Tiểu luận Trịnh Sâm: Mô hình tri nhận và sự tương tác văn hoá – Kỳ 2

Xem xét một số mô hình tri nhận, chủ yếu là mô hình ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong tương tác với văn hoá, dựa vào thang độ ưu tiên, bài viết đã lần lượt miêu tả, nhận xét về một số cách ý niệm hoá trong tiếng Việt…

Nhà ngôn ngữ học Trịnh Sâm

 

>> Mô hình tri nhận và sự tương tác văn hoá – Kỳ 1

 

4. XU HƯỚNG NHẤT NGUYÊN ĐA VỊ

Trong nhiều ngôn ngữ, tùy thuộc vào sự tương tác văn hóa, một số bộ phận cơ thể con người thường được dùng để biểu trưng cho một số phạm trù như tinh thần, lý trí, nhận thức, tình cảm, thái độ, ý chí. Về mặt ẩn dụ, hoán dụ và cả ẩn dụ – hoán dụ, các bộ phận cơ thể con người, trước hết được nhận thức là các vật chứa, đôi khi được ẩn dụ hoá là con người hoặc / và thay cho con người mà trọng lượng (nặng nhẹ), trạng thái (động/tĩnh), tính chất (mềm/cứng), hình dáng (lớn/bé), màu sắc (tối/sáng), tươi/héo, kích thước (rộng/hẹp), hoạt động (thuận/ nghịch), đều được liên hội đến những giá trị biểu trưng khác nhau.

Có khi chúng còn được dùng như một nguyên cớ để gán cho một giá trị xã hội nào đó, chẳng hạn, theo kinh Rg Veda, bốn giai cấp trong xã hội Ấn Độ từ cao xuống thấp đều được sinh ra từ những bộ phận cơ thể khác nhau của người sơ thủy: Giới Bà La Môn (Brachman) được sinh ra từ miệng, Sát Đế Lợi (Kshastriya) sinh ra từ nách tay,Vệ Xá (Vaisya) sinh ra từ bắp vế và giới Thủ Đà La (Soudra) được sinh ra từ gót chân. Dễ thấy, cách xác lập giá trị ở đây dựa vào phương thẳng đứng.

Ta thử khảo sát xem ngưởi Việt hình dung về biểu tượng TIM như thế nào.

Trong các bộ phận cơ thể, hầu như ngôn ngữ nào cũng dành cho ý niệm TIM hoặc/ và ĐẦU một vị trí đặc biệt. Nhiều công trình đã miêu tả khá chi tiết (xem: Johnson 1987, Jager 2001, Sharifian et al. 2008), cũng như đã tiến hành so sánh đối chiếu hai ý niệm này trên nhiều ngôn ngữ và đã thu hoạch nhiều điều thú vị (xem: Mo 2004, Yu 2009, Gutiérrez 2008, Berendt – Tanika 2011, Ly Toan Thang and Le Thi Kieu Van 2013).

Trong tiếng Việt, tâm /tim là những ý niệm rất gần gũi nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất về mặt nội hàm và ngoại diên, về mặt nghĩa đồng đại, lịch đại, về mặt ẩn dụ, hoán dụ, cũng như quan niệm về chức năng của chúng.

Tâm có thể là trái tim, tâm là tâm trí, tâm có thể là trung tâm, tâm cũng có thể là lòng, dạ, bụng, ruột, thậm chí cũng có thể là gan. Trên bình diện đồng đại, cứ như những gì quan sát được trên sách báo thì cách thức mà người Việt hình dung về hai ý niệm vừa nhắc không khác với cách mà người phương Tây quan niệm: Tim của con người, biểu tượng của tình cảm, tình yêu; Đầu của con người, được coi là biểu tượng của suy nghĩ, nhận thức (Tự điển Vietlex 2009, 1275 & 396).

Thế nhưng, quan sát bức tranh ngôn ngữ dân gian trong tục ngữ và thành ngữ, khảo sát hai ý niệm Tim và Đầu trong từ điển Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 1895 và Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, 1931 thì tình hình mô tả không phải thế.

Ở các từ điển trên, để biểu đạt cảm xúc và cả lý trí, người Việt dùng các bộ phận cơ thể: bụng, dạ, gan, lòng, ruột, trong đó, gan thường biểu trưng cho ý chí và lòng can đảm, bốn cơ quan còn lại, ngữ nghĩa của chúng vừa có thể tương đương với đầu mà cũng có thể tương đương với tim hoặc cả với hồn/ tâm hồn như cách tri nhận của phương Tây. Trong diễn đạt, không ít trường hợp các bộ phận cơ thể ấy trong tổ hợp có thể hoán đổi cho nhau mà nghĩa biểu về cơ bản không đổi.

Có thể thấy, với sự lưỡng phân một cách rạch ròi đầu – lý trí, tim – tình cảm và xa hơn: hồn /xác; tự nhiên/ con người; tự nhiên/ tâm linh, trong đó phương thẳng đứng được ưu tiên lựa chọn, trên quan trọng hơn dưới, lý trí quan trọng hơn tình cảm, tính chất nhị nguyên, nhị vị (dualism- binary —location), là đặc điểm khó lẫn lộn của văn hóa phương Tây.

Trong khi đó, một số ngôn ngữ phương Đông lại nhất thể hóa tất cả cội nguồn của lý trí, trí tuệ, tình cảm, cảm xúc, thái độ vào một vị trí duy nhất, tức biểu đạt thiên về nhất nguyên, nhất vị (monism- mono location), như Jai (tim) trong tiếng Thái, xin (tâm) trong tiếng Trung (Berendt E. A. – T. Keiko, 2011), saz (gan) trong tiếng Mông (Nguyễn Trung Kiên, 2014), ma nu (tim) trong tiếng Hàn ; hati (gan) trong tri nhận của người Malaysia và Indonesia (Sharifian et al, 2008, 4).

Và tuy cùng xuất phát từ nguyên lý nhất thể hoá nhưng mô hình tri nhận của phương Đông không thuần nhất. Chẳng hạn như trong tiếng Nhật bên cạnh hara (bụng), còn có kokoro (tim) và cả mune (vú, ngực), hay trong tiếng Việt như vừa lưu ý bên trên, năm bộ phận cơ thể, chính xác hơn năm cơ quan nội tạng bụng, dạ, gan lòng, ruột, cũng như ba bộ phận trong tiếng Nhật, tất cả đều là những ảnh tượng biểu đạt các ý niệm tương đương với cách hình dung về ngữ nghĩa của đầu và tim trong mô hình văn hoá phương Tây. Nói khác, Tiếng Việt và tiếng Nhật thiên về mô hình nhất nguyên, đa vị (monism – multi location). Các bộ phận này được hình dung với thang độ ưu tiên là phương nằm ngang, chúng đều bình đẳng như nhau.

Hơn nữa, nếu như trong tiếng Anh có sự đối lập giữa, đầu, bộ phận cơ thể (external body part) và tim, cơ quan nội tạng (internal body organ), giữa vật chứa tim được định vị bên trong (inside) và bộ phận đầu bên ngoài (outside) thì tiếng Thái, tiếng Trung, tiếng Mông, tiếng Malay và cả tiếng Việt đều tập trung ở nội tạng và bên trong. Trong khi tiếng Nhật lại kết hợp cả hai: vừa nội tạng, bên trong: hara (bụng) kokoro (tim) vừa cả bộ phận cơ thể và bên ngoài: mune (vú, ngực). Ngoài ra, cách định vị 5 yếu tố nội tạng trong tiếng Việt là khá tiêu biểu cho dạng thức ý niệm hoá vùng bụng – abdominocentrism (mượn thuật ngữ của Sharifian et al, 2008, 4-7).

5. GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ CHỦ ĐẠO VÀ VĂN HOÁ NHÓM

Đề cập đến mô hình tri nhận trong tương tác với văn hoá, từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội tri nhận, trước hết, không thể không chú ý trước hết đến ngôn ngữ trong sử dụng, nhất là các biến thể của nghĩa và nghĩa của biến. Thứ đến là mối quan hệ giữa hệ giá trị của cộng đồng, có tính chi phối, với hệ giá trị của tiểu nhóm văn hóa (Dirk et al 2010, Lakoff and Johnson 2003).

Về khía cạnh trước, bên cạnh hiện tượng xuất hiện một số  từ ngữ gắn liền với một vùng đất, xôn xao một thời đến nay vẫn còn sử dụng như : Treo ao, chìm xuồng, trùm mền…, một số cách định danh phổ biến trong giới trẻ như : Phông bạt, check VAR, Drama…, một số biểu đạt có vẻ né tránh sự thật như: Tác động vật lý, học trò tương tác với thầy cô giáo, buông rèm, thả rèm…, và cả những cách  ý niệm hóa liên quan đến quyền lực như quyết liệt, đồng thuận, đúng quy trình….Tất cả đều là những biến thể nghĩa phát triển theo hướng tích cực và cả tiêu cực.

Về khía cạnh sau, một số hệ giá trị, nhất là những giá trị có tính truyền thống, là tài sản chung của toàn xã hội nhưng tuỳ thuộc vào trải nghiệm, tính đặc thù của môi trường xã hội, mối bận tâm riêng, đôi khi có tác động của tâm lý tiểu nhóm văn hóa mà giá trị của những mô hình tri nhận trong sử dụng là không như nhau trong từng tiểu nhóm. Thường thì trước một sự tình có thể có nhiều cách ý niệm hoá khác nhau dẫn đến những hậu quả khác nhau. Hơn thế nữa, vì con người tư duy dưới dạng ẩn dụ nên các mô hình mà chúng ta quen sử dụng sẽ quyết định rất nhiều đến cách sống chúng ta, mặc dù sự phối này nhiều khi là vô thức.

Chẳng hạn, chúng ta có các ẩn dụ quen thuộc Công cụ là con người, Công cụ là người bạn đồng hành, thế nhưng hiện nay ít nhất là có hai quan niệm.

Quan niệm thứ nhất cho rằng, công cụ, tiện nghi chỉ là phương tiện, nhà cửa là để ở, xe cộ là để đi lại, phương tiện đầy đủ sẽ nâng chất lượng cuộc sống lên cao, nhưng chúng không thể thay thế cho phẩm hạnh đạo đức, hệ giá trị của con người được xây dựng theo một chuẩn tắc khác.

Quan niệm thứ hai của không ít người trong xã hội chúng ta, nhìn nhận, Phương tiện là con người; công cụ, phương tiện thay cho con người; thậm chí: Giá trị vật chất của phương tiện, giá trị công cụ là giá trị của của chủ thể sở hữu. Do vậy, đối với nhóm sau, có thể xuất hiện từ bệnh sĩ, để không thua sút bạn bè, đồng nghiệp, họ chấp nhận vất vả, nợ nần, bằng mọi giá, tậu cho bằng được xe hơi đẹp, biệt thự sang, để khoa trương với mọi người.

Hay, phần lớn chúng ta đang sống với các ẩn dụ: Nhiều hơn thì tốt hơn, Rẻ hơn thì tốt hơn, thế nhưng lại có nhóm người quan niệm ngược lại. Ví dụ để phục vụ khách hàng đặc biệt, một số nhãn thời trang, xe hơi, đồng hồ… với một mẫu mã chỉ sản xuất với một số lượng rất hạn chế và mỗi sản phẩm đều được đánh số, thậm chí có sản phẩm được thiết kế riêng, duy nhất. Trong hoàn cảnh đó mà sở hữu được một sản phẩm thì giá trị vật chất tăng lên rất nhiều. Tương tự, giới bình dân với thu nhập thấp, hàng hoá rẻ thì tốt cho cuộc sống, nhưng với một nhóm người nào đó, họ biết rằng tiền nào của ấy, hàng đắt mới là hàng tốt, càng đắt càng có giá trị. Tất nhiên, lựa chọn này còn bị ảnh hưởng bởi ý tưởng Vật thể biểu trưng ( thay)cho con người, Gần gũi vật chất là gần gũi con người. Hoặc trước các ẩn dụ là những lẽ thường tâm/ biên kiểu như Trung tâm thì tốt, Trung tâm thì hướng lên, càng gần trung tâm càng tốt, tuỳ theo lợi ích, nhu cầu cá nhân hoặc nhóm xã hội mà có những lựa chọn khác nhau. Các ẩn dụ này chỉ phù hợp với những ai có nhu cầu làm việc, học tập, sinh hoạt, buôn bán ở trung tâm, còn có thể, với nhóm người khác, ngoại ô, với không khí ít bị ô nhiễm, với cây vườn, lại là một lựa chọn thích hợp hơn. Như vậy, trung tâm chưa hẳn tốt, trung tâm chưa hẳn đã hướng lên.

Có thể kể thêm, thông thường thì Nhiều hơn thì tốt hơn thế nhưng đối với tu sĩ phật giáo, nhất là đối với Hệ phái khất sĩ thì Ít hơn thì tốt hơn, càng ít càng tốt thậm chí rỗng không thì tốt hơn, không sở hữu, không vướng bận, càng nhẹ càng tốt, hành động ăn xin là đi tìm sự cân bằng giữa cho và nhận, tâm giác vô ưu thì dễ đến với bến bờ giác ngộ. Nhìn chung, các hệ văn hoá tiểu nhóm khác nhau của một nền văn hoá chủ đạo cùng chia sẻ các giá trị cơ bản nhưng lại gán cho các giá trị này những quyền ưu tiên khác nhau (Lakoff and Johnson 2003, 24).

Từ phải sang: Nhà báo Lê Trúc Quyên, nhà nghiên cứu Trịnh Sâm và hai nhà thơ Phan Hoàng, Lê Quyết Chí

IV. KẾT LUẬN

Ngược lên trên, xem xét một số mô hình tri nhận, chủ yếu là mô hình ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong tương tác với văn hoá, dựa vào thang độ ưu tiên, bài viết đã lần lượt miêu tả, nhận xét về một số cách ý niệm hoá trong tiếng Việt.

Ở (III.1), việc lượng giá ngon/ dở, xuất phát từ miền ý niệm thực phẩm, một miền ý niệm nổi trội và việc thực phẩm hoá bằng các ẩn dụ bản thể, một mặt, cho thấy cách tư duy phổ biến của nhân loại, đó là thông qua miền nguồn cụ thể, nhiều trải nghiệm hơn để tri nhận các ý niệm trừu tượng, ít hiểu biết hơn, mặt khác, còn thể hiện cách lược quy riêng của người Việt, đó là các thuộc tính thuộc chủ đề quen thuộc, thể hiện sự quan tâm thường xuyên, một ám ảnh của cả cồng đồng diễn ngôn.

Ở (III.2), mặc dù lý luận đại cương xác tín, các mô hình tri nhận nguyên cấp và trực tiếp có tính phổ quát và là cơ sở để hình thành nên những mô hình trị nhận phức tạp và trừu tượng và chính hệ thống thứ hai này sẽ làm nên sự khác biệt trong nhiều nền văn hoá. Thế nhưng, nhiều cứ liệu cho thấy, các ẩn dụ bậc trên có thể giống nhau trong nhiều ngôn ngữ nhưng trong tương tác với văn hoá, các ẩn dụ bậc dưới hoàn toàn không phải như thế. Ẩn dụ Quê hương đất nước là con người là một trường hợp cho thấy điều này. Với cách hình dung đó, các ý niệm rộng / hẹp; nặng / nhẹ; sáng / tối và một số ý niệm khác, miêu tả ở tiểu mục này, cho thấy cách tri nhận thiên về phương nằm ngang.

Ở (III.3), nếu như người phương Tây định vị các phương: Bắc – Nam – Tây – Đông thì người Việt lại: Đông – Tây- Nam – Bắc. Sự lựa chọn này có tính quan yếu, chi phối đến nhiều yếu tố trong và ngoài ngôn ngữ. Sự khảo sát của bài viết cho thấy, trước khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây, người Việt đã xác lập một hệ tri thức truyền thống với những đặc điểm phong thuỷ tương hợp với địa hình tự nhiên, canh tác nông nghiệp, và cả quá trình Nam tiến của dân tộc mình, rất khác với phương Tây.

Ở (III.4), trong rất nhiều ngôn ngữ, một số bộ phận cơ thể con người thường được dùng để biểu trưng cho một số phạm trù như tinh thần, lý trí, nhận thức, tình cảm, thái độ, ý chí. Dùng bộ phận cơ thể nào, nhất vị hay đa vị, nội tạng hay bên ngoài, theo phương thẳng đứng hay phương nǎm ngang là tuỳ thuộc vào truyền thống triết học và cả thói quen văn hoá. Ngay cả cùng xuất phát từ một truyền thống, nhưng thang độ ưu tiên được lựa chọn cũng không giống nhau. Quan sát của bài viết cho thấy, cách thức ý niệm hoá một số vấn đề hữu quan rất khác nhau giữa phương Đông và phương Tây, ngay ở phương Đông thì cách ý niệm hoá trong tiếng Việt cũng rất khác so với tiếng Thái, tiếng Trung, tiếng Mông.

Ở (III.5), việc tư duy bằng mô hình, nhất là những mô hình ẩn dụ hoán dụ quen dùng sẽ chi phối đến cách chúng ta sống, cách chúng ta xác lập thang độ giá trị riêng, bên cạnh hệ giá trị chung có tính bền vững của toàn xã hội. Tuy chưa thật sâu sắc, tiểu mục cũng đã chỉ ra được một số biến thể lựa chọn mô hình tri nhận của văn hoá nhóm trong tiếng Việt hiện đại. Vấn đề thuộc ngôn ngữ học xã hội tri nhận (cognitive sociolinguistics) này, hầu như chưa được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến.

Hiển nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các mô hình tri nhận phức hợp và cả mối quan hệ phóng chiếu, nhất là cách ý niệm hoá có tính chất tri nhận luận xã hội và không chỉ giới hạn trong ngữ liệu hai không gian đầu vào như cách tiếp cận ở đây. Với hướng mở rộng đến các mô hình tích hợp, chắc chắc chúng ta không chỉ dừng lại ở mức nhận diện, miêu tả ngữ liệu mà còn có thể góp phần giải thích chúng một cách thuyết phục hơn.

PGS-TS. TRỊNH SÂM

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *