Nguyễn Đức Hạnh là một nhà giáo, nhìn phong thái thong dong và cốt cách nói chuyện rất mô phạm, chuẩn mực. Tôi đọc thơ của các nhà giáo khác, thường có ý nghĩ và cảm giác rằng họ viết thơ cũng rất sư phạm, bài bản. Nhưng với ông thì khác, thơ Nguyễn Đức Hạnh không hề mô phạm, cứng nhắc vần điệu mà nó tự do như chính cuộc đời; chính cái ám tượng cuộc sống vốn nhiều va đập từ cơm áo gạo tiền đó mà thơ tự nó bật ra.

Tôi có gặp gỡ và làm quen với nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh dịp cả hai, tôi và ông ấy cùng dự trại sáng tác Văn học Thiếu nhi với chủ đề về “Tình yêu biển đảo” tại Đặc khu Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. Để xem tôi có thể nói một chút gì đó mà tôi còn nhớ mang máng về ông? Nguyễn Đức Hạnh là nhà giáo ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, mảng Lý luận phê bình Văn học; thoạt nhìn vóc dáng ông rất khỏe nhất là giọng nói trầm, vang hùng hồn rất thuyết phục người nghe, mỗi khi ông diễn thuyết trong hội trường hoặc nói chuyện hằng ngày. Đặc biệt về văn chương ông nói rất say, rất lâu và rất hay như chính thơ ông trong tác phẩm “Khát cháy” mà ông tặng tôi và tôi đang đọc này vậy!
Tôi đã nghe ông nói chuyện nguyên một buổi sáng về văn chương. Ông nói rất say sưa; trí nhớ rất tốt; ông thuộc làu làu rất nhiều thơ của rất nhiều tên tuổi lớn; cộng với sự đọc nhiều, sự nghiên cứu nghiêm cẩn sâu và rộng của ông; nên thông tin mà ông viện dẫn ra để minh chứng và truyền đạt cho đối tượng nghe không khác gì một luật sư đang hùng hồn bào chữa cho thân chủ trước phiên tòa vậy. Tôi nghĩ mình rất nể ông ở điểm này! Thảo nào người ta thường hay nói: “Học cao hiểu rộng” là phải rồi! Trọng nhân tài, vốn là phẩm hạnh của bậc học giả. Tuy nhiên tôi cũng tự khắc biết mình là dân Nam Bộ sống vốn sống phóng khoáng và nhiều khi bỗ bã; còn người Bắc như ông luôn nói năng chừng mực, rào đón và sâu sắc. Tôi thì ở đầu bên trong Nam, ông thì ở tuốt tận đầu bên ngoài Bắc của đất nước; và nay tôi cũng thử mạnh dạn dám viết vài dòng về thơ ông, theo sự cảm nhận của trái tim vốn cảm tính của mình, chẳng khách sáo, dạ thưa gì, là vậy!

Tập thơ “Khát cháy” gồm 95 bài thơ với hai ngôn ngữ Việt- Anh, do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2025. Sách in bằng giấy đẹp sang trọng. Ấn tượng ngay bằng bài thơ đầu tiên, sau lời giới thiệu của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế. Bài thơ có tên: “Bã trà”. Cái xác trà (bã trà) này nghe quen lắm. Quen đến nỗi, nhớ ngày xưa còn bé tôi hay pha trà cho ông nội tôi uống, mỗi lần pha, là phải xúc bình trà cũ, để pha cái mới. Có lần thấy bình trà cũ quá, do chất nhựa trà đóng, dính dày trên thành bình. Tôi cố gắng lấy tro bếp cố cọ thật kỹ, bình trà trông thấy mới tinh và óng ánh chất men sứ của bình cổ. Tôi nghĩ, đem bình vào pha trà chắc là ông nội tôi sẽ khen dữ lắm đây!
Đang hí hửng trong lòng thì ông nội tôi thấy rồi cười hiền bảo: “Cháu cọ rửa bình sạch thế này, thì uống trà sao còn ngon được nữa?”. Tôi thấy lạ lắm? Ông lại bảo: “Uống trà cũng giống như uống cà phê vỉa hè vậy! Người ta uống cà phê không hẵn là ghiền cà phê mà là ghiền cái bàn ngồi với bạn uống cà phê mỗi ngày! Nghĩa là ghiền bạn, ghiền hơi ấm của người đối ẩm. Cà phê chỉ là cái cớ thôi cháu ạ! Trà cũng vậy, cái bình sạch quá nghĩa là bình đó ít được pha trà, mà ít được pha trà nghĩa là ít có người để đối ẩm. Hỏi có buồn không?”. Thật ra khi đó tôi lơ mơ không hiểu nhiều lắm về điều ông nội tôi cắt nghĩa. Nhưng tới giờ càng già rồi, tôi mới thấm thía và đôi khi rớt nước mắt khi nhớ về ông, về cái bình trà xưa, xa lắc đó!
Trở lại bài thơ: Bã Trà (trang 28), chỉ ở khổ thơ đầu thôi, tôi đọc đã rợn tóc gáy: “Trà nát thương người nát/ Bã trà phảng phất thơm/ Nước sôi dìm thân phận/ Nước nguội ngâm cô đơn”. Dạ thưa, khổ thơ có ngôn ngữ thơ cô đặc; nó kẹo đến nỗi tôi hình dung nó kết dính gần như đen thui trên men gốm bình trà của nội tôi ngày xưa. Đúng là nước nguội ngắc không ai uống nữa ngâm cái “bã trà”. Nó lạnh lẽo đến đơn độc, cô quạnh mà thê thảm biết đến chừng nào? Thơ không chỉ là thơ nữa mà nó còn là hơi thở, chạm đến từng xúc giác người đọc!
Nguyễn Đức Hạnh là một nhà giáo, nhìn phong thái thong dong và cốt cách nói chuyện rất mô phạm, chuẩn mực. Tôi đọc thơ của các nhà giáo khác, thường có ý nghĩ và cảm giác rằng họ viết thơ cũng rất sư phạm, bài bản. Nhưng với ông thì khác, thơ Nguyễn Đức Hạnh không hề mô phạm, cứng nhắc vần điệu mà nó tự do như chính cuộc đời; chính cái ám tượng cuộc sống vốn nhiều va đập từ cơm áo gạo tiền đó mà thơ tự nó bật ra; có câu thơ thoát thai bay lên lấp lánh đẹp đến ngỡ ngàng: “Sáng mai đếm vết hằn lưng mẹ/ Con khóc như đê vỡ nửa đêm/ Giờ con ngoan rồi roi đời tơi tả/ Kéo mưa che cho mình”. Hoặc là: “Lời mẹ dặn dệt thành bao tải/ Con là con nghé hiền mặc suốt mấy mùa đông”. Hay là: “Bụng lép. Nửa đêm nhai sương mù mòn răng? Húc đổ bờ rào nghìn tuổi/ Nhầm bờ rào là mẹ/ Ngậm vào trăng. Bú mãi tiếng khóc thầm.”. (Mẹ ơi, con vẫn chỉ là con nghé, trang 44, 45).
Hình tượng thơ, trong thơ ông thật đắc địa, nhiều câu thơ, khổ thơ như chạm khắc từ đá núi của riêng ông mà tôi cho rằng rất có thể còn một khoảng thời gian dài nữa trải qua mưa nắng những câu thơ ấy vẫn có thể trơ như đá sừng sững trụ lại và chạm được vào lòng người đọc: “Nhà dột mang hết xoong nồi ra hứng/ Mẹ hứng bằng đôi mắt trũng sâu/ Mưa đong đầy rồi tràn ra ngoài mắt mẹ/ Ướt sũng con đang ngắm ngọn đèn dầu”(Mẹ ơi con nhóm lửa rồi, trang 40). Hay là một “hình tượng” thơ độc đáo về con đường, ta cứ nghĩ như là đường Cái quang, đường Tàu hỏa, hay cũng có thể là đường (Tàu) bay, nhưng ông lại nghĩ “hành trình” này ở một con đường khác, con: “Đường xuyên hai thế giới…/Đi từ DƯƠNG sang ÂM và ngược lại/ Vịn tay vào bao linh hồn/ Trăng khải huyền xa quá/…Cháo lú nấu ở đâu nhiều quá/ Múc làm sao cho kịp kẻ qua cầu”. Cầu ở đây, không phải cầu bắt qua sông, mà là cầu “Nại Hà” bắc qua sự tái sinh! Ông cũng luận ra rằng: “Rồi những ai đi qua con đường ấy/ Sẽ tin lời buồn bã của tôi…”. Vâng, ông nói vậy, dự cảm vậy, mà ai không tin thì tùy ý. Nhưng tôi thầm nghĩ Phật đã dạy rồi còn gì? “Đời là bể khổ” cơ mà? Lời “buồn bã” mà ông nói sao giống lời Phật nói y hệt, vậy!
Thơ ông quả thật, khó đọc, tôi đọc chừng vài mươi bài, lại phải dừng lại, đi dạo, ngẫm nghĩ và ghi chép. Hoặc cũng có thể tôi dừng lại đi làm việc khác để vừa làm vừa vặn volume cho óc tưởng tượng của mình vừa khớp chạm tới ngôn từ ông dùng để may ra cho sự cộng hưởng thăng hoa. Hoặc đôi khi, đọc thơ ông đến độ ức chế, sự kìm nén bức bách của ngôn từ quá, dẫn đến phải thả lỏng nghỉ ngơi như trong Yoga có bài tập hít thở và thả lỏng toàn thân để thế giới ngôn từ và con người phàm tục của ta có thể gặp nhau ở khoảng không gian trống rỗng nào đó thanh khiết và dung nạp; phần nữa là sợ đọc một lèo hết tập thơ của ông, người đọc như tôi lại cảm thấy uổng và tiếc, nên để đọc dần dần, như kiểu nhâm nhi là vậy!
Như món mồi nhậu miền Tây, nấu nướng, bày biện ra mâm rồi, chủ nhân phải mời cho được bạn nhậu (bạn hiền), nếu không nó cũng nhạt; có bạn rồi, phải thủng thẳng, uống từ tốn, nhâm nhi, nhấp một ngụm rượu ngon, nói một lời hay ho, phải gắp một miếng mồi… đưa cay. Mới thấu cảm! Cứ thế tiệc tàn, chủ nhân và khách mời tâm trạng đều thư thái, nhẹ tênh ra về một cách mãn nguyện: “Chơi vậy, nó mới đã!”

Với 95 bài thơ trong tập thơ “Khát cháy” của Nguyễn Đức Hạnh, theo tôi bài nào cũng hay, cũng đáng đọc với gần 300 trang sách, song ngữ Việt-Anh. Tôi không rành tiếng Anh lắm nên chỉ đọc phần tiếng Việt. Tập thơ nặng, như một cuốn tiểu thuyết bằng thơ dài hơi, nặng về trọng lượng và cả về số lượng tri thức, thông tin và tình cảm thơ ông mang lại. Ông viết đủ mọi đề tài, mọi góc cạnh của đời sống nhân sinh và tình cảm. Tri nhận, và biện giải về thế giới quan, nhân sinh quan mới mẻ, thông qua hệ quy chiếu sử dụng ngôn ngữ riêng, đặc thù, kêu bằng có: “Võ công!”. Tôi rất thích!
Để kết lại bài viết này tôi xin được phép mượn lại lời nhận xét của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế nhận xét về ông nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh: “Mạo định, Khát cháy sẽ là tác phẩm quan trọng nhất của Nguyễn Đức Hạnh – văn nhân “bảo bọc” xứ mây ngàn, Việt Bắc đang độ sung mãn nơi chiếu văn mặt báo. Một tập thơ có đóng góp về cấu trúc, cũng như nghệ thuật ngôn từ và thi ảnh được phóng chiếu làm mới, vượt qua cái sơ xáo do thiếu hụt nghiệm sinh đời sống.”.
Vâng, thơ Ông là vậy, giàu triết lý sống, ám tượng đa chiều và giàu năng lượng!
TRẦN THANH DŨNG
















