Tản văn của Vương Thư: Những mùa trăng cũ

Ngay cả vùng nông thôn, xa trung tâm phố thị gần 10 cây số thì cứ 7 giờ tối là đèn điện sáng trưng, soi tỏ mọi ngõ ngách đường làng. Ánh điện soi sáng hàng cây hai bên đường, soi rõ  từng cánh hoa, cành lá của những cây cảnh người dân trồng tô điểm cho ngõ văn minh, ánh đèn dẫn lối cho các bà, các mẹ đi tập thể dục, ánh đèn soi rõ cả làn nhựa bóng bẩy của con đường dẫn vào trung tâm xã… Và tự bao giờ “vầng trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường”? Ai nhớ những mùa trăng năm cũ?

Tác giả Vương Thư hiện là giáo viên Trường THCS Kim Đồng, Đô Lương, Nghệ An.

Đó là mùa trăng của những thập niên 80, 90 của thế kỉ trước. Trăng là người bạn thân thương, gần gũi và vô cùng giá trị với con người. Trăng soi tỏ không gian cho gia đình sum họp. Biết bao bữa cơm chiều chờ ánh trăng lên. Trong bữa cơm nghèo độn khoai, độn sắn mà rộn rã tiếng cười, ấm áp tình thân. Dưới ánh trăng cha kể chuyện về chị Hằng, chú Cuội, chuyện thỏ ngọc đến ở với chị Hằng. Dưới ánh trăng mẹ lại tỉ mỉ khâu từng chiếc cúc áo, chắp vá những chỗ sờn, chỗ rách. Dưới ánh trăng chị em sẻ chia những việc nhẹ giúp mẹ cha. Ấm áp, yêu thương và trọn vẹn, nghĩa tình. Vầng trăng đẹp, vầng trăng cao vời vợi!

Trăng còn rủ rê đưa bọn trẻ con cùng chơi trò đuổi bắt, trăng gắn kết bạn bè thêm thân, trăng san sẻ nỗi niềm. Những câu chuyện không đầu, không cuối được rủ rỉ dưới ánh trăng thanh. Trăng nghe hết và trăng thấu hiểu. Nên trăng sáng soi cho rõ nét nụ cười. Trăng vỗ về, trăng ấp ủ những ước ao. Ôi, vầng trăng Cổ tích!

Tôi cũng chẳng thể nào quên vầng trăng là bạn cùng người nông dân tát nước đêm. Ánh trăng soi giúp đỡ người dân đưa nước vào ruộng để lúa được reo vui trong những ngày nắng hạn. Trăng thương người ban ngày nắng nóng, oi nồng nên đêm đến khi trời dịu hơn, thi thoảng có làn gió nhẹ mơn man, vỗ về, chia sẻ; trăng lại đến giúp người. Trên cánh đồng quê rộng lớn, tiếng nói cười, trò chuyện của các bác nông dân cứ rộn ràng, sôi nổi. Bao vất vả, lấm láp của bùn nâu chẳng còn hiện hữu chỉ còn lại vầng trăng ấm áp, nghĩa tình. Ta bắt gặp vầng trăng trong bài ca dao quen thuộc:

“Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?” Trăng và người đều lung linh, đẹp đẽ. Yêu lắm vầng trăng xưa!

Cái nắng của ngày xưa vẫn là nỗi ám ảnh của bao người. Nắng đến nỗi: “ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ” ( “Hạt gạo làng ta” – Trần Đăng Khoa). Thế nhưng người nông dân vẫn cứ phải ra đồng khi mùa vụ tới. Ngày ấy, tất cả đều làm thủ công, tất cả đều dựa vào sức người chứ không có máy móc hiện đại như ngày nay. Vụ chiêm và vụ mùa liền nhau nên gặt xong là gieo cấy. Cái nắng của mùa hạ vẫn như nung nên người dân lại chọn đi làm khi trời dìu dịu. Và trăng lại dẫn lối, chỉ đường, trăng rải ánh vàng cho người dõi nhìn gặt hái, trăng giúp người chiếc mạ, đon cây. Trăng là cả bầu trời thương nhớ, trăng là ân nhân của con người. Trăng ơi, ta mãi nhớ!

Những cái ao hợp tác rõ to, muốn bắt cá phải dùng gàu sòng, chọn những chàng trai khỏe mạnh, vạm vỡ thay nhau tát cả đêm. Có khi phải mấy ngày mới cạn, cho nên người dân vẫn thường chọn những ngày trăng tròn nhất để tát cá. Tiếng ì ọp của nước, tiếng trò chuyện của người, tiếng của cá tôm, cua cáy trở mình được trăng nghe, trăng ngắm! Trăng thân thương ngỡ mãi không quên.

Trăng lại dẫn đường cho mẹ con tôi ngược chợ huyện khi nhà xa phố thị. Phải đi từ khi sáng trăng để đến chợ kịp phiên, kịp chọn chỗ ngồi thuận tiện, may mắn cho việc bán hàng. Ánh trăng soi gánh hàng kĩu kịt của mẹ, ánh trăng đồng hành cùng bước tung tẩy chân con. Có trăng làm bạn mẹ con tôi rảo bước nhanh hơn. Vầng trăng vẫn vẹn nguyên, bóng hình mẹ vẫn vẹn nguyên trong kí ức của con. Chỉ có điều nay mẹ cũng theo vầng trăng mải miết nơi mây trời sắc biếc để lại con với những kí ức trăng không thể phai mờ. Mẹ ơi, trăng ơi, tim con đang thổn thức!

Nơi gốc đa làng, những ngày trăng sáng nhất là địa chỉ cho sự sum vầy. Ấm chè xanh sóng sánh nghe bao câu chuyện của làng. Chuyện buồn, chuyện vui, chuyện của ngày xưa, chuyện của hôm nay và cả những dự định cho ngày mai được chia sẻ chân thành, tha thiết không e dè, chẳng ngại ngần, giữ ý; người nói, người nghe đều vui vẻ, chan hòa. Trăng không soi tỏ mặt người mà lòng người sáng rõ. Vầng trăng kì diệu vô cùng!

Trăng gắn bó với người nên lũ trẻ con không quên bài đồng dao về trăng như là một sự chờ đợi trăng tròn: “Mồng một lưỡi trai/ Mồng hai lá lúa/…Mười rằm trăng náu/ Mười sáu trăng treo…” và sợ nhất “Ba mươi chẳng thấy/ Mặt mày trăng đâu?”. Và ngày ấy trăng cũng rất bí hiểm, lạ kì, trăng ở đâu, từ đâu trăng đến là câu hỏi của rất nhiều bạn trẻ. Trăng đến mang cả những điều kì diệu nhất, lung linh nhất, nhân văn và ấm áp nhất. Trăng ơi!….

Ánh điện sáng thật sáng, sáng cả ngày mồng một và ba mươi nên ánh trăng dần bị quên lãng. Trăng lững thững đến và đi như một kẻ vô hình. Thương trăng và thương cả kí ức trong tôi. Thương trăng để rồi mơ về những mùa trăng cũ!

VƯƠNG THƯ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *