Trương Tửu – Khởi điểm của những khởi điểm

Có thể nói, Trương Tửu là người đầu tiên vận dụng các lý thuyết phương Tây này vào nghiên cứu các tác giả Việt Nam, những “viên đá triết học”, một cách bài bản và sáng tạo…

Trương Tửu (1913 – 1999) vốn là một nhà tiểu thuyết xã hội, rồi cây bút phê bình nổi tiếng trên báo Loa, cuối cùng từ 1940 trở thành nhà phê bình học giả. Bấy giờ trung tâm trí thức chuyển từ Tự Lực Văn Đoàn về Tạp chí Thanh Nghị và nhà xuất bản Hàn Thuyên. Quanh nhà xuất bản này, quần tụ các trí thức cánh tả, các nhà mác xít (cả Bốn lẫn Ba), các nhà văn hiện thực. Nếu Lương Đức Thiệp nghiên cứu Xã hội Việt Nam, Nguyễn Tế Mỹ nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ góc độ xã hội học, thì Trương Tửu đem cái tinh thần khoa học này vào phê bình văn chương.

Nhà văn – nhà phê bình văn học Trương Tửu (1913 – 1999)

Có thể nói, ông là người đầu tiên vận dụng các lý thuyết phương Tây này vào nghiên cứu các tác giả Việt Nam, những “viên đá triết học”, một cách bài bản và sáng tạo. Trước đây tôi đã xiển dương ông như một nhà phê bình khoa học khách quan (xem Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy, 2011, tr. 225 – 333), nay tôi muốn nói tới cạnh khía khác tiên phong của ông trong tiếp nhận các lý thuyết văn chương của thế giới vào phê bình văn chương Việt.

Thám mã Hồ Xuân Hương

Phê bình phân tâm học vào Việt Nam rất sớm. Năm 1936 đã có hai công trình áp dụng phương pháp này: tiểu luận Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương[1] của Trương Tửu và chuyên luận Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài[2] của Nguyễn Văn Hanh. Cả hai đều ứng dụng học thuyết của Freud vào nghiên cứu một hiện tượng giàu dữ liệu phân tâm là Hồ Xuân Hương. Có thể phân tâm học bấy giờ đã trở thành một học thuyết thời thượng trên thế giới.

Năm 1940, trong Kinh Thi Việt Nam, Trương Tửu lại trở về áp dụng Freud vào phân tích mảng ca dao dâm tục và thơ Hồ Xuân Hương. “Cái óc Việt Nam lúc nào cũng có cái hình tục tĩu kia ám ảnh đến nỗi cái hình ấy đã thành cái khuôn, bao nhiêu ngoại vật phải chiếu qua nó, rồi mới vào được trong đầu. Có thể người Việt Nam trông sự vật, tả sự vật bằng cái giống […]. Không có giả thuyết cho rằng não trạng ấy là một di tích của một tôn giáo thờ sự sinh đẻ thì làm sao mà cắt nghĩa được nó? Làm sao cắt nghĩa được Hồ Xuân Hương, cái thiên tài hiếu dâm đến cực điểm kia? Bất kỳ tả cảnh gì, vật gì, nàng cũng tả qua cái khung dâm, cái giống. Chúng ta chẳng đã đọc những bài Đánh cờ người, Đánh đu, Dệt cửi, Cái giếng của nữ sĩ có một không hai ấy”.[3] Tuy nhiên, phân tâm học của Trương Tửu vẫn là phân tâm học tiểu sử của Freud, giai đoạn đầu của phê bình phân tâm học.

Tuần báo Loa (1935-36) nơi Trương Tửu thành danh như là cây bút phê bình ấn tượng. Ảnh: Thư viện Quốc gia 

Minh định cá tính Nguyễn Du

Trường phái văn hóa – lịch sử gắn liền với chủ nghĩa thực chứng của A. Comte (1798 – 1857), người chủ trương ứng dụng các phương pháp của khoa học thực nghiệm vào nghiên cứu xã hội. Đến H. Taine (1828 – 1893), ông thu gọn một trạng thái văn hóa/ văn minh vào 3 khởi nguyên là chủng tộcmôi trường và thời điểm. Rồi đến E.Zola (1840 – 1902), nhà văn khởi xướng của “tiểu thuyết thực nghiệm”, thì ba khởi nguyên này, một lần nữa, lại được rút gọn chỉ còn một là khí chất. Theo ông, khí chất là cửa sổ để nhà văn nhìn ra thế giới, còn theo tôi, khí chất cũng còn là cửa sổ để nhà phê bình nhìn vào thế giới nhà văn

Ảnh hưởng trực tiếp của Taine phải chờ đến Trương Tửu của thập kỷ 40, khi ông đã vượt qua giai đoạn phê bình ấn tượng trên báo Loa (1935 – 36) để đến với phương pháp khoa học vốn là “tinh thần thời đại” của văn hóa giai đoạn 1940 – 45 này. Hơn nữa, sự hạnh ngộ với Taine hình như chỉ có thể có được ở những người cứ thích đẩy sự việc đến cùng như Trương Tửu.

Phê bình văn hóa – lịch sử thể hiện trọn vẹn và sáng tạo trong tác phẩm Nguyễn Du và Truyện Kiều[4] của Trương Tửu với bút danh Nguyễn Bách Khoa. Có điều ba khởi nguyên chủng tộc, môi trường, thời điểm của Taine được ông chuyển thành huyết thống, quê quán, thời đại. Trước hết, huyết thống Nguyễn Du thuộc về họ Nguyễn Tiên Điền, được định danh bởi câu ca dao: “Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây/ Sông Lam hết nước, (thì) họ này hết quan”. Đó là truyền thống khoa bảng, thư lại.

Còn một truyền thống khác ít nhiều làm nhạt loãng truyền thống trên là văn chương, nghệ sĩ. Nguyễn Nghiễm để lại hai tập thơ chữ Hán và với bài phú Nôm nổi tiếng Khổng tử mộng Chu công. Nguyễn Khản nổi tiếng thơ Nôm và thích hát xướng, để lại một bản dịch Chinh phụ ngâm. Cháu Nguyễn Du là Nguyễn Thiện, người nhuận sắc truyện Hoa tiên, còn Nguyễn Hành, một cháu khác, có thi tập Minh quyên. Trong “An Nam ngũ tuyệt” bấy giờ, thì họ Nguyễn Tiên Điền đã có hai, là Nguyễn Du và Nguyễn Hành. Như vậy, chảy trong huyết quản Nguyễn Du là hai dòng máu đối lập quan lại và nghệ sĩ.

Nghệ Tĩnh, quê hương Nguyễn Du, là một vùng đất rừng rậm, núi cao, sông sâu, biển rộng. Thiên nhiên hùng vĩ, khắc nghiệt thường kích thích ở con người một sức kháng cự bền bỉ, một lòng kiên nhẫn phi thường, trước để tồn tại, sau để tồn tại một cách xứng đáng. Dân Nghệ, bởi thế, rất cứng cỏi, kiên cường. Xứ này từ xưa vốn là một vùng biên viễn, miền giáp ranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Sự cọ xát bao giờ cũng làm con người tăng ý chí.

Hơn nữa, biên cương bao giờ cũng là vùng đất hiểm nguy nhưng tự do. Đất đến của những người bị lưu đày, người tỵ nạn chính trị (tổ tiên Nguyễn Du là một trường hợp), những kẻ phiêu lưu, những người thích “vượt biên”. Họ mang đến cho người Nghệ những nguồn sinh lực mới, lòng yêu tự do, sức mạnh chống lại những khuôn mẫu do một thổ ngơi áp đặt. Yếu tố địa – văn hóa này đã in sâu vào tâm thức Nguyễn Du.

Tuy nhiên, nói đến Nguyễn Du mà chỉ nói đến quê Nghệ là chưa đủ, cần phải thêm quê Bắc nữa. Đây là một vùng văn hóa cổ của người Việt. Đặc biệt đất Kinh Bắc, quê mẹ nhà thơ, có sinh hoạt quan họ trữ tình độc đáo. Nơi sản sinh ra các cô thôn nữ “khỏe mạnh mà không thô kệch, quê mùa mà thanh lịch, yêu kiều mà đoan trang, áo nâu non, váy lưỡi trai bảy bức, yếm thắm hoa hiên, răng đen hạt huyền, mắt trong như dòng suối”.[5] Đây là hình ảnh tiêu biểu của người đàn bà Bắc bộ, tuy ít sản sinh ra anh hùng, nhưng lại là mẹ của nhiều thi nhân. Như vậy, Nguyễn Du đã kết hợp được trong bản thân mình hai nết đất, tuy đối lập nhau, nhưng bổ sung nhau đắc lực.

Huyết thống và quê quán dù góp phần quan trọng vào việc hình thành Nguyễn Du, nhưng đều là những yếu tố tĩnh, nên chúng chỉ thực sự có tác động mạnh mẽ vào những thời điểm động. Thời đại Nguyễn Du chính là thời điểm động đó. Bấy giờ do chiến tranh liên miên nên Nho giáo, cái học thuyết trị bình ấy, bị khủng hoảng. Phật giáo, Đạo giáo và văn hóa dân gian, chủ yếu là lễ hội dân gian, hồi sinh và phát triển trở lại. Nho giáo mất vai trò ý thức hệ độc tôn. Lần đầu tiên, ở xã hội Việt Nam, xuất hiện tầng lớp thương nhân và đẳng cấp quan binh. Tầng lớp nho sĩ thư lại bị xuống giá, suy tàn.

Một số tác phẩm nghiên cứu của Trương Tửu. Theo ông: “Phận sự của nhà phê bình không phải là khám phá tâm sự nhà văn. Tâm sự nhà văn thuộc về phần hữu thức (…). Còn cá tính tức là tất cả những tầng lớp sự vật ẩn tàng ở phía dưới, cái đó gọi là tiềm thức”.

Điều này trước hết đụng chạm đến gia đình và bản thân nhà thơ. Nguyễn Nghiễm, người cha suốt đời ôm mộng “Khổng tử gặp Chu công”, mất khi Nguyễn Du mới 5 tuổi, 2 năm sau mẹ cũng mất. Nhà thơ phải sống với người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản ở Thăng Long. Rồi loạn Trịnh Tông Trịnh Cán, Kiêu binh nổi dậy, Tây Sơn kéo quân ra Bắc, cửa nhà bị thiêu trụi, anh em tan tác, Nguyễn Du phải trải “mười năm gió bụi”. “Đẳng cấp Nguyễn Du điêu tàn, huyết tộc Nguyễn Du điêu tàn, lý tưởng tôn vương của Nguyễn Du chưa nở đã héo từ trong chồi nụ, tương lai Nguyễn Du đen mù đen mịt, thân thế Nguyễn Du bấp bênh như cánh bèo trên mặt sóng”.[6]

Như vậy, ba khởi nguyên trên: huyết thống, quê hương, thời đại đã tạo nên cá tính Nguyễn Du. Vượt qua được lối nghiên cứu tâm sự Nguyễn Du, tức tâm sự hoài Lê, do Đào Duy Anh đúc rút,[7] Trương Tửu đã đẩy con thuyền phê bình ngược nước đi xa hơn, nghiên cứu cá tính, tức khí chất trong quan niệm của Zola. Ông tuyên bố: “Phận sự của nhà phê bình không phải là khám phá tâm sự nhà văn. Tâm sự nhà văn thuộc về phần hữu thức (…). Còn cá tính tức là tất cả những tầng lớp sự vật ẩn tàng ở phía dưới, cái đó gọi là tiềm thức”.

Tóm lại, phê bình Truyện Kiều nói riêng và phê bình văn học nói chung, đến Trương Tửu, đã đặt được cột mốc mới. Bởi, từ tâm sự đến cá tính là hành trình từ con người xã hội, bề mặt đến con người tâm lý bề sâu; từ con người hữu thức đến con người tiềm thức. Với khái niệm – chìa khóa cá tính Nguyễn Du, một mặt nhà phê bình đã lý giải được những động lực sáng tác, một thứ tâm lý học sáng tạo, những đặc sắc nghệ thuật của Truyện Kiều. Sau Nguyễn Du và Truyện Kiều, Trương Tửu không còn sử dụng phương pháp văn hóa – lịch sử nữa, mà chuyển hẳn sang phê bình xã hội học mác xít.

Lý giải nghịch lý Nguyễn Công Trứ

Phê bình xã hội học lấy cái xã hội như một nguyên nhân để giải thích văn học như một kết quả. Phê bình xã hội học đến Việt Nam là phê bình xã hội học mác xít, nhánh duy lý nhất của nó. Phê bình xã hội học mác xít trừu xuất mối quan hệ tác phẩm – hiện thực thành chức năng phản ánh của văn học. Phê bình xã hội học chỉ thật sự được khẳng định khi xuất hiện Nguyễn Bách Khoa – Trương Tửu với tác phẩm tiêu biểu Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ.[8]

Trước hết, Trương Tửu nhận thấy ở cuộc đời và thơ văn Nguyễn Công Trứ có hai nhịp mạnh là công danh và hành lạc. Cái trước thuộc về mẫu nhà nho hành đạo, nhà nho chính thống, cái sau thuộc nhà nho hành lạc, phi chính thống. Hai chiều kích này không thể dung hòa với nhau được.

Để lý giải cái nghịch lý trong con người này, tức tìm cách biến nó thành thuận lý, Trương Tửu đã tiến hành phân tích mâu thuẫn giai cấp ở thời đại Nguyễn Công Trứ. Thời đại của nhà thơ, tức giai đoạn cuối Lê – đầu Nguyễn, đặc biệt là giai đoạn đầu Nguyễn.

Đây là thời kỳ trong xã hội có ba đẳng cấp (hoặc quá lên: giai cấp) đấu tranh với nhau. Trước hết là đẳng cấp nho sĩ của Nguyễn Công Trứ. Tầng lớp này vốn đã suy vong, bị đẳng cấp quan binh và phú thương chèn ép vào thời Lê mạt, Tây Sơn thì đến đầu Nguyễn bắt đầu được phục hưng với việc suy tôn Nho giáo và khôi phục lại chế độ khoa cử. Tầng lớp thứ hai là phú thương, sản phẩm của chính sách mở cửa buôn bán từ cuối Lê. Tuy đã bị thất bại trong việc giành quyền lãnh đạo đất nước (ví dụ Cống Chỉnh), nhưng đến thời Gia Long, Minh Mệnh, phú thương vẫn còn là một thế lực đáng gờm. Thứ ba là giai cấp địa chủ, mà kẻ đại diện quyền lợi cho nó là quý tộc thống trị.

Tầng lớp , để khẳng định được tính ưu việt của mình, trong cơn cuồng hứng hồi phong, nó phải gia nhập bằng được tầng lớp thống trị. Bởi thế, chí nam nhi là lẽ sống của Nguyễn Công Trứ: Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông; Không công danh thì nát với cỏ cây. Còn để đối lập mình với tầng lớp phú hộ ô trọc dốt nát, “trưởng giả học làm sang”, tầng lớp sĩ phô bày tính học thức cao quý của mình. Bởi thế, ngoài hành đạo (để thực hiện chí nam nhi), Nguyễn Công Trứ còn hành lạc, hành lạc có triết lý, có nghệ thuật, để làm bỉ mặt bọn trọc phú, khẳng định tính hơn hẳn của sĩ đối với thương, đồng thời cho hả giận: “vui này cho bõ đau ngầm ngày xưa” của thuở hàn vi.

Hơn nữa, tầng lớp sĩ bao giờ cũng tin rằng chính trị của quý tộc phải làm lợi cho địa chủ thì xã hội yên ổn và địa vị của quý tộc và sĩ phiệt mới vững chãi. Vì thế, ít nhiều sĩ phiệt, một mặt, vẫn là đại diện của địa chủ và, mặt khác, ở một chừng mực nào đó lại là đối thủ của chính sách quân quyền chuyên chế. Chính tính hai mặt này của tầng lớp sĩ là lý do tại sao Minh Mệnh vừa tin vừa ngờ, vừa dùng vừa bỏ Nguyễn Công Trứ, khiến con đường hoạn lộ của ông luôn lên voi xuống chó. Có điều, tinh thần thời đại Nguyễn Công Trứ hoàn toàn phù hợp với cá tính và chí hướng của bản thân ông, nên nó đã trở thành hộp cộng hưởng khuếch đại tiếng nói của nhà thơ vang xa và đi sâu vào tâm hồn người.

Sự phân tích giai cấp ở văn phẩm này, nhờ còn vương đôi chút tư tưởng của các trí thức cánh tả Pháp hoặc các nhà Mác học, nên quả thực hết sức sắc sảo và độc đáo, đặc biệt là sự lý giải tư tưởng hành lạc và hoạn lộ thăng trầm của Nguyễn Công Trứ từ phương diện xã hội. Một vài luận điểm của Trương Tửu ở tác phẩm này được nhiều nhà phê bình về sau vô tình hay hữu ý (dù không thừa nhận!) kế thừa và phát triển. Như vậy, có thể nói, Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ là một tác phẩm phê bình xã hội học mác xít xuất sắc không chỉ của Trương Tửu, mà của toàn bộ nền phê bình xã hội học Việt Nam trước, thậm chí cả sau, 1945.

Nhiều tác giả và tác phẩm mà Trương Tửu sử dụng các lý thuyết mới để phê bình đều là những tượng đài của văn chương Việt Nam. Những phát hiện mới và khác của ông càng dễ để bạn đọc so sánh với các cách tiếp cận trước, thậm chí cả sau ông. Có không ít ý kiến chê trách Trương Tửu “ăn sống nuốt tươi” lý thuyết, hoặc áp dụng lý thuyết còn gượng ép, “chặt chân cho vừa giầy”. Nhưng, tôi nghĩ, nếu có thì chỉ ở các chi tiết, còn ở tổng thể là sự ứng dụng thành công. Lỗi không phải ở tài năng của ông, mà còn ở sự ứng dụng lý thuyết “từ trên xuống”. Những người sau ông, chỉ cần đảo lại cách tiếp cận “từ dưới lên” là tránh được các nhược điểm của người tiền bối, người khai hoang.

ĐỖ LAI THÚY

______________________

[1] Trương Tửu (1936), “Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương”, Tiến hóa, số 1, Hà Nội.

[2] Nguyễn Văn Hanh (1936), Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài, Aspar xb, Sài Gòn.

[3] Nguyễn Bách Khoa (1940), Kinh thi Việt Nam, Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội.

[4] Nguyễn Bách Khoa/ Trương Tửu (1942), Nguyễn Du và Truyện Kiều, Văn Mới/ thuộc Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội.

[5] Nguyễn Bách Khoa (1951), Nguyễn Du và Truyện Kiều, tái bản, Nxb Thế Giới, tr.21.

[6] Nguyễn Bách Khoa (1951), Nguyễn Du và Truyện Kiều, tái bản, Nxb Thế Giới, Hà Nội.

[7] Đào Duy Anh (1943), Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan Hải tùng thư xb, Huế.

[8] Nguyễn Bách Khoa (1943), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *