Tô Thùy Yên – nhà thơ Việt Nam

VHSG- Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, từ trần tại Houston (Hoa Kỳ) lúc 21g15 ngày 21-5-2019, thọ 81 tuổi. Vào tuổi ấy, và sau bao nhiêu gian truân, ông ra đi vẫn gây ra nhiều tiếc nuối trong giới độc giả trong và ngoài nước. Cái tang chung cho giới văn học đặt ra một câu hỏi khẩn thiết: tác phẩm Tô Thùy Yên đứng ở đâu trong dòng văn học Việt Nam hôm nay?

Tựa đề bài này khẳng định: Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam. Không phải là nhà thơ hải ngoại hay của miền Nam cũ. Lý do đơn giản: ông là người Việt Nam, viết văn, làm thơ bằng tiếng Việt Nam. Huống hồ đời ông gắn bó với lịch sử đất nước trong mỗi chặng đường, thơ ông đầy ắp tình tự dân tộc, thắm thiết phong cảnh quê hương, ngôn ngữ Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa uyên bác vừa sâu đậm lời ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, ca dao. Thơ ông đặc sắc, từ nội dung nhân đạo, tư tưởng cao sâu đến lời thơ tài hoa, hào sảng, giàu hình ảnh lạ trong tiết điệu thân quen. Nghệ thuật vi diệu của ông làm vinh dự cho tiếng Việt và văn hóa Việt. Tô Thùy Yên là nhà thơ Việt Nam bên cạnh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà.

Nhà thơ Tô Thùy Yên (1938-2019)

Tôi đã ngần ngại nhiều ngày trước khi đưa ra nhận định như trên, e rằng mình chủ quan, quá lời, cho đến khi đọc trên mạng ngày 28-5, bài của nhà thơ Thanh Thảo, không được đăng trên các báo giấy trong nước, có đoạn: “Tô Thùy Yên là một nhà thơ lớn (…) khi một nhà thơ Việt được công nhận bởi tài năng và nhân cách của mình, thì dù họ sống ở xa tổ quốc, thơ họ vẫn thuộc về đất nước, về dân tộc Việt Nam. Đó là thơ của một nhà thơ Việt thuần chất, trong đau khổ vẫn giữ được phẩm chất người của mình, vẫn yêu thương mà không oán hận, dù số phận mình hết sức trớ trêu”. Thanh Thảo, sau 20 năm đọc thơ Tô Thùy Yên đã nắm bắt được hai yếu tố chính: chất dân tộc và chất người, làm nên nhân cách nhà thơ. Tôi đặt tên cho bài viết: Tô Thùy Yên – nhà thơ Việt Nam, tưởng là đã chắc nịch, trong khi Thanh Thảo dùng chữ “nhà thơ Việt” ngắn gọn hơn, nhưng sắc bén, sâu xa hơn cái quốc hiệu tôi đưa ra. Thanh Thảo, cùng với Tô Thùy Yên là nhà thơ, họ sử dụng ngôn ngữ theo trực cảm, từ đáy vực tâm linh của lời nói. Lại nhớ đến Trần Đĩnh, khi anh nhận xét “Tô Thùy Yên là nhà địa chất học đầu tiên nhặt lên những quặng chữ chưa ai từng phát hiện để dặt chúng bên nhau mà phát xạ” (Văn Việt 28-5-2019). Tôi thấy an tâm vì mình vinh danh thơ Tô Thùy Yên, nhất là vào giờ vĩnh biệt nhà thơ, không phải là chủ quan quá đáng.

Về tư tưởng và nghệ thuật Tô Thùy Yên, tôi đã từng sơ lược trình bày trong bài Ngựa phi đường xa, đăng trên báo Khởi Hành, California, số 20, tháng 12-1998. Từ bấy đến nay, non hai mươi năm, tình hình văn nghệ, báo chí đã không khá khẩm hơn. Riêng Tô Thùy Yên thì có địa vị riêng, thơ ông đứng bên ngoài cõi ta bà đó và gây được sự đồng thuận giữa độc giả trong và ngoài nước, nhờ nội dung nhân ái và nghệ thuật vi diệu; và cũng nhờ kỹ thuật thông tin mạng hiện đại. Nhiều người truy cập được toàn bộ thơ văn Tô Thùy Yên, trong và ngoài nước, với ít nhiều thiện tâm, thiện chí, dù chính kiến, quá khứ có khác nhau, họ cũng thấy gần gũi qua những câu thơ:

Ta về như lá rơi về cội,
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này

Bài Ta về làm 1985 khi tác giả vừa ra khỏi trại cải tạo, tuy có nhắc lại những lao khổ qua “mười năm chết dấp”; nhưng không thù hận. Ông xem những điêu linh, chiến tranh, lao lý, đổi đời như là hiện tượng tự nhiên, một cuộc biển dâu như người xưa vẫn quan niệm, mà Ôn Như Hầu hay Nguyễn Du đã từng nhắc lại đâu đó. Để bôi xóa quá khứ, để nuôi dưỡng sự sống, tác giả rót chén rượu giải oan, giống ai xưa đã lập đàn giải oan trên sông Tiền Đường, giải trừ oan nghiệt cho chúng sinh, cho một bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Bếp lửa đầu tiên của loài người là của bộ lạc, rồi đến bết lửa gia đình, không có kích cỡ nhân quần như nơi Tô Thùy Yên. Vì tâm hồn ông như vậy. Tầm nhìn (sinh thời ông ưa dùng chữ vision) như vậy thấy được thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Thơ Tô Thùy Yên là chuyện Con Người, chuyên một thân phận lẻ loi trong một nhân quần hạnh phúc. Chất thơ tinh luyện trong trước tác Tô Thùy Yên là nhân phẩm con người, từ đó ông thẩm quyền dõng dạc: “thơ còn con người còn” trong một bài nói tại Seattle ngày 26-7-1997; ông giải thích thêm, phân biệt “văn nghệ giải trí, giải muộn khác với văn nghệ ở cấp độ cao nhất là văn nghệ giải oan, giải thoát”. Dù sao thơ cũng cần đến những ẩn dụ hào hoa, chứ kỳ thật để giải oan cho cuộc biển dâu này, Tô quân không cần rưới chút rượu hồng nào cả. Thơ ông là đủ để hóa giải.

Tấm lòng cao quý như vậy, trong một tác phẩm lớn lao như vậy, mà cho đến nay độc giả trong nước không mấy người biết đến.

Cuối cùng, thơ Tô Thùy Yên không dễ đọc. Độc giả trích dẫn nhiều, nhưng chỉ trích những câu, những đoạn vừa ý. Nói rằng tác giả dùng nhiều lời ăn tiếng nói dân gian, nhiều tục ngữ ca dao, nhưng không phải là người đọc nào cũng nắm bắt. Ngay hai câu đầu của Ta Về được truyền tụng nhiều nhất:

Ta về – một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.

Muốn hiểu cặn kẽ thì phải biết câu ca dao, có lẽ xuất phát từ Quan họ:

Người về ta chẳng cho về
Ta níu áo lại ta đề câu thơ…

Thậm chí, cuối tập Thắp tạ (2004) tác giả còn thêm phần phụ chú để giải thích… thơ mình. Bài thơ làm 1999 có câu thật hay:

Em về giồng dưới qua bưng gió
Dạ bời bời nỗi sậy niềm mây

Câu thơ tự nó đã hay, không cần giải thích. Nhưng tác giả đã tiết lộ xuất xứ từ ca dao Nam Bộ:

Em về giồng Dứa qua truông
Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh,

Tô Thùy Yên là nhà thơ uyên bác. Ông thông thạo thơ cổ điển Trung Quốc, có lần, trong trại học tập đã chép tặng bạn một bài thơ dài của Đỗ Phủ bằng chữ Hán. Ông đọc hầu hết thi ca Pháp hiện đại và đặc biệt thích Saint John Perse, một tác gia khó đọc. Ngoài ra ông tinh tường triết học Tây phương. Do đó, câu thơ ông trầm tích nhiều ý tưởng hay ẩn dụ phức tạp, dễ khiến người đọc lạc lõng.

Tô Thùy Yên lại là người cầu toàn, trau chuốt câu thơ “Tôi giựt giành đổ máu với tôi/từng chữ một”, do đó câu thơ có lúc hồn nhiên, có lúc cầu kỳ. Thơ cần cảm hứng, nhưng Tô Thùy Yên khổ luyện thi hứng của mình, thành những bài thơ dài; (nhờ ngẫu hứng mà làm được vài ba câu thơ hay thì không khó, nhiều người làm được). Thơ, cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác, đòi hỏi những công trình dài hơi, khả năng lao động trí tuệ bền bỉ, rung cảm sâu lắng. Tô Thùy Yên muốn làm thi sĩ thực sự, chứ không chỉ là một tao nhân mặc khách, “ngứa cổ hát chơi”. Và cuối cùng, ông đã là một nhà thơ đích thực, ở tầm cỡ thế giới.

Ngày nay, thơ ông phổ biến nhiều nhờ qua mạng Internet, nhưng đọc thơ trên mạng thì có cái gì đó phù du.

Tóm lại có những lý do khách quan, khiến tác phẩm Tô Thùy Yên khó đến với quảng đại quần chúng.

***

Giá trị thơ Tô Thùy Yên, về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, tôi đã trình bày nhiều ở phần đầu, và viện dẫn chứng từ của nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Trần Đĩnh, những tác gia nghiêm túc mà tên tuổi đủ bảo đảm cho lời nói, cất lên từ trong nước. Quý ở chỗ đó.

Phần sau là đặt tác phẩm vào thời sự, với những nghịch cảnh đáng tiếc. Phong trào Thơ Mới 1932-1945 nở rộ nhanh chóng và ảnh hưởng lâu dài, là nhờ sách báo và nhà trường thời đó. Ngày nay xã hội Việt Nam không còn được hai ưu thế đó. Ngay việc bình luận, nghiên cứu cũng bị phân tán.

Cho hay khi con người sống có ích thì chết cũng có ích.

Và chúng tôi tin vào lời Tô Thùy Yên, ngày ông còn cả tiếng cùng nhân loại: Thơ còn con người còn.

  ĐẶNG TIẾN

One thought on “Tô Thùy Yên – nhà thơ Việt Nam

  1. Nguyễn Hồng Minh says:

    Hiểu ra điều gì sau một bài báo?
    Tôi tự hỏi bản thân mình như trên và giải quyết bằng câu trả lời: hiểu một phần về tác giả đối tượng được viết tới, và hiểu hơn là về tác giả viết bài báo, ngoài ra còn hiểu và biết thêm một số thông tin khác ví dụ như bài viết này thì biết thêm (một lần nữa đọc lên) 4 câu thơ ở hai miền khác nhau.
    Khi bài viết không đặt trọng tâm vào đối tượng viết, hoặc bản thân mình của tác giả mà muốn nói một điều gì đó thì nếu không khéo sẽ bị lộ ra. Ở bài viết này người đọc thấy rõ được cả nhà thơ Tô Thùy Yên, thấy rõ được tác giả Đặng Tiến, cũng thấy rõ được ý chí nào đó. Vì như thế nên tôi không nói thêm về điều khác đó, điều về Nhà thơ, điều về tác giả bài viết này vì chúng đã quá rõ ràng và lộ ra rồi. Tôi chỉ quan tâm tới bốn câu thơ mà bài viết nhắc tới đó là: “Người về ta chẳng cho về/ Ta níu áo lại ta đề câu thơ” Tác giả nói có lẽ xuất phát từ Quan Họ, tôi cũng không bàn về xuất phát mà bàn về nội dung. Hai câu nữa là: “Em về giồng Dứa qua truông/ Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh” tác giả nói hai câu này là ca dao Nam Bộ.
    Bốn câu thơ/ca dao trên rất hay và nói lên điều gì? Từ Người trong Quan Họ nó rất hay, không nói anh, không nói em mà nói người, người mang cái ý nói trong giao duyên “Người ơi người ở đừng về” từ người rất là người và thật, câu nói như hờn dỗi “Người về ta chẳng cho về” rất tự nhiên, từ ta ở đây cũng hay, xác lập lên một vị thế để làm chắc cho câu đùa. Nếu như không phải là ta và người thì câu đùa không có trụ vững và sẽ trôi đi nhạt nhạt không níu chân được ý thơ vào trí não người đọc, người thưởng thơ “Người về ta chẳng cho về” nếu thay bằng “Anh về em chẳng cho về, hoặc Em về anh chẳng cho về, hoặc bạn về mình chẳng cho về, hoặc mày về tạo chẳng cho về, lựa chọn nào là tốt đẹp nhất để cất lên đọc luôn có mình trong đó, đó là cách nói cách dùng từ tôn trọng người đọc nhất, tôn trọng người đọc tức là không phân biệt người đọc là thành phần nào, luôn luôn đưa người đọc vào trong câu nói, vào trong chữ viết ra và khi ấy người đọc cảm giác không bị xa cách, người đọc không bị tách khỏi ra khi đọc câu thơ. “Người về ta chẳng cho về” câu nói níu kéo vui đùa này thực ra là tấm lòng của người ở lại, người chủ với người khách, người về, nói ra nỗi lòng của mình mà thôi còn hiện thực và thực tế thì nó ở câu sau. Nỗi lòng ấy cũng là tình cảm, cũng là mong ước và hy vọng…con người nói ra được tình cảm của mình, mong ước của mình, trạng thái sâu thẳm trong tinh thần của mình thì còn hạnh phúc gì bằng. Và phải ở tâm thế nào đó mới nói ra được, chứ không đơn giản. Tình cảm ấy, tấm lòng ấy, tình yêu muốn níu kéo người khách ấy phải là thật, xuất phát từ đáy sâu trong lòng mới bật lên một câu đùa không thật nhưng mà lại là thật, cả chủ và khách đều hiểu và đều cảm thấy hài lòng. Người đọc cũng hài lòng và hiểu ngay được tấm lòng và tinh thần nhất quán rất đậm đà tình người, tình cảm sâu sắc giữa con người với con người, giữa người và ta này.
    Câu thứ hai: Ta níu áo lại ta đề câu thơ. Câu này mới là thực tế. Xuất phát từ tấm lòng không muốn cho người về, muốn giữ người ở lại ấy nhưng thực tế vẫn biết là không giống như mong muốn được, thực tế lúc này đẩy tới quyết định của vị khách, của người tới, và người tới ấy quyết định là từ về ở câu trên, người về, sự níu kéo ấy thể hiện bằng thực tế từ níu ở câu sau. Tài tình ở đây là từ tinh thần, từ tình cảm, từ sâu nguồn tâm hồn của khách đã thành thực tế hành động níu, sự níu kéo ấy, lưu luyến ấy thể hiện và xuất phát từ trong vô thức của chủ “Ta níu áo lại ta đề câu thơ” Níu áo lại, một hành động như gió bay, ngập ngừng của khách muốn ở lại chứ không và chưa rất khoát đi nên động từ níu mới tồn tại, không phải là cố vì tình thế rất tự nhiên khi sâu thẳm đã hiểu nhau rồi, và “ta đề câu thơ” sự mộng mơ và nên thơ của mối quan hệ lúc này thi vị đến cao nhất, tinh thần và tâm hồn vượt lên để sánh bước với những thiên thần, câu thơ đã thành thơ, mối tình đã thành thơ, mối quan hệ khách chủ, mối tình người với người đã thành thi vị, đã trở lên thơ mộng và tuyệt vời hóa. Không cần biết là đề thơ gì nhưng đã mở ra rất nhiều hy vọng, câu thơ mở ra hy vọng và mong muốn, thể hiện được khát vọng vươn lên, khát vọng khẳng định và ước mơ vươn tới trong mối quan hệ nhường ấy thì làm sao mà không tuyệt vời được. Sự khéo léo trong câu từ và cách nói của Quan Họ (quê tôi, hì hì) thật tuyệt vời và cao siêu, thi vị biết bao.
    Hai câu sau: là hai câu ca dao, ca dao là sự đúc kết truyền thống và kinh nghiệm của nhân dân, thường tồn tại ở dạng truyền miệng, mang vần và ý nghĩa phổ quát lớn. “Em về giồng Dứa qua truông” Từ Dứa được viết hoa không biết có ý nghĩa gì? Dứa ở Nam Bộ khác với dứa ở Bắc Bộ, dứa ở Nam Bộ thường gọi là thơm cho nên tôi không hiểu được từ dứa ở câu này. Tôi tạm hiểu ý câu này thì em về mang theo hy vọng nào đó thể hiện bằng sự ví von như tiếng gió truông vang nào đó, nó mong manh, nó mở ra một miền không gian ý nghĩa nào đó. “Gió day bông sậy, bỏ buồn cho anh” rõ ràng ở câu sau nói rõ nghĩa cho câu trước, sự mông lúc ấy được thể hiện ở day bông sậy, bông sậy thường đại diện cho nỗi buồn, cái đẹp nhưng đẹp buồn ở bờ sông. Day bông sậy, từ day ấy chính là day rứt ở câu đầu, em về day rứt điều gì đó mà gửi tâm tư vào âm thanh truông chùa, ở Nam Bộ ít cho truông chùa, mà thường là truông nhà thờ, vì thế tâm trạng người em về này lòng chất đầy nỗi tâm tư, buồn man mát nào đó và rồi giận hờn liên tưởng tới gió day bông sậy và chuyển thành hành động bỏ buồn cho anh. Tâm trạng em về buồn nhưng em không giữ, em trồng nỗi buồn ấy lớn lên và qua tiếng truông truyền vào gió, tới bông sậy, lay lắt ấy truyền buồn sang anh. Sự khéo léo trong cách nói, không nói trực tiếp, tao buồn thì mày cũng buồn, hoặc em buồn anh cũng phải buồn theo em, nếu không thì chúng ta chẳng có gì. Thì ở đây nhân dân ta dùng cách nói khéo léo, lượn lách một cách có thi vị, có âm thanh, có hình ảnh để cuối cùng khẳng định một điều là sự xa cách ấy chắc chắn là không ai mong muốn, chắc chắn từ sâu thẳm giữa hai con người luôn có gì hoặc phải có gì, đã có gì từ vô thức tâm can là liên hệ với nhau, để rồi sự liên kết ấy tồn tại. Nhân dân ta mà ở đây nhân dân Nam Bộ đã có những câu ca dao tận tình và khéo léo, reo vào lòng người đọc niềm tin yêu và hy vọng, cũng như khẳng định được mối quan hệ và liên quan khăng khít không tách rời giữa người với người, thể hiện truyền thống người Việt Nam nghìn năm văn hiến.
    Hoa Phong.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *