Nguyễn Tiến Thanh – càng đau đời càng lãng tử

Sự trở lại thi đàn của Nguyễn Tiến Thanh với ba tập thơ vạm vỡ trong vài năm trở lại đây đã gây nhiều cảm xúc cho bạn đọc, bạn bè và những người yêu quý thơ anh. 

Có thể thấy, thơ trong anh vẫn lằng lặng như than đỏ vùi trong muội tro. Chiều không tên như vết mực giữa đời (Nxb Văn học, 2021),’’ Loạn bút hành’’ (Nxb Hội Nhà văn, 2021); ‘’Viễn ca’’ (Nxb Văn học, 2024) đã khẳng định, gọi tên căn tính thi sĩ của anh. Qua các thi tập, Nguyễn Tiến Thanh có những dịch chuyển về ngôn ngữ biểu đạt, thi ảnh, đề tài, nhưng âm hưởng chung của cả ba tập thơ là nỗi buồn, ngấm lặng đa mang, cho cuộc người, cho những dở dang, cho mênh mang thế sự…

Càng đau đời càng lãng tử, cái chất bay bổng lãng mạn trong thơ anh như một thứ kết dính nhẹ nhàng mà sâu lắng với người đọc.

Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh

Tuổi đôi mươi với căn tính xác lập

Nguyễn Tiến Thanh đánh dấu sự trở lại với thơ bằng tập thơ ‘’Chiều không tên như vết mực giữa đời’’. Đây là tuyển thơ của anh từ những năm tháng sinh viên hoa mộng. Ở tuổi đôi mươi, Nguyễn Tiến Thanh đã xác lập căn tính thơ với nét thơ bay bổng lãng mạn, vẻ đẹp ủ trầm trong giăng mắc buồn vợi. Những bài thơ đầu tay theo thể thơ truyền thống lục bát, hay thể năm chữ, bảy chữ chặt chẽ cấu trúc, với sự kết dính ngôn ngữ và thi ảnh đã cho thấy năng lực sáng tác và cảm nghiệm của anh. Từ những năm 1985, anh đã viết những câu thơ ngọt đằm: “Em mười sáu tuổi hay chưa/ Mà qua ngõ ấy ta ngơ ngẩn buồn” (Lục bát tuổi trăng tròn).

Hay ở những tọa độ khác của nỗi buồn, men ký ức ủ ngấu, sự nhạy cảm của tâm hồn thi sĩ đã vô hình trung tạo dựng nơi anh một không gian khác song hành. Những lối mở của con đường anh đi là độc hành, cô đơn, vô định: “Nước mắt trong và rượu cũng trong veo/ Men rượu đắng nhưng ấm lòng tê tái/ Xin hãy hát tình ca không trở lại/ Đi và đi, rồi đi nữa, cho quên// Để một ngày như lá rụng bên thềm/ Hai mươi tuổi ném thân vào cô độc” (Chặng đường tuổi 20 – viết 1986).

Nguyễn Tiến Thanh đã sớm nhận diện được sự mong manh, những cũng dai dẳng và xa ngái của ái tình; nhận diện những điều đang diễn ra quanh mình. Anh đi tìm những giải đáp, tự chất vấn, khúc xạ vào tâm hồn trên hành trình cô độc để giải mã. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ xuất thần của nhà thơ Nga Chiutchev: Bằng tất cả thiên nhiên, vật lộn/ Chính chúng ta lại đâm bổ vào mình. “Đâm bổ vào mình”, có nhiều cách cắt nghĩa. Nhưng có lẽ, đôi khi chúng ta sẽ tự vấp bóng mình mà chân nhận ra điều gì đó, dù là khổ đau, vui sướng, hay một ngẫm nghiệm tồn sinh cá thể. Nguyễn Tiến Thanh nhạy cảm với những chuyển rung của tạo vật, dễ rung cảm với cái đẹp. Những câu thơ của anh ở tuổi mười tám, đôi mươi thấp thoáng bóng giai nhân, để những chiều kích trong thơ anh giãn nở, cơi nới khu vườn trữ tình.

Anh lang thang trong khu vườn ấy, chậm rãi nghe tiếng thời gian đổ giòn từng cuống lá lạo xạo dưới chân, bất ngờ những rung cảm trước một bông hoa hé nở, đủ cứu vãn một nỗi u hoài ngỡ như ngun ngút: “Nghe lá vỡ dưới chân mình hun hút/ Ngỡ tóc ai dài hơn cả con đường/ Châm điếu thuốc, đem tháng ngày ra đốt/ May mà còn gặp được quỳnh hương” (Quỳnh hương – viết 1988). Hoặc: “Nhưng dẫu ngàn lần ta nhắc gọi/ Tình xưa em ném dưới chân trần/ Ta nghe lá vỡ lần sau cuối/ Yên nghỉ tình xưa dưới mộ phần” (Tình xưa – viết 1989). Đẹp và buồn, như tên một tác phẩm của Kawabata Yasunari, số phận của tình yêu và nghịch cảnh đã tạo nên những mê lộ của nỗi buồn. Cái đẹp, lại oái oăm thay phát tích từ những vỡ vụn như thế trong thơ Nguyễn Tiến Thanh.

Trong ký ức về “Người và thơ ở Tuyệt tình cốc Mễ Trì” (Phụ lục I, Chiều không tên như vết mực giữa đời), Nguyễn Tiến Thanh nhắc tới những người bạn đặc biệt, say đắm triết học, dọc ngang trời đất, phiêu khoáng và lung lạc. Và thơ, với họ như một thứ trị liệu tâm hồn, thơ bắt nhịp những kết dính đồng điệu, thơ nung đỏ những khao khát tỏ bày, thơ kéo những gã lãng tử về phương trời viễn mộng. Họ bao dung, độ lượng, thấu hiểu và san sớt nhau trong sự tương thông nhịp điệu, của thơ.

Bởi vậy, khi nhìn lại quá khứ, Nguyễn Tiến Thanh đã dành những trân trọng: “Hồi ức đôi khi là vết đâm ngọt vào năm tháng, nhưng chắc chắn những câu chuyện về tình bằng hữu, tình đồng môn không bao giờ là dao nhọn”. Ký ức về những trang thơ chép tay trên giấy vàng, những buổi lang bạt ở các giảng đường đọc thơ, chia sẻ về thơ, những cuộc cạn chén tự tình say sưa quánh quyện men rượu men thơ, đã tái hiện không khí sáng tác thuở bấy giờ. Có thể thấy, họ là những con người đau đáu, sớm có những ý thức về thơ, sớm xác lập bản sắc, bản vị của mình.

Claude Lévi-Strauss từng viết: “Con người chỉ khác nhau, thậm chí chỉ tồn tại, qua tác phẩm của mình. Như tượng gỗ sinh ra từ thân cây, chỉ có tác phẩm nghệ thuật mới chứng tỏ được hiển nhiên, rằng qua thời gian giữa người với người, có cái gì đó đã thực sự xảy ra”. Trong bài ‘’Tự mộ’’ viết năm 1986, nhà thơ tự phác tạc mình: “Đây là tôi, hòa hợp của đọa đầy và yêu thương. Sự hiện diện của tôi trên cõi nhân thế này là một cố gắng của tạo hóa để bù đắp vào những thiếu hụt bao la của CON NGƯỜI/…/ Cuộc đời tôi nhuộm màu lữ thứ, bởi vì tôi mãi mãi kiếm tìm. Sự kiếm tìm ấy không phải hành trình đến với Chúa, cũng không phải bước đi dò dẫm những điên cuồng của sa ngã kêu gọi, mà đó là cuộc hành hương trong tâm hồn, trong ý tưởng để đến với bản thể chân chính của tôi với sự phụng thờ duy nhất là NGHỆ THUẬT”. Để rồi, gã lãng tử tuổi đôi mươi ấy bật lên tiếng vọng buồn, chỉ biết tựa nương vào thơ, xem thơ như một cứu cánh: “Âu là ta dành nước mắt, dành tiếng hát cho riêng ta, với thơ và với mãi mãi”. Với tôi, Tự mộ là một bài thơ, có dòng chảy tự sự, nhịp điệu và thông điệp. Tự mộ cũng là một nhận diện sâu sắc của Nguyễn Tiến Thanh về bản thân, về những lựa chọn của anh, và nó như một xác tín của anh với thơ, định hình một bản vị với dòng thơ lãng mạn, bước ra từ những nỗi đau, rất người, rất đời.

Gói phù du trong vạn dặm độc hành

Đọc thơ của Nguyễn Tiến Thanh, những sáng tác của anh từ thuở đôi mươi đến những bài thơ xuất hiện vài năm gần đây, khiến tôi nhớ về những nhân vật hiệp khách của Kim Dung, Cổ Long. Họ là những lãng tử khí ngạo hơn người, cốt cách phóng khoáng tiêu sái. Họ bứt thoát ra những ràng buộc quy củ, xa lánh những giả lả phấn son, ngán ngẩm những lề thói cũ kỹ, định kiến trói buộc. Bởi vậy, từ chốn khẳm vực tối tăm, hoang mang và ngờ vực, nhà thơ đã tự giác ngộ: “Thoạt đầu là sự mời gọi xanh thẳm đầy bí ẩn của đáy vực yêu thương/ Rồi đến một bâng khuâng của thanh tân bị giam cầm trong ngục tù bất ổn/ Sợ hãi và băn khoăn/ Và cuối cùng là một cú trượt ngã dịu êm mà số phận ban phát cho ta trên lối mòn nhân sinh rong rêu/ Để chợt nhận ra rằng: định kiến thực ra chỉ là một mộ phần chôn cảm xúc” (Giác ngộ trong cơn đói của chân trời).

Có lúc, trong âm hưởng của thể hành, Nguyễn Tiến Thanh gợi lại hình ảnh người xưa, của bậc tráng sĩ chí lớn vì thiên hạ mà vượt sông Dịch: “Thì sông cứ chảy như ngày ấy/ Có một người đi chẳng trở về/ Gió bấc thổi, hề, sông Dịch lạnh tê/ Tráng sĩ một đi, ta ngoảnh lại:/ Môi chiều/ Tóc mộng/ Mắt sơn khê” (Loạn bút hành). Kinh Kha hành thích Tần vương bất thành. Còn Nguyễn Tiến Thanh “hành thích” nỗi buồn nhưng chỉ nhận lấy một đăm đăm muộn sầu trùng trùng chiếm ngự, để rồi anh bị “mắc câu” nơi con đường biền biệt dấu chân ai…, bị vùi chôn đến hoang mang trong thế giới đã hết xanh non, chỉ còn mộ địa, nỗi buồn cát cứ một phương trời đày đọa: những câu thơ nện vào tim tàn phế.

Như trăm nẻo sông buồn đổ về bể cô sầu, thơ của Nguyễn Tiến Thanh mang đậm âm hưởng của nỗi buồn. Rời rã, đứt gãy, xót đắng… trong bao nỗi người, nỗi đời. Trong hành trình thi sĩ, cái buồn nẩy nở, dây dưa, có lúc chiếm ngự trong thẳm sâu đơn độc. Có lẽ, điều ấy không tốt cho tâm trạng một con người bình thường trong kiếp nhân sinh mong cầu sự cường tráng của thể chất và đủ đầy của năng lượng, nhưng ở một góc độ nào đó, lại chắp cánh cho sáng tạo, để mỹ cảm về nỗi buồn thêm phần lăng lệ. Thì đây: “Trĩu vai một gánh sương mù/ Nát tim từng giọt mưa phù vân rơi” (Bởi vì mây bay). Càng trĩu lòng, càng lãng tử. Nỗi buồn và sự bay bổng lãng mạn như một cặp phạm trù nâng níu nhau trong thơ của Nguyễn Tiến Thanh.

Khảo sát trong các tác phẩm cụ thể, ta dễ thấy điều ấy trong thơ anh. Ngay trong bài lục bát Đưa đã có những chuyển biến giữa các trạng huấn ấy: “Đưa Quen về cuối con đường/ Nghe hun hút gió vô thường trong tim đến Đưa Yêu về cuối yên bình/ Một ngây thơ, vỡ muôn tình thanh tân”. Hoặc ở bài thơ Sa Pa, sự dịch chuyển từ “nắng tàn như cỏ dại”, “hoang vu”, “bơ vơ” đã đi đến một tạo chất của trữ tình “ta phơi mây trên những đỉnh sương mù”: “Chiều gieo chút nắng tàn như cỏ dại/ Tà dương này mấy độ hoang vu/ Không thể cắt bơ vơ bằng liềm hái/ Ta phơi mây trên những đỉnh sương mù…” Cũng cần phải nhìn nhận, câu thơ “Không thể cắt bơ vơ bằng liềm hái” là một câu thơ hay, tạo ấn tượng mạnh về mặt liên tưởng thị giác và xúc cảm, bật sáng một phẩm cách thi nhân.

Trong các tập thơ của Nguyễn Tiến Thanh, sự “xê dịch” trong anh không chỉ ở điểm thay đổi không gian địa lý, mà còn nằm ở sự chuyển biến của tri nhận. Là nhận ra mình trong sự vận động của vũ trụ, nhận ra mình khi soi mình vào một đối tượng trữ tình khác. Có những sự lựa chọn luôn bị đính kèm với nỗi lằng lặng xa xót. Đó không hẳn là chấp niệm, mà đơn giản là một-sự-lựa-chọn để mình là mình nhất. Nên có khi, anh chọn mình là/ như một “ngôi làng nhỏ” có lửa ấm, có khói lam chiều, có kiên định và nhẫn nại: “Nên trong suốt những tháng năm mặt trời soi sáng nhân gian/ Dù người luôn muốn một thế giới rộng lớn/ Ta vẫn chỉ là một ngôi làng nhỏ/ Với những ngọn lửa ấm/ Khói lam chiều bay lên giấc mơ” (Chúng ta không trở thành quá khứ của nhau).

Dù là buồn trong tình đời, cõi người, thì cái buồn tựa hồ như mây, lãng đãng một phương trời: “Thưa mây, có một vô thường/ Vừa trôi qua ngã ba đường trăm năm/ Chong đèn ngồi uống lặng im/ Hóa ra rượu đã say mềm cơn mưa” (Báo cáo). Trên nẻo đường cảm nghiệm, Nguyễn Tiến Thanh gói phù du trong vạn dặm độc hành để gắng “nhặt niềm vui trên mỗi dấu chân người…”. Vui đó, rồi đớn đau đó, biên độ xúc cảm của Nguyễn Tiến Thanh lớn và dường như bị dao động mạnh. Và ở đó, lặng sâu trong nỗi niềm thi nhân là nỗi nhân sinh của một tâm hồn nhạy cảm, trên bước chân viễn ca là những nghiệm sinh buồn và đẹp: “Ta đi rời rã cánh đồng/ Lúa chưa thiếu phụ đã đòng đòng thơm/ – Xin dừng chân trước chiều hôm/ Thắp hoàng hôn suốt một cơn say dài.// Ta đi tái nhợt chân trời/ Đường chưa thăm thẳm đã vời vợi mây/ – Xin dừng chân trước mai ngày/ Viễn ca một khúc mà đày đọa nhau…” (Viễn ca).

Ngồi trong cõi mộng hát lời tim đau

Nếu thơ vuột khỏi hiện thực, náu nương mình nơi xa xăm mộng ảo, thơ rồi sẽ ra sao, liệu có như gã hành khất đi ngang trời chạng vạng rồi vụt mất trong khẳm sâu bóng tối? Càng xác lập khái niệm, đi tìm một định nghĩa, tìm một mẫu số chung cho thơ để đi đến khẳng định thế nào là thơ, thế nào là thơ hay, e rằng sẽ miên viễn vô chừng. Nhưng nếu thơ không được di dưỡng bằng một tình yêu mãnh liệt; không bước ra từ hiện thực đớn đau; không bật mầm từ những trải nghiệm máu xương, những đọa đày trong hỗn mang ý nghĩ từ đa sắc cuộc sống, nhân sinh, thế sự…, thì liệu thơ có ở lại được tọa độ nào của cảm xúc? Hay đơn thuần chỉ còn là những óng ả câu chữ, của những cố gắng vặn vẹo để lấp đầy khuôn giấy nhưng chỉ càng chứng tỏ sự bất lực của xúc cảm và tư duy nghệ thuật? Ở một khía cạnh nào đó, tôi nghĩ rằng sự trắc ẩn cũng là một yếu tố quan trọng trong thơ, cung cấp cho thơ một câu chuyện trong độ nén ngôn ngữ diễn đạt. Nữ nhà văn, triết gia người Mỹ Susan Sontag trong các tiểu luận sắc sảo về nhiếp ảnh, bà từng đề cập đến yếu tố khoảnh khắc.

Khoảnh khắc lưu dấu, bắt chợp, mang một ý nghĩa to lớn với giá trị về mặt lịch sử, phục dựng không gian và chiều sâu của suy nghiệm. Khoảnh khắc trong nhiếp ảnh là sự độc bản. Còn khoảnh khắc trong thơ, là cái vụt hiện của thi tứ, của một sát na mà tự thẳm sâu tâm hồn bất chợt nảy nở và bùng vỡ, chiếm ngự. Quay trở lại những sáng tác của Nguyễn Tiến Thanh ở tuổi đôi mươi, có lúc, lòng trắc ẩn của ông hiển hiện qua những hình ảnh cụ thể, có khi là khoảnh khắc bắt gặp một người phụ nữ bán hàng rong bên sân ga, mắc xích trong ông với những thân thương, đức hy sinh của người mẹ.

Cứ vậy mà thơ trở nên dung dị và xúc động, không cần những dụng công cầu kỳ nào: “Sẽ chẳng bao giờ sân ga nhỏ hết mưa/ Như đời mẹ bao giờ vơi nỗi khổ/ Con của mẹ lớn lên từ bão gió/ Muôn đèn đường đốt đỏ tuổi 20” (Sân ga chiều đừng mưa – viết năm 1988). Sân ga chiều đừng mưa là một lát cắt lẹm sâu vào đời sống, khởi đầu cho một mạch chảy trữ tình thế sự trong thơ anh. Về sau, những sáng tác của anh chất đầy những niềm nỗi về nhân tình thế thái, về long đong phận người, có lúc ẩn dụ kín đáo, khi bật lên hiển ngôn.

Theo tôi, cái thực đôi khi cần phải là chính nó để cất lên tiếng nói chân xác nhất, quyết liệt nhất có thể. Việc “mô tả” chân thực lại những chuyển động cảm xúc, nội tâm trong ta, luôn là một điều không dễ dàng. Chúng ta cần đến thơ, không là một diễn giải nhưng thơ bắt những nhịp cầu liên tưởng cho những hình dung trong ta, tựa như thước phim 3D trong không gian của tâm hồn mỗi người sẽ cho những nghiệm thấu riêng biệt. Trong chừng mực nào đó, tôi đồng quan điểm với nữ nhà văn Pháp Annie Erneux – Nobel văn chương 2022 khi bà nhắn gửi thông điệp với người viết, diễn ý là khi sáng tác, ngoài việc đọc nhiều, thì cần “cố gắng viết một cách trung thực”. Trung thực với những va đập xúc cảm, với những trải nghiệm riêng có, những gần gụi thấu hiểu nhất của người viết, khi ấy, thơ như một thứ rượu được ủ ngấu, cho ra cảm vị nồng nàn như được rót cùng tri kỷ.

Ở góc độ công dân, Nguyễn Tiến Thanh đã cất lên tiếng thơ bằng trách nhiệm. Như trong thi phẩm Thôi xin cho một lạy này, phép so sánh “dân là trời” biểu hiện rõ ràng một quan điểm. Nhà thơ đã đưa đến một phép so sánh khác để thi vị hóa hết thảy, đặt để thế sự trong đôi mắt lãng tử khi ví “dân” là “người mình yêu”: “Xin cho qua hết nợ nần/ Xin cho ấm áp tình dân trong đời/ Mới hay dân chính là… trời/ Phụ dân là phụ chính… người mình yêu (Thôi xin cho một lạy này).

Ở hai tập thơ sau của anh, Loạn bút hành và Viễn ca, thơ anh dày hơn ở cảm hứng thế sự. Như ở tập Viễn ca, có nhiều bài chạm tới những ưu tư đương đại, tiêu biểu như bài Chợt đọc, anh viết: “Những trang sách đốt đền mua danh sàm ngôn trong ngôi nhà của tính thiện/ Đường bay của những viên đạn ngôn ngữ cay độc và bạo phát/ Bắn vào lòng tốt/ Làm chảy máu lương tri/ Những thi hứng định nghĩa thơ bằng chất thải/ Thâm hụt nhân văn, lạm phát điên rồ/ Hạ sát thi âm, chôn xác nhịp điệu/ Ý tưởng hoang đường cấp đông giấc mơ/ Những con chữ lên cơn co giật bởi bệnh động kinh hình thức”.

Thơ bước ra từ nỗi đau, có khi như hơi thở hắt vào thinh không, nhẹ bẫng tan vào hư ảnh, nhưng không vụi tan, mất dấu mà dây dưa khiến ta ngẫm ngợi. Bài thơ Ngủ quên trên vai hoàng hôn trong tập ‘’Loạn bút hành’’ là một trong số ít những bài thơ văn xuôi của anh được đánh dấu là “đoản khúc” thể hiện rõ điều đó. Qua một “giấc cô miên”, qua bao niềm suy nghiệm, sự rệu rã mỏi mệt kiếp mưu sinh đã ăn mòn những xúc cảm, có lúc anh phải thốt lên: Đáy tim mình như cánh đồng sau mùa gặt/ Những cuống rạ cảm xúc bị cắt sát gốc.

Nhưng rồi, sau những dồn nén đớn đau, anh kết lại bài thơ bằng một câu hỏi nhẹ nhàng – con đường có nhớ ta không? Mỏng mà sâu, đủ nhoi nhói gợi những ngợi nghĩ nơi người đọc: “Kể từ ngày bỏ những mùa mây trắng mà đi/ Mang theo câu hỏi bồng bềnh như khóm lục bình mênh mang màu mực tím;/ Tháng năm ơi, mày lạc bước nơi nào/ Khi sự nghi ngờ hạ sát lòng tin và dìm chết niềm hy vọng?/… / Đó cũng là lúc suy tưởng giống như khởi đầu của cử chỉ tự vẫn/ Xô đẩy ta về một không gian đông cứng/ Làm bùng nổ một hố đen, một sát hại, một nguyện cầu…/ Hơn là một ký ức. Mật ước với thiên thu bị xé bỏ/ Tự giải tà cho một ám ảnh tiền kiếp/ Và tự hỏi chính mình rằng: sau cơn mưa chiều náo động, con đường có nhớ ta không?” (Ngủ quên trên vai hoàng hôn).

Nguyễn Tiến Thanh là một nhà báo, anh có những trải nghiệm và góc nhìn riêng từ đặc thù nghề nghiệp, để nhận diện ra những bất thường trong đời sống chung quanh. Có lúc anh nói “làm báo giết văn”, nhưng chúng ta cũng không thể nào chối bỏ những mắc míu giữa báo và thơ. Cảm tưởng trong thơ Nguyễn Tiến Thanh, những ký sự bằng thơ đã phát huy tác dụng, mang đến nhiều hiệu ứng cảm xúc. Có khi, những chi tiết được lọc gọn, sự bày xếp chuỗi hình ảnh từ phận người và cái tôi trữ tình quyện lấy nhau, nỗi đau đời và chất lãng mạn thi sĩ đã có cuộc hôn phối ngang trái, để thơ bật lên da diết, sâu lắng: “Loạn ly kẻ bán người mua/ Vết chân cũng mỏi tái mùa tha hương/ Mây liêu trai, nắng vô thường/ Tim như lá rụng cuối đường hiện sinh” (Chợ trưa).

Hay: “Mặc chiều nay/ Chiều nay/ Cơn mưa buồn lang thang/ Chiếc xích lô cô đơn/ Lăn bánh qua mùa thu góa bụa/ Ở ngoài phố có rất nhiều nỗi nhớ/ Cứ rơi vàng mỗi lối heo may” (Hoang tưởng). Hoặc trong cảm hứng đương đại, anh quan sát dưới “con mắt thơ”: “Một con phố đáng làm nơi ta sống/ Lối đi về hư ảo những comment/ Nơi ẩn náu của những thằng ăn trộm/ Đạo ân tình hay đánh cắp trái tim” (Facebook 3). Và, riết róng nhìn về cuộc thế sự: “Đời là một chiếc ống bơ/ Lăn trên số phận, chẳng ngờ lăn xa/ May – thì rung chuyển sơn hà/ Rủi – thằng nhặt lá đá òa cơn mưa” (Tự khúc).

Thơ Nguyễn Tiến Thanh không xa rời hiện thực, mà như một ủ ngấu hương vị nhân gian, đau trong những chặng dài, nhưng như anh đã viết “Trời sinh ra một giống nòi/ Ngồi trong cõi mộng hát lời tim đau”. Nỗi đau càng giằng xóc, càng thấy chất lãng mạn thi sĩ hiển hiện, tô đậm thêm bản sắc thơ bản sắc lãng tử của anh.

VÂN PHI

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *