhất nước. Cụ Ngô Tất Tố, cũng trong số này. Ông là học trò Trường Chu Văn An, Hà Nội, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ học ở chiến khu, Trường Lương Ngọc Quyến Thái Nguyên. Nhắc đoạn này, ông tự hào nói: Tớ học trò giỏi toán, 1948 đi thi toán học sinh giỏi Đệ tứ của liên khu Việt Bắc cùng Phan Thu – sau là thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Dang dở tú tài, chiến tranh chống Pháp cần người, ông làm việc tại Ban huấn học trung ương đoàn cứu quốc. Năm 1950, do yêu cầu rèn cán chỉnh cơ, lại được cử đi học Trường Sư phạm đầu tiên của cách mạng, thụ giáo các giảng sư bậc thầy hồi đó như giáo sư văn học Phạm Văn Bảng, giáo sư toán Ngô Thục Lanh. Từ 1952, thầy giáo Bản dạy văn Trường cấp 2 Lê Hồng Phong (Hà Giang). Hòa bình, ông quay về Thủ đô học tiếp Trường Đại học Sư phạm văn khoa Việt Nam Hà Nội, rồi tháng 9.1956 về giảng dạy văn Trường trung học Hàn Thuyên (Bắc Ninh). Tháng 9.1971, ông về hưu tại Trường Sư phạm Bắc Ninh. Kết thúc quá trình 21 năm 9 tháng tham gia cách mạng, ông được thưởng Huy chương chống Pháp hạng nhì, Huân chương chống Mỹ hạng nhì.

Học trò ông nhiều người sau là giáo sư, tiến sĩ. Kỷ yếu trường Hàn Thuyên, nơi nhiều giáo sư từng học thầy giáo Bản ghi: Thầy Nguyễn Bản là người có nhiều ảnh hưởng đến sự trưởng thành của chúng ta. Điều ông hay nhắc tới lại là ông đã đào tạo lứa giáo viên có uy tín. Có người đã đào tạo nên nhà văn Đỗ Chu, có người trở thành nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Quang Hà. Nhắc tới giai đoạn này, ông thổ lộ: Dạy văn phải khơi nguồn ở mỗi trò tình yêu con người, quê hương, đất nước. Ngoài tri thức cần dạy cả điều tín, nghĩa, trung thực, công bằng. Cuối 2011, tôi đi Huế thăm nhà văn Nguyễn Quang Hà, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương vang bóng thời đổi mới, người đoạt giải Nhì với “Vùng lõm” ở cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009.

Khi hỏi về thầy cũ, Nguyễn Quang Hà nói: “Thầy Bản dạy tôi không nhiều giờ, dù bao nhiêu năm, tôi vẫn nhớ những tiết học rất hay, rất quyến rũ tụi tôi. Chính ông chứ không ai khác, đã khơi dậy ở tôi tình yêu văn học sâu đậm, để tôi không dứt nổi đam mê văn học. Tôi ơn thầy…”. Hơn nửa thế kỷ, ấn tượng Thầy văn cất giấu trong tâm khảm anh học trò, nay là nhà văn gần 70 xuân, bừng sáng như ánh mắt tuổi trẻ, khi kể về thầy mình! Thật hạnh phúc và cao quý!

Những ngày ở Ngọc Hà, khi nghe ông bàn việc văn, nói về các tác giả kinh điển và hiện đại, tôi cũng phải ngả mũ kính trọng về trí nhớ trác tuyệt và khả năng thẩm thấu tinh tế, xứng đáng bậc thầy của ông. Ông nói về từng tác phẩm với các chi tiết cụ thể. Làm rõ hơi khí từng nhà văn, không chỉ là mẹo luật của nghề, mà còn rõ ra sự đồng điệu với các nhà văn thế giới Pháp, Đức, Anh và Mỹ. Ai, tác phẩm nào, nhân vật hay đoạn văn nào toát lên cái tình yêu con người, nhân loại, điều mà theo ông, bất cứ dạng thức văn học của dân tộc nào, cũng cần đạt tới.

Kiến thức uyên bác, sâu hậu, lại sinh ra trên vùng văn hóa có truyền thống kể trên đã hun đúc nên một Nguyễn Bản – một người thầy nhân học, cũng không chỉ là học, dạy học mà còn cả sự hành.

Nguyễn Bản viết truyện từ năm 1961, bắt đầu từ lòng thương cảm, chia sẻ với một cô gái điếm trên sân ga: Giá trị mới, tác phẩm trên Văn học số tháng 9.1961 đã được Nhà xuất bản ngoại văn Hà Nội dịch ngay ra tiếng Pháp, Anh, Nga. Từ đó, ông mải miết viết tay, trình làng 8 tập truyện ngắn, có mặt trong nhiều Tổng chọn văn học hay. Những truyện ngắn như “Ánh trăng”, “Bức tranh màu huyết thạch”, “Chuyến ly hương cuối đời”, “Rừng đêm cuối năm” hay “Thời chuồn chuồn cắn rốn” sáng tác gần đây đều là cái nhìn đầy chia sẻ, tràn ngập tình yêu thương con người, khát khao hạnh phúc cá nhân. Nhiều trang day dứt, ám ảnh. Văn ông đạt tới độ dung dị, chơi chữ không lộ chữ, câu văn hiện đại, ngắn gọn mà hàm súc. Không thoát ly cuộc sống, khi cần vẫn bày tỏ thái độ, ngọn bút ông rất rõ ràng, chống lại cái ác trong xã hội. Song dù phê phán thì văn Nguyễn Bản vẫn là thái độ điềm tĩnh của một trí thức lớn. Sâu đau mà không hậm hực xóc xách.

Đề cập tới sex, những giai phẩm như “Mùi tóc thảo”, “Cơn lũ” (Giải thưởng báo Văn nghệ) là sự treo sex tới sát ván, nhằm phát biểu về con người, không hề dung tục tầm thường. Viết về tình yêu, đề tài trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Bản đều có ý thức bàn tới tình yêu mà vắng bóng tình dục, là thiếu đi một nửa cái đẹp, có điều phải dùng chữ nghĩa ra sao để sex tuy là cái cớ, là một nửa, nhưng vẫn phải là văn hóa! Và, điều ấy trong văn học Việt đương đại, Nguyễn Bản là bậc thầy.

Nguyễn Bản có vốn ngoại ngữ giỏi như lớp bè bạn cùng thời: Nguyễn Xuân Khánh – Pháp văn, Lê Bầu – Trung văn, Phạm Toàn – Anh, Pháp văn. Tiếp tục là người thầy ở việc truyền bá văn học thế giới, suốt 15 năm tới nay, ông bỏ công dịch 15 đầu sách. Những cuốn kinh điển, người khác đã dịch, ông dịch lại vẫn thành công như Ba người lính ngự lâm pháo thủ – Alexandre Dumas – Cha. “Đỗ quyên đỏ” là cuốn sách bán khá chạy, được giới văn già, trẻ, ai từng đọc đều đánh giá cao. Mấy năm gần đây, ông quan tâm và dịch tới bốn đầu sách của nữ nhà văn Mỹ gốc hoa Anchee Min.

Ông có lý khi yêu nhà văn này bởi văn chương của bà đạt tới độ rất tinh tế về tâm lý, ngào ngạt hương tình yêu, luôn đề cao tư tưởng giải phóng con người, phụ nữ. Sự giao cảm giữa văn hóa đông tây rất rõ ràng qua Anchee Min. Nhà báo Lan Anh và tôi từng nghe ông cao hứng dịch trực tiếp những áng văn của Anchee Min trên vài trang đã đánh dấu cẩn thận, chi chít. Gian nhà nhỏ cũ kỹ, già nua, lạnh giá mùa đông sớm ấy dường như run rẩy trong tiếng đọc của ông. Có lẽ văn chương muốn đạt ngưỡng về thẩm mĩ nhất định, nhất thiết phải cần Một tình yêu lớn với văn học, tựa như đang hết lòng yêu một người đàn bà đẹp. Sang tuổi 81 rồi, ông vẫn say mê giảng cho chúng tôi nghe điều hay, cái đẹp văn Anchee Min.

Tạm biệt người thầy Nguyễn Bản, ôm siết người bạn văn vong niên, tôi vô tình chạm vào cái lưng gù lên của ông. Tết Hà Nội, phố dài hun hút lạnh với dòng người hối hả, chen chúc, vui và vội vã. Tôi hình dung ra, Nguyễn Bản một mình trở về nơi phòng ấy, lại xác lập tự do tuyệt đối cô độc với cây bút và bàn viết. Những bước chân khoan thai trên ngõ cổ Ngọc Hà, giữa đám đông người vồi vội ngược chiều…

Văn chương Nguyễn Bản nói chung khi mong manh như “Ánh trăng“, khi ngầm dữ dội như “Rừng đêm cuối năm”, đều gần gũi, nhân vật và sự chuyện, quen thuộc như da thịt của con người, cho nên truyện ngắn Nguyễn Bản càng đọc nhiều lần càng thú vị. Tựa khi ta nhâm nhi chén rượu hay loại trà hương hạng nhất, có hương và vị dịu đậu, lâu bền.

NGUYỄN VĂN THỌ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *