Từ Nguyên Tĩnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học xứ Thanh đương đại. Trưởng thành từ chiến tranh, gắn bó sâu sắc với quê hương Thanh Hóa và có nhiều trải nghiệm trong đời sống quân ngũ cũng như hoạt động văn hóa, văn nghệ, ông đã xây dựng được một thế giới nghệ thuật mang đậm dấu ấn quê hương.
Trong thơ Từ Nguyên Tĩnh, bên cạnh cảm hứng về chiến tranh, người lính và tình yêu quê hương đất nước, không gian văn hóa là một phương diện nổi bật, góp phần thể hiện bản sắc văn hóa địa phương và chiều sâu tâm thức cộng đồng. Không gian văn hóa trong thơ Từ Nguyên Tĩnh được tạo dựng từ những điều bình dị, quen thuộc như tiếng hò, câu hát dân gian, hình ảnh người nông dân nhai trầu, những sinh hoạt tập thể trong lao động và chiến đấu, tên đất, tên người… đến chiều sâu văn hóa, phong tục, tín ngưỡng… Qua việc tái hiện những yếu tố ấy, nhà thơ không chỉ thể hiện tình yêu quê hương mà còn góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của Xứ Thanh – một vùng “địa linh nhân kiệt”.

Một trong những biểu hiện nổi bật của không gian văn hóa Xứ Thanh trong thơ Từ Nguyên Tĩnh là đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Giữa bom đạn và nhịp sống chiến trường căng thẳng, tiếng hò, câu hát, tiếng cười vẫn vang lên như một biểu hiện của sức sống tinh thần bền bỉ, mãnh liệt. Những hình thức sinh hoạt văn hóa ấy không chỉ giúp con người vượt qua gian khổ mà còn tạo nên sự gắn kết cộng đồng, nuôi dưỡng tinh thần lạc quan và ý chí kháng chiến: “Câu hò Thanh Hóa/ Nặng nhọc/ Chắt chiu/ Chìm xuống/ Bay lên/ Cao vút/ Dô tả… dô ta!” (Điệu hò Thanh Hóa).
Nhà thơ không miêu tả không gian bằng cảnh vật cụ thể mà tái hiện qua giai điệu trầm bổng của tiếng hò. Câu hò vang lên như một dấu hiệu nhận diện của vùng đất, gắn với đời sống lao động và sinh hoạt của cư dân Xứ Thanh từ bao đời. Các từ ngữ “nặng nhọc”, “chắt chiu” gợi lên nguồn gốc của câu hò từ lao động và đời sống lam lũ của người dân. Tiếng hò không phải là âm thanh của sự nhàn nhã mà được sinh ra từ những công việc vất vả trên đồng ruộng, trên sông nước hay trong những buổi lao động tập thể. Chính vì vậy, nó mang theo cả nhịp điệu của cuộc sống, phản ánh tinh thần cần cù và bền bỉ của con người nơi đây.
Không gian trong thơ Từ Nguyên Tĩnh còn được khắc họa qua sự hòa quyện giữa đời sống sinh hoạt cộng đồng và nhịp sống của thời chiến. Trong Trường ca Hàm Rồng, nơi đời sống cộng đồng diễn ra và những giá trị tinh thần vẫn được gìn giữ ngay trong những năm tháng bom đạn:
“Nơi đây không một ngày bình yên
Bom nổ chậm, thủy lôi, pháo bầy từ Hạm Đội
Nhưng không tắt được câu hò cô gái làng Yên Vực
Gửi qua sông cùng người lính trên cao
Ế chồng thì mặc ế chồng
Thương thì thương… lính Hàm Rồng hơi đen
Anh đen thì mặc anh đen
Lấy rồi mới biết cái duyên anh ròn”
Không gian ấy trước hết được xác định bằng những địa danh cụ thể như Hàm Rồng, làng Yên Vực và dòng sông nối hậu phương với trận địa. Những địa điểm quen thuộc của Xứ Thanh đã tạo nên một đời sống cộng đồng gần gũi, nơi con người cùng sinh sống, lao động, chiến đấu và sẻ chia tình cảm. Trong không gian ấy, người lính nơi trận địa và cô gái nơi hậu phương không xuất hiện như những cá nhân riêng lẻ mà là những thành viên của cộng đồng đang cùng hướng về mục tiêu bảo vệ quê hương, đất nước. Giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt với “bom nổ chậm, thủy lôi, pháo bầy từ Hạm Đội”, tiếng hò của cô gái làng Yên Vực vẫn vang lên tha thiết.
Câu hò dân gian không chỉ là hình thức giao duyên quen thuộc trong đời sống văn hóa của người dân Thanh Hóa mà còn là biểu hiện của sức sống tinh thần bền bỉ của cộng đồng. Những câu hát mộc mạc, hóm hỉnh về người lính Hàm Rồng đã làm vơi đi sự căng thẳng của chiến tranh, đồng thời tạo nên mối liên kết tình cảm giữa hậu phương và tiền tuyến. Trong đó, tiếng hò trở thành phương tiện giao tiếp văn hóa, chuyên chở tình cảm, niềm tin và sự động viên đối với người lính đang ngày đêm bảo vệ quê hương, làm nổi bật tinh thần lạc quan và sức bền văn hóa của con người trong những năm tháng khốc liệt của lịch sử.
Không gian văn hóa Xứ Thanh còn được khắc họa qua hệ thống địa danh quen thuộc, phong tục và những sinh hoạt truyền thống của cộng đồng. Trong Nhớ ngày kháng chiến, ông liệt kê nhiều tên đất, tên làng, tên sông:
Anh nhớ qua Bàn Thạch
Ghé thăm bến Vạn Hà
Vượt sông Chu, sang sông Mã
Nho Quan tiện đường qua Kim Tân
Ngày thắng lợi nhớ về quê em
Cùng nhau ăn bữa cơm Kết Đoàn
Múa điệu đội đèn đi cấy sáng trăng
(Nhớ ngày kháng chiến)
Thông qua chuỗi địa danh Bàn Thạch, Vạn Hà, sông Chu, sông Mã, Nho Quan, Kim Tân, nhà thơ đã mở ra một không gian địa lí – văn hóa trải dài theo dòng sông và những vùng đất quen thuộc của quê hương. Qua sự xuất hiện liên tiếp của các địa danh, thơ được mở rộng theo chiều vận động, giống như một hành trình trở về với cội nguồn văn hóa của vùng đất Thanh Hóa. Song song với không gian địa lí là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi con người gặp gỡ và chia sẻ những niềm vui đời thường. Hình ảnh “ăn bữa cơm Kết Đoàn” gợi lên một phong tục mang tính cộng đồng, nơi mọi người quây quần bên nhau sau những chặng đường gian khó. Bữa cơm ấy không đơn thuần là sinh hoạt vật chất mà còn thể hiện tình nghĩa gắn bó giữa con người với con người, giữa cá nhân với quê hương.
Đồng thời, đoạn thơ còn khắc họa không gian văn nghệ dân gian qua hình ảnh “múa điệu đội đèn đi cấy sáng trăng”. Từ thực tế lao động ấy, dân gian hình thành các làn điệu hò cấy, hát cấy, sau này được đưa vào các trò diễn và điệu múa dân gian trong lễ hội hoặc sinh hoạt văn nghệ cộng đồng. Ba lớp không gian: địa danh quê hương, sinh hoạt cộng đồng và sinh hoạt văn nghệ dân gian bổ sung cho nhau, tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú của vùng đất Thanh Hóa. Qua hệ thống địa danh và phong tục truyền thống, Thanh Hóa trong thơ Từ Nguyên Tĩnh không chỉ là một vùng đất địa lý mà còn là một không gian văn hóa lưu giữ ký ức cộng đồng, những giá trị truyền thống và bản sắc riêng của quê hương.

Không gian trong thơ Từ Nguyên Tĩnh còn được thể hiện qua những biểu tượng văn hóa và tín ngưỡng quen thuộc với đời sống cộng đồng, mang theo những lớp trầm tích, vượt ra ngoài phạm vi tả thực để trở thành phương tiện biểu đạt quan niệm về con người và đời sống:
“Nhưng núi Vọng Phu, nếu nàng mà biết được
Có người chiến binh nơi trận địa Hàm Rồng
Ngóng đợi người yêu đi học ở phương xa…”
(Vọng Phu)
Hiện lên trong đoạn thơ là một không gian văn hóa giàu tính biểu tượng, trong đó hình tượng núi Vọng Phu giữ vai trò trung tâm. Vọng Phu vốn là một biểu tượng quen thuộc trong văn hóa dân gian Việt Nam, gắn với truyền thuyết về người phụ nữ chờ chồng đến hóa đá. Khi đặt hình tượng ấy trong mối liên hệ với trận địa Hàm Rồng, nhà thơ đã tạo nên sự giao thoa giữa hai bình diện: một bên là truyền thuyết của quá khứ, một bên là lịch sử của chiến tranh. Chính sự đặt cạnh này đã làm cho không gian văn hóa không còn tĩnh tại mà trở thành không gian vận động, nơi các giá trị văn hóa truyền thống được soi chiếu và tiếp nối trong hiện tại.
Một trong những biểu tượng gắn liền với những tháng năm lịch sử xứ Thanh chính là cầu Hàm Rồng. Cầu Hàm Rồng vốn là một công trình giao thông bắc qua sông Mã, giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là huyết mạch nối liền giao thông Bắc – Nam, đồng thời là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh. Chính vì vậy, cây cầu không chỉ mang ý nghĩa địa lí mà còn trở thành nơi hội tụ của lịch sử, của mất mát, hi sinh và ý chí bảo vệ quê hương của quân dân Thanh Hóa. Đi vào thơ Từ Nguyên Tĩnh, cầu Hàm Rồng không còn là một công trình vô tri mà đã được biểu tượng hóa thành một thực thể có linh hồn, có đời sống và ký ức riêng. Nhà thơ nhiều lần nhắc đến cây cầu như một biểu tượng xuyên suốt trong thế giới nghệ thuật của mình:
“Cầu Hàm Rồng, sông Mã ngày đêm
Trò chuyện cùng dòng sông, ngọn núi”
(Mái tóc Lê Thị Dung)
Trong cảm nhận của nhà thơ, cầu Hàm Rồng không đứng riêng lẻ mà tồn tại trong mối quan hệ gắn bó với sông Mã, với núi non và không gian văn hóa xứ Thanh. Hình ảnh “trò chuyện” đã nhân hóa cây cầu, khiến cầu Hàm Rồng hiện lên như một sinh thể sống, chứng kiến và lưu giữ những biến động của lịch sử. Không chỉ là một địa danh, cầu Hàm Rồng còn trở thành điểm hội tụ của không gian quê hương: “Nam Ngạn – Đông Sơn – Yên Vực – Hạc Oa/ Soi bóng cầu Hàm Rồng quê ta” (Trường ca Hàm Rồng). Những địa danh quen thuộc của xứ Thanh cùng soi bóng vào cây cầu đã làm cho Hàm Rồng trở thành trung tâm kết nối cộng đồng và ký ức vùng đất. Cây cầu vì thế không chỉ nối đôi bờ sông Mã mà còn nối những miền không gian văn hóa, nối con người với quê hương và lịch sử dân tộc.
Cầu Hàm Rồng còn mang ý nghĩa biểu tượng cho chiến thắng và tinh thần quật cường của con người Việt Nam trong chiến tranh. Cầu Hàm Rồng hiện lên rõ nét nhất như một biểu tượng của sự hi sinh và ý chí bất khuất: “Hiên ngang cầu bắc sang sông/ Đẹp sao hai tiếng Hàm Rồng quê hương/ Cầu là máu, cầu là xương” (Trường ca Hàm Rồng). Cây cầu được dựng nên, bảo vệ và gìn giữ bằng chính máu xương của biết bao con người. Vì vậy, Hàm Rồng không chỉ là cây cầu của giao thông mà còn là cây cầu của lịch sử, của ký ức và lòng yêu nước. Cầu Hàm rồng đã trở thành biểu tượng của quê hương xứ Thanh anh hùng, của sức sống bất khuất trong chiến tranh và của những giá trị lịch sử tinh thần không thể phai mờ trong tâm thức con người.
Không gian văn hóa ấy còn được mở rộng qua những suy niệm về Phật:
Phật ở rất thấp
Phật ngự trên tận trời cao ở đâu cũng có mặt
Người lên chùa cầu tính Phật
Bớt tham, sân, si…
(Phật ngàn tay ngàn mắt)
Trong tâm thức của người Việt, Phật không chỉ tồn tại ở chốn chùa chiền mà còn hiện diện trong mọi không gian của đời sống. Cách cảm nhận của nhà thơ vừa mang sắc thái triết lí của Phật giáo, vừa phản ánh cách tiếp nhận dân gian, khi con người cảm nhận Phật như một đấng gần gũi, có thể hiện diện ở khắp nơi và đồng hành cùng đời sống con người. Ngôi chùa trở thành một địa điểm cụ thể, nơi con người tìm đến để hướng tâm về những giá trị đạo lí và sự thanh thản trong tâm hồn. Chùa chiền vì thế không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng mà còn là không gian văn hóa, nơi con người gửi gắm niềm tin và những mong ước về cuộc sống. Từ những biểu tượng như Vọng Phu, Hàm Rồng hay không gian Phật giáo, thơ Từ Nguyên Tĩnh đã tái hiện những chiều sâu văn hóa và tâm linh của cộng đồng, qua đó góp phần làm nổi bật bản sắc văn hóa xứ Thanh trong thế giới nghệ thuật của mình.
Không gian văn hóa Xứ Thanh được tái hiện sinh động trong thơ Từ Nguyên Tĩnh. Từ những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hệ thống địa danh và phong tục truyền thống đến các biểu tượng văn hóa và tín ngưỡng dân gian, nhà thơ đã kiến tạo một không gian nghệ thuật mang đậm bản sắc. Trong thơ ông, Thanh Hóa không chỉ là một vùng địa lí mà còn là một không gian văn hóa được hình thành từ ký ức lịch sử, truyền thống cộng đồng và những giá trị tinh thần bền vững. Không gian văn hóa Xứ Thanh vì thế trở thành một trong những phương diện quan trọng làm nên bản sắc thơ Từ Nguyên Tĩnh, đồng thời góp phần khẳng định giá trị của văn học trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương trong đời sống đương đại.
Tháng 6.2026
NGÔ THỊ PHƯƠNG THẢO

















