Thâm Tâm không chỉ “Tống biệt hành”

Tháng 11.1941, khi làm quyển “Thi nhân Việt Nam” (xuất bản năm 1942), Hoài Thanh chỉ chọn đúng một bài của Thâm Tâm, ấy là bài “Tống biệt hành”. Mà hễ cứ nói đến Thâm Tâm là người ta nghĩ ngay đến bài thơ này (và ngược lại) cùng lời bình rằng bài thơ đã làm “sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc… Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. Bài thơ ấy, lời bình ấy gần 80 năm nay, ai đã học văn học, đã yêu thơ, đã làm thơ đều biết.

Nhưng Thâm Tâm không chỉ có “Tống biệt hành” với những câu mở đầu: Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?/ Bóng chiều không thắm không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? và đoạn kết: Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!/ Mẹ thà coi như chiếc lá bay/ Chị thà coi như là hạt bụi,/ Em thà coi như hơi rượu say mà ông, trong chỉ vẻn vẹn 33 năm sống ở trên đời (1917-1950) còn để lại những dấu ấn mà người làm văn học sử, người yêu mến văn học, báo chí Việt Nam không thể bỏ qua và dửng dưng.

Thi sĩ Thâm Tâm (1917-1950)

Thứ nhất, theo như Hoài Thanh viết trong “Thi nhân Việt Nam” thì trước năm 1941, Nguyễn Tuấn Trình (tên thật của Thâm Tâm) đã có tập “Thơ Thâm Tâm”, trong đó có “Tống biệt hành”.

Đọc lại những tờ báo cũ như: Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền bá, Tiểu thuyết thứ năm… xuất bản những năm trước Cách mạng Tháng Tám thấy rải rác có nhiều bài của Thâm Tâm (ký tên Tuấn Trình). Mới hay ngoài thơ, Thâm Tâm còn viết truyện ngắn, truyện vừa và kịch.

Thứ hai, thơ Thâm Tâm trước Cách mạng Tháng Tám không chỉ là những vần thơ nói về những cuộc lên đường, ra đi, đưa tiễn như: “Tráng ca”, “Can trường hành”, “Tống biệt hành”, “Vọng nhân hành”… mà còn gắn liền với những giai thoại văn chương, “nghi án” văn chương “vô tiền khoáng hậu” mà cho đến nay, sau gần 80 năm vẫn chưa đi đến hồi kết. Ấy là câu chuyện về các bài thơ: “Hai sắc hoa ti gôn”, “Màu máu ti gôn” và tác giả T.T.Kh. Ấy còn là câu chuyện diễn ra ở làng Canh (ngoại ô Hà Nội) đêm rằm tháng Bảy âm lịch năm 1940 để sinh ra bài thơ liên ngâm có tên “Ngô sơn vọng nguyệt” giữa Thâm Tâm và 3 thi sĩ tài danh Nguyễn Bính, Trúc Khê, Trần Huyền Trân.

Thứ ba, nói đến Thâm Tâm là phải nói tới ông với tư cách là nhà thơ-chiến sĩ, một nhà báo-liệt sĩ.

Như mọi người đều biết, Thâm Tâm tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12.5.1917 trong một gia đình trung lưu (cụ thân sinh làm nghề dạy học, thân mẫu làm nghề đóng sổ sách và bán bánh kẹo) tại thị xã Hải Dương. Thuở nhỏ, ông học ở quê, sau theo gia đình lên Hà Nội vừa học vừa làm nghề vẽ tranh, viết báo.

Cũng như nhiều thanh niên, học sinh Hà Nội thời bấy giờ, trong cảnh nước mất nhà tan, anh thanh niên Nguyễn Tuấn Trình luôn khát khao yêu thương, khát khao một cuộc dấn thân, một cuộc lên đường. Khao khát ấy đã được ông thể hiện không chỉ trong thơ mà cả trong văn, trong kịch. Trên tờ Tiểu thuyết thứ năm, số 6 ra ngày 10.11.1938 ở một bài báo có nhan đề “Hai trái hồng” ký tên Tuấn Trình, ông viết: “Vì chưng tâm hồn những lữ khách đã dày dạn lắm rồi như một trái cây mùa chín tới. Quả đã hết xanh; những ngày thơ ngây, hồn nhiên cũng hết. Hôm nay, chúng ta lên đường và trái tim đã chín không bao giờ chín nữa”.

Và kịp khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, chàng trai-tác giả của “Tống biệt hành”- đã làm một cuộc lên đường. Một cuộc lên đường không mấy dễ dàng chóng vánh, với một tương lai cơ chừng rất mong manh; một cuộc lựa chọn không bàn hơn-thiệt, được-thua. Thâm Tâm tòng quân lên Chiến khu Việt Bắc. Ở đó, ông đã sống những năm tháng cực kỳ thiếu thốn, gian khổ và ác liệt nhưng cũng là những năm tháng đẹp đẽ nhất của đời ông.

Cũng như Trần Đăng, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Lạp và nhiều văn nghệ sĩ khác, Thâm Tâm đã sống cùng bộ đội và viết vì bộ đội, vì kháng chiến.

Chưa đầy 5 năm trong đời quân ngũ nên ông chưa kịp làm nhiều thơ về bộ đội, về cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc. Ông chỉ có bài “Chiều mưa Đường số 5” là bài khá nhất còn để lại đến hôm nay. Bài này được ông viết sau một chuyến công tác vào vùng địch hậu Khu III năm 1948. Tuy nhiên, Thâm Tâm cũng đã có những đóng góp rất đáng kể trong lĩnh vực văn nghệ, báo chí thời kỳ này.

Với tư cách là phóng viên mặt trận Báo Vệ Quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân), Thâm Tâm đã có mặt ở hầu hết các chiến dịch lớn, các trận đánh quan trọng ở Việt Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Liên khu III. Với tư cách là thư ký tòa soạn của Báo Vệ Quốc quân, Thâm Tâm luôn là một người làm báo mẫn cán và sáng tạo. Nhà báo Trần Cư kể: “Thâm Tâm là “nhà thơ tiền chiến” nhưng nổi tiếng là một người đã đi, đi biền biệt; đã ngồi, ngồi rất dai”. Nhà văn Nguyên Hồng có lần từ Hội Văn nghệ sang chơi tòa soạn Báo Vệ Quốc quân, khi thấy Thâm Tâm ngồi bên chồng bản thảo đã phải thốt lên rằng: “Hình như cột sống của tác giả “Tống biệt hành” làm bằng sắt!”.

Thâm Tâm, trong con mắt của đồng chí, đồng bào Việt Bắc và bạn bè, là một anh Vệ Quốc quân có thân hình nhỏ bé, gầy guộc với 4 mùa mũ bê-rê tím than, quần áo bà ba đen quen thuộc khi ở tòa soạn. Còn lúc hành quân ra trận là quần xắn quá đầu gối, tay áo xắn quá khuỷu, một cây gậy tre, một con dao rừng lủng lẳng bên hông cùng chiếc túi dết vải Chăm…

Hình ảnh Thâm Tâm còn được người đương thời nhớ trong những buổi thuyết trình tại Ban biên tập báo, tại các hội nghị. Nhớ nhất là tại Hội nghị văn nghệ bộ đội (tháng 9.1949), nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong một bài tường thuật in trên tờ Văn Nghệ số ra ngày 11.12.1949 đã viết: “Ngày 12.9, câu chuyện rất dài của Thâm Tâm về văn thơ bộ đội đã vạch ra một sự thật: Loại thơ anh hùng của cán bộ, những hình ảnh tưởng tượng, lời văn mỹ miều của những văn nghệ sĩ công tác trong bộ đội không được đội viên hoan nghênh. Trái lại, họ thích những bài thơ hợp với đời sống của họ, những bài thơ ở bộ đội mà ra, vì bộ đội mà có, những sáng tác này trở lại ảnh hưởng bộ đội rất mạnh”. Nguyễn Huy Tưởng còn cho biết, tại hội nghị, Thâm Tâm là người đầu tiên phát hiện bằng văn bản Bác Hồ là một nhà thơ. Đó là những trang viết vừa có tính chất phát hiện, vừa thành kính, xúc động…

Rất tiếc là cống hiến của Thâm Tâm chỉ kịp có vậy. đầu thu năm 1950, trên đường theo bộ đội chuẩn bị cho chiến dịch, Thâm Tâm đã mắc trọng bệnh và đột ngột nằm lại vĩnh viễn dưới chân đèo Mã Phục, cách thị xã Cao Bằng chừng hai mươi cây số-nơi Báo Vệ Quốc quân đặt trụ sở dã chiến. Năm ấy, nhà thơ mới 33 tuổi.

Thâm Tâm hy sinh đã hơn nửa thế kỷ nay nhưng mỗi lần nhắc đến ông, người ta lại không khỏi ngậm ngùi thương xót. Bên tấm Bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Nguyễn Tuấn Trình-cán bộ tiểu đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 18-8-1950 – đặt trang trọng tại căn hộ số 503B, tập thể dược 48A Tăng Bạt Hổ, Hà Nội-nơi ở của con trai nhà thơ là tiến sĩ Nguyễn Tuấn Khoa (tác giả truyện ngắn “Hoa thạch trúc báo bình yên”- giải thưởng Cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1996-1997) có di ảnh nhà thơ cùng một nắm đất lấy ở Cao Bằng!

Tác giả “Tống biệt hành”, “Chiều mưa Đường số 5”; nhân vật của câu chuyện tình về “Hai sắc hoa ti gôn”; đồng chí thư ký tòa soạn Báo Vệ Quốc quân; người có tên trong các sách: “Những nhà báo liệt sĩ”, “Nhà văn hiện đại Việt Nam”, “Thi nhân Việt Nam”. Tên tuổi ông được đặt cho một con phố lớn ở thành phố Hải Dương quê hương và hình ảnh, tác phẩm của ông còn mãi trong lòng đông đảo bạn đọc nhiều thế hệ. Hiện phần mộ nhà thơ đặt tại bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.

NGÔ VĨNH BÌNH

Báo Quân Đội Nhân Dân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.