Truyện ngắn Trương Văn Dân: Milano-Sài Gòn: Đang về hay sang?

VHSG- Truyện viết theo hai tuyến, một bên là trái tim và một bên là khối óc. Tình và lý, theo hai mạch truyện khác nhau nhưng được kết nối và hoà quyện bởi cảm xúc của nhận vật.

Vợ chồng nhà văn Elena Pucillo Truong – Trương Văn Dân

1-

Mới chỉ 6 giờ mà may bay đã hạ cánh! Theo hành trình, tôi sẽ đến phi trường Malpensa vào lúc 6h35 sáng. Qatar là một hãng máy bay mà từ nhiều năm nay lúc nào cũng đến sớm hơn giờ ấn định. Elena đã có mặt. Nàng đã về Ý truớc tôi hai tuần, để có thể có thời gian quây quần với người thân lâu hơn; sáng đó nàng đã thức từ 4h để chuẩn bị đón tôi từ VN sang.

Tối hôm trước tôi đã nói với các cháu ra tiễn ở sân bay Tân sơn Nhất: Chú (cậu) là người đàn ông may mắn, đi người đưa, đến người đón. Người khổ nhất là Elena, lúc nào cũng cô độc, thui thủi, việc gì cũng phải tự lo, thế mà luôn ân cần và vui vẻ, lúc nào cũng muốn mọi người xung quanh được chăm sóc một cách chu đáo.

Niềm vui của Elena là cho đi chứ không phải nhận lại.

Nhiều lúc tôi nghĩ là cô ta còn “nợ” tôi từ tiền kiếp. Và kiếp này “phải” trả.

Và cô ta đang sẵn lòng “trả nợ”.

Tự chấp nhận và biến mình thành “con nợ truyền kiếp”. Với niềm vui.

2-

Trên con đường từ sân bay về thành phố Milano, những hàng cây bên đường lá xanh mơn mởn: Elena cho biết là mấy ngày trước có vài cơn mưa, rửa sạch bụi. Nhờ thế nên màu xanh của lá còn xanh hơn, thật khác với những tán lá vàng nâu của thành phố Sài Gòn, lúc nào cũng đầy khói, bụi vì xây dựng và đào bới.

Có lẽ nhờ cơn mưa bất chợt mấy ngày trước đó nên cuối tháng 5 mà trời vẫn còn mát mẻ như mùa Xuân.

Con đường 3 làn rộng rãi, quang đãng, xe chạy bon bon hoàn toàn khác với cảnh hỗn loạn, chen lấn từng thước đất, tranh nhau nửa vành bánh xe ở nơi tôi vừa bỏ lại.

3-

Con đường thẳng tắp. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã rời xa lộ. Xe rẽ vào đường làng. Thành phố chưa thức giấc nên có ít người qua lại. Sự xô bồ của đời sống Tây phương vẫn còn đang ngái ngủ, làm tôi cảm thấy như mình đang hòa vào một dòng sống khác.

Chỉ ít phút nữa là tôi sẽ về đến nhà. Nhà. Nhưng đây là đâu? Là Milano, nơi tôi đã từng sống 40 năm, sao mà xa lạ, chỉ sau một năm xa cách. Liệu đây có phải là lần cuối cùng tôi quay lại thành phố này, trước quyết định sẽ không, hay còn rất ít lần quay lại?

4-

Lúc Elena đậu xe, tôi nhìn thấy những chú sóc nhanh lẹ nhảy nhót trên thảm cỏ trong vườn. Chợt nhớ những buổi sáng mùa Xuân ngồi uống cà phê ở ban công trên tầng 3, tầng cao nhất ở căn nhà Cassina de Pecchi này. Bầu trời rộng mở. Không có những cao ốc che mất tầm nhìn. Những hàng cây xanh lá mướt. Chim chóc bay lượn, ca hát líu lo. Tôi thường nhìn những cụm mây trắng trên nền trời xanh. Thỉnh thoảng có vài cánh chim lao vút ra vườn. Và tiếng quạ kêu quang quác trong không gian yên tĩnh. Các chú quạ hay làm tổ trên cây thông thật cao gần đó nên nhiều khi đáp xuống trục antene trên nóc nhà đối diện làm chúng rung rinh.

Cây betulla (bouleau) trước nhà lúc này cành lá rất xanh. Đỉnh của nó chỉ cao hơn sàn nhà tôi chừng hơn 1 mét, cành xa bờ chưa đầy 2 mét, nên những buổi sáng mùa đông, cầm tách cà phê nóng trên tay, tôi thường đứng  trên ban công nhìn tuyết đang tan hay những bụi sương theo cành trụi lá chạy xuống, nhưng đến cuối ngọn thì dừng lại, đọng thành giọt mà chưa đủ sức nặng để rơi; đong đưa treo mình như hạt ngọc. Nó kiên nhẫn chờ đợi, lung linh phản chiếu tia nắng như một lăng kính, mãi đến khi những bụi nước li ti khác hoà nhập, hạt nặng hơn, lúc đó mới gieo mình rơi xuống, hòa với lớp tuyết đang tan nằm dưới gốc cây.

Bước vào nhà, Elena thao thao nói chuyện mà tôi chỉ nghe tiếng được tiếng không. Đầu óc tôi đang “tơ tưởng” về mấy quyển sách đang nằm trong túi xách. Đó là 3 quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, bản thảo vi tính mà anh Nguyên Minh đã in ở VN để tôi đem  qua đây tặng bạn. Sách in thử mà rất đẹp. Tôi sẽ dành riêng cho: Thiện (Paris), Vũ (Milano) và chị Huỳnh Ngọc Nga (Torino), chị bạn văn duy nhất của tôi ở Ý…

Đầu óc tôi còn đang mơ mơ màng màng về hành trình văn học của mình, về “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, tiểu thuyết đầu tay mà đã được công ty văn hoá Phương Nam ký hợp đồng để mua tác quyền 5 năm và sẽ in trong năm nay (nxb Hội nhà văn-2011).

Khi còn ở Ý và viết “Hành trang ngày trở lại” ( nxb trẻ, 2007)  tôi đã xem Việt nam là nơi trú ẩn an toàn sau những bon chen của xã hội Tây Phương.

Còn khi đi về để viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”… thì xã hội Việt Nam đã như xã hội Tây Phương. Đã và đang bị Tây Phương hoá.

Thời gian chẳng bao lâu mà thay đổi quá nhiều.

Tôi đã mệt mỏi với những xô bồ. Cần sống chậm lại. Đó có thể là cách kìm hãm sự thao túng của kỹ thuật lên văn hoá, văn minh và thiên nhiên. Những chiêm nghiệm và bức xúc đó, phần nào đã tuôn trào, rơi trên mặt giấy và biến thành những con chữ.

“Bàn tay nhỏ dưới mưa” vì thế đã được lồng trong bối cảnh xã hội mà tôi chứng kiến và đối chiếu, từ bên này hay bên kia trong các chuyến đi về. Thế nhưng câu chuyện của người đàn bà tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình có điểm xuất phát từ đâu? Vì sao chỉ sau 3 năm hạnh phúc nàng đã phải đối diện với căn bệnh nan y và nhìn lại toàn bộ đời mình, rồi cuối cùng tự hỏi, ta là ai?

Vậy Gấm là ai?

Hai năm trước, khi đọc bản thảo đầu tiên trong lần họp mặt ở Thân Trọng điền trang – (Đà Lạt), nhà văn Lữ Kiều (bác sĩ Thân Trọng Minh) và nhà văn Khuất Đẩu, cũng đều hỏi tôi câu hỏi đó.

Nhưng tôi im lặng. Không hiểu vì sao mình lại “thai nghén” nó !

5-

Nghỉ một hôm vì chênh lệch giờ giấc, sáng hôm sau chúng tôi đi thăm ba của Elena bị bệnh. Sau trận tai biến, gần một năm ông phải ngồi xe lăn và nói chuyện rất khó khăn. Elena rất buồn vì có lúc phải áp sát tai mà vẫn rất khó hiểu những lời phì phào của ông. May có bà dì  Fiore chăm sóc và một nữ  y tá đến theo dõi tình hình và chích thuốc vào mỗi sáng.

Buổi chiều, khi chúng tôi đang trên đường về nhà thì Giuseppe gọi điện mời đến nhà. Tôi hẹn bạn sáng hôm sau.

Chúng tôi ngồi với nhau dưới mái hiên nhà bạn. Cũng hơn năm rồi rồi tôi và Giuseppe mới gặp lại nhau, kẻ thì bận áo cơm, người ngược xuôi lăn lộn. Chuyện cũ, chuyện mới cứ tự nhiên ộc ra như suối. Giuseppe từng là một kẻ rất… rất giang hồ. Nhưng ở anh, có tấm lòng với anh em huynh đệ thật chí nghĩa chí tình.Từng hoạt động trong phong trào thiên tả, rồi về sau hụt hẫng. Quen nhau từ khi tôi mới qua Ý và học cùng phân khoa Hoá và Công Nghệ Dược. Lúc đó anh hoạt động trong phong trào sinh viên.Tôi còn nhớ  có lần đi biểu tình chống Mỹ can thiệp ở Việt nam, khi về ngang qua khu San Babila, tay anh cầm cờ mặt trận nên bị bọn phát xít nơi đây vây đánh đến chảy máu mũi rồi bỏ chạy trước khi cảnh sát ập đến.

Năm tháng đi qua, lý tưởng ngày xưa chỉ còn là kỷ niệm. Sau bao chìm nổi, giờ anh là một quan chức cấp cao của tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức). Lên cao, lại chán trò đấu đá tranh giành quyền lợi trong công ty, anh thu mình, tìm lối thoát và trở thành chủ tịch một câu lạc bộ đọc sách. Biết tôi viết và dịch, anh ân cần mời tôi một tối đến tham dự một buổi họp mặt của các thành viên trong nhóm.Tôi và Elena vui vẻ nhận lời.

6-

Buổi sáng, trời mát mẻ. Tôi và Elena đến nghĩa trang thăm mộ mẹ nàng. Gọi là “mộ” nhưng thực ra đây là một hộc nhỏ trên tường, trong đó lưu giữ tro than của bà. Cuộc đời thật lạ. Chúng tôi sống với nhau những ngày đáng nhớ và từ “lúc ấy” không còn gặp nhau lần nữa. Sống chết là quy luật nhưng đây đó vẫn còn có bao người đang sống như mình sẽ không bao giờ chết.

Elena cẩn thận lau bụi trước khung ảnh của bà rồi thắp một nén nhang. Chấp tay đứng gần bên, tôi nhìn vợ mình đã bị “Việt hoá” như thế nào. Tàn nhang, chúng tôi dạo bước ra về.

Nghĩa trang vắng vẻ.

Vài chiếc lá rơi, lìa cành nhánh khẳng khiu, buồn đến  ngậm ngùi…

Khi bước vào xe, đột ngột Elena bảo : Mình về và bắt đầu dọn nhà là vừa. Phải chuẩn bị nhà trống để cho thuê và có thể lần tới quay về Ý mình không còn được ở căn nhà này nữa.

Tôi bàng hoàng. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước khi về lại Ý trong chuyến đi này… nhưng tôi vẫn không tránh khỏi bất ngờ.

Thế là bắt đầu một cuộc ném đồ đạc. Băng cassette. Video phim ảnh. Báo chí.Tài liệu. Các vật dụng… mỗi lần vứt bỏ là một nhát dao cắt vào da thịt.

Bốn mươi năm tôi đã sống ở đây, đã thay đổi chỗ ở nhiều lần và những vật dụng thân thiết ấy đã theo tôi. Giờ thì phải đành bỏ lại… vì không thể nào mang theo được. Sách vở là điều làm tôi khó nghĩ. Bỏ đi, tiếc. Đành phải chia bớt môt ít cho bạn bè, hy vọng họ có thời gian để đọc, còn những sách “quí”, phải gói ghém cẩn thận để đem về VN trong những chuyến đi về.

Bốn mươi năm. Tôi đã gắn bó với đất nước này thật mật thiết, bạn bè Ý rất đông, lấy vợ người Ý, học, làm việc, kinh nghiệm tích lũy nhờ học hỏi với các nhà khoa học rất giỏi và khiêm tốn.

Tôi chợt nghĩ đến nhưng người tôi đã mang ơn. Nhiều lắm. Những bạn sinh viên Franco, Guido, Giuseppe… lúc nào cũng sẵn lòng chia sẻ cùng những lời khích lệ lúc ngã lòng. Những đồng nghiệp chí tình Umberto, Loris, Marco, Enrica, Anna, Sandra… những vị thầy đáng kính và tận tâm Berti, Villa, Trabucchi.

Sống đời sống ở phương Tây mọi việc đều rõ ràng, sòng phẳng, thế nhưng lòng tôi luôn luôn canh cánh một món nợ. Nợ nước Ý. Nợ tình yêu của Elena, người con gái bốn mươi năm trước đã quen và yêu tôi hơn mọi thứ quý giá nhất trên đời. Một tình yêu hoàn toàn trong sáng, vô vụ lợi, không toan tính nhỏ nhen. Nàng chấp nhận đến với tôi từ khi còn là một “công tử”  ngu ngơ du học, đến những năm tháng khó khăn, sau 75, ở căn nhà không lò sưởi, mùa đông bên trong nhà còn lạnh hơn bên ngoài; Nàng chẳng rời tôi thời không tiền ăn sáng… nhịn đói ôm sách ra thư viện để được ấm thân, vừa học vừa mong đến giờ ăn ở quán cơm sinh viên (mensa). Nàng động viên, khuyến khích và cho tôi sức mạnh để vượt qua bao nỗi khó khăn, từ khi tốt nghiệp, việc làm tạm bợ bị bóc lột đến xương tuỷ vì không có quốc tịch, lương ba cọc ba đồng, cho đến lúc vươn lên, trở thành giám đốc kỷ thuật và trưởng phòng nghiên cứu phát triển dược thú y cho một công ty thuộc tập đoàn lớn nhất nước Ý (Ferruzzi group).

Bốn mươi năm, tôi đã đi theo sự chọn lựa mà nhiều khi cũng không có quyền chọn lựa. Nhiều lúc tôi đã phải cắn răng chịu đựng nhưng có lúc cũng mỉm cười, nhìn chướng ngại như môt cuộc thử sức rồi ngẩng đầu để đi lên. Rất nhiều năm, thân mình chưa lo nổi còn tự gánh lấy trọng trách cưu mang cả gia đình. Mười ba năm quen nhau mà chưa dám làm đám cưới… thế mà Elena vẫn chờ cho đến lúc gánh nặng trên vai tôi nhẹ bớt. Giờ thì tôi hiểu ra, khó khăn còn là một thứ xúc tác để những bông hoa trong khu vườn tình người nở rộ. Thăng trầm, vinh nhục… tất cả đều đã trải, đều đã vô thường, thay đổi, và chỉ có hằng số Elena là còn ở lại. Nàng luôn ở bên tôi. Lúc nào cũng ở bên tôi. Dù có khi chúng tôi cách xa nhau hơn 10.000 km.

Là người luôn chấp nhận hy sinh, Elena yêu tôi bằng một tình yêu mãnh liệt. Tình yêu ấy như hai trái tim nằm giữa lằn ranh, vừa Hoà vừa Nhập, thách thức mọi khác biệt của hai nền văn hoá. Mới đây nàng còn từ bỏ tất cả những gì thân thương để tiếp tục theo tôi trong một hành trình mới, về sống ở Việt nam, một đất nước còn bao khó khăn và ngổn ngang những vấn đề.

Tất cả những hồi tưởng này, lướt qua đầu tôi như một cơn gió nhẹ nhưng mơ hồ làm bật ra một vài ý tưởng. Lời giải đáp cho những câu hỏi còn loé sáng hơn khi tôi có cơ hội trình bày tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” trong buổi họp mặt tại câu lạc bộ người yêu sách.

7-

Ở thư viện Albairate, sau khi chào hỏi Giuseppe đặt lên bàn 3 quyển bản thảo vi tính BTNDM rồi yêu cầu tôi tóm tắt câu chuyện cho các bạn. Qua vài lời giới thiệu ngắn ngủi tôi kể chuyện về người đàn bà bất hạnh, tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình, là tri âm thể xác và tri kỉ tâm hồn. Đến lúc ấy Gấm mới nhận biết được tình yêu, say đắm “như yêu lần đầu” và hiểu ra là “hạnh phúc thật ra ở ngay trong những điều nhỏ nhặt”. Gặp “Anh”, kiến thức Gấm được mở mang và học được nhiều điều quan trọng. Nhưng số phận éo le, đúng khi tưởng nắm giữ được hạnh phúc với người đàn ông của đời mình thì Gấm lại bị ung thư.

Từ căn bệnh thời đại này tôi đã lồng câu chuyện tình yêu vào một bối cảnh xã hội rộng lớn, trong đó lòng tham của con người đang làm trái đất cạn kiệt, xã hội rối loạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm… và con người càng ngày càng sống phản lại tự nhiên.

Còn Gấm, đứng trước cái chết  được báo trước, nàng trăn trở, hoảng loạn, suy tư, ý thức “lẽ sống còn quan trọng hơn sự sống”… và cuối cùng tự hỏi “Ta là ai”.

Tôi bất ngờ và thú vị vì thấy có nhiều người đồng tình. Một cuộc thảo luận về nhịp sống hối hả làm thời gian bị đo lường, chắt bóp. Có người nói hiện nay tuy phương tiện giải trí có nhiều mà niềm vui dường như rất hiếm.Tâm trí của mọi người đều bị động. Có người nhắc đến các công nhân lắp ráp làm việc theo nhịp máy trong dây chuyền sản xuất, các động tác phải tuân theo các công đoạn trong một thời lượng quy định.  Xong việc, về nhà, vội vàng, căng thẳng vì đường phố đông đúc. Cái gì cũng “express”, cũng “fast”… từ ăn uống đến mua sắm.

Giuseppe nói “Thế giới thay đổi quá nhanh trong những năm gần đây làm con người không kịp thích nghi và do đó đánh mất thăng bằng tâm lý. Có các phương tiện để liên lạc mà trong xã hội chẳng ai biết nhau. Sự gia tăng các phương tiện truyền thông hình như tỉ lệ nghịch với sự giao tiếp giữa các cá nhân, con người sống Bên nhau nhưng không sống Với nhau. Tiếp xúc qua không gian ảo, nhìn nhau qua màn hình.”

Tôi dịch một vài trích đoạn cho các bạn, từ tình yêu ngút ngàn của Gấm dành cho “anh” đến nỗi hốt hoảng của Gấm khi biết mình sắp chết, đoạn phân tích tâm lý lúc nàng chạy về phía Bình Quới nhìn mây trắng hợp tan rồi nghĩ về lẽ tử sinh làm mọi người rất thích.

Một thành viên câu lạc bộ hỏi tôi, viết xúc động vậy sao không dịch ra tiếng Ý? Trước đó  tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Nhưng tại sao không? Có thể lược bỏ bớt những phần không thiết yếu…

Mọi người xôn xao bàn tán nhưng lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ đến quyển tiểu thuyết đang chờ in ở Việt nam. Giuseppe nói: “Mới đây mà đã bốn mươi năm!” Bốn mươi năm! Bốn mươi năm! Tôi giật mình. Chợt tỉnh. Bốn mươi năm chẳng phải là số tuổi của Gấm đó sao? Cớ  sao số tuổi của Gấm trùng với 40 năm tôi từng sống ở đây? Vì sao nàng chỉ hưởng hạnh phút có 3 năm rồi bị ung thư? Những trùng hợp này chỉ là ngẫu nhiên hay là tiếng gọi của tiềm thức, về một tình yêu cuồn cuộn của một thời tuổi trẻ, si mê, đầy nhiệt huyết và mộng mơ ở trời Âu và giờ đây như những đám mây bay qua bầu trời và sắp biến mất? Những thăng trầm, khổ đau, hạnh phúc của Gấm có khác gì đời sống của tôi mấy mươi năm qua? Thương yêu hờn giận, gắn bó đến thế, làm sao lòng không vương vấn, không đau như cắt ruột khi phải chia xa, dù được quay về nơi mình cất tiếng chào đời? Thế thì 40 năm sống ở trời Âu có khác gì 40 năm cuộc đời của Gấm? Rồi ba năm hạnh phúc, cũng chính là 3 năm mà tôi đã trở về quê hương. Tôi đã bình an biết bao. Nhưng khi ánh hào quang của cuộc trùng phùng chấm dứt, những biến đổi xã hội Á đông đang thay da đổi thịt, hoà theo nhịp sống cuồng loạn của toàn cầu hoá… đã xoá mất nếp bình thản cũ xưa, xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong thời hội nhập. Những bất an thực phẩm, ô nhiễm môi trường, trái đất cạn kiệt… tạo ra bao căn bệnh ung thư.

Gấm chết. Như chết một ước mơ, chết một đời sống bình yên.

Ba năm, thời gian đủ để tôi nhận ra là đời sống như tôi nghĩ đã không còn. Con người, gia đình con cái ít quây quần bên nhau. Người già cô đơn. Các căn bệnh thời đại xuất hiện: lo âu, buồn rầu vô cớ rồi sinh ra trầm cảm. Rồi tự sát. Sức khoẻ cơ thể có thể tốt nhờ tiến bộ y học mà sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ xã hội ngày càng kém sút. Chúng ta sống thọ hơn mà cuộc sống lại ít ý nghĩa hơn. Có khác gì những điều đang xảy ra ở trời Tây?

Ba năm, ngồi cà phê quán cóc ở vệ đường, tôi cũng nhìn thấy nhiều người lái xe bằng một tay, tay kia bấm phiếm nhắn tin, nghe điện thoại. Những bà mẹ chở con đi học thêm, đứa bé ngồi phía sau tranh thủ ăn, tranh thủ uống. Những người khác luồn lách, chạy xe với tốc độ kinh khiếp như đi vào chỗ không người. Có lần, trên chuyến xe đò về miền Trung ăn Tết, tôi kinh hồn thấy tài xế vừa chạy xe vừa dụi mắt chống cơn buồn ngủ. Chiếc xe chao đảo, suýt lao đầu xuống vực…

Nhịp sống đã thay đổi từng ngày, nếp sống văn hoá quay cuồng theo.Tình người đảo lộn. Ngay trong gia đình, cũng chẳng thiếu cảnh anh em vác dao chém nhau, chuyện con chửi mẹ, đánh cha, thậm chí giết cha mẹ cũng chỉ vì cơn sốt đất. Người người đang sôi lên vì kiếm tiền, kiếm việc làm thêm và mua sắm tất bật.

Những trăn trở ấy, không biết tự lúc nào đã đưa đẩy những ngón tay lên bàn phím, và từ tiềm thức, “Bàn tay nhỏ ” đã biến thành những con chữ.

Cầm trên tay, thấy sách được chia thành từng nhiều đoạn nhỏ, Giuseppe tò mò hỏi tôi đã lấy nguyên mẫu và cảm hứng từ đâu?

“Nguyên mẫu lấy từ nhiều nhân vật. Tôi đem gộp lại chuyện đời, hạnh phúc và khổ đau của nhiều người và viết thêm nỗi băn khoăn và tâm sự riêng của chính mình. Theo đó, tôi đã viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” như nhiều mảnh gương, mỗi mảnh phản chiếu theo một góc. Có mảnh quay vào trong, soi nội tâm nhân vật, có mảnh hướng ra ngoài để nhìn ra thế giới. Qua các trang viết đều có phản chiếu một chút người, một chút ta, một chút bạn bè và những cảm nhận về những vấn đề mang tính bản thể: sự sống và cái chết, nhân phẩm và sự sa ngã, khát vọng vô cùng của con người và những hữu hạn của tồn tại…” Il trauma che stiamo vivendo in questo momento assomiglia al trauma che abbiamo vissuto 80 anni fa, durante la Grande Depressione, ed è stato causato da una serie di circostanze analoghe. Allora, come oggi, abbiamo affrontato un crollo del sistema bancario. Ma allora, come oggi, il crollo del sistema bancario era in parte una conseguenza di problemi più profondi. Anche se risponde correttamente al trauma (i fallimenti del settore finanziario) ci vorrà un decennio o più per raggiungere il pieno recupero. Se noi rispondessimo in modo inappropriato o con gli stessi strumenti neoliberisti che hanno favorito la crisi, questa durerà ancora a lungo e il parallelo con la Grande Depressione assumerà una nuova dimensione tragica. [ I macro-economisti mainstream sostengono che il vero spauracchio in una recessione non è caduta dei salari, ma la loro rigidità: se i salari fossero più flessibili (cioè bassi), la disoccupazione si sarebbe ridotta, auto- correggendo il problema! Ma questo non è stato vero durante la Depressione, e non è vero oggi. Al contrario, bassi salari e redditi portano semplicemente a una riduzione della domanda, indebolendo ulteriormente l’economia.] Secondo la vulgata tradizionale, la politica restrittiva della FED ha causato la crisi del 1929, oppure il crollo (autunnale) di Wall Street ha provocato la recessione (che inizia in estate!!!) dell’economia americana. Il problema oggi, come allora, è un’altra cosa: la cosiddetta economia reale.
I paralleli tra la storia delle origini della Grande Depressione e quella della nostra crisi sono forti. Allora ci stavamo muovendo dall’agricoltura alla industria. Oggi ci stiamo muovendo dalla manifattura ad un’economia di servizi. Negli USA si calcola che il calo dei posti di lavoro nel settore industriale è stato drammatico, da circa un terzo della forza lavoro 60 anni fa a meno di un decimo di oggi. Il ritmo si è accelerato notevolmente nell’ultimo decennio. Ci sono due ragioni per il declino. Uno è una maggiore produttività, la stessa dinamica che ha rivoluzionato l’industria e costretto la maggioranza degli operai americani a cercare lavoro altrove. L’altro è la globalizzazione, che ha inviato milioni di posti di lavoro all’estero, a paesi a basso salario o quelli che hanno investito di più nelle infrastrutture o nella tecnologia. Qualunque sia la causa specifica, il risultato inevitabile è esattamente lo stesso di 80 anni fa: un calo del reddito e posti di lavoro. Per un certo tempo, la bolla immobiliare ha nascosto il problema creando una domanda artificiale, che a sua volta ha creato posti di lavoro nel settore finanziario e nella costruzione e altrove.

Giuseppe vỗ vỗ lên vai tôi: “Tác phẩm này giống như cuộc hành trình của con người đi tìm tình yêu, hạnh phúc và sự bình an trong một thế giới hỗn độn và điên loạn. Hãy cố dành thời gian để dịch ra tiếng Ý!”

Tôi gật đầu. Còn một điều nữa cũng vừa lóe lên trong trí nhưng tôi không nói với bạn. Đó là về cái chết của Gấm? Tại sao nàng đi trước mà không phải là anh? Bởi đó là nỗi khắc khoải, nỗi lo sợ, ước muốn và cũng là trách nhiệm của người chồng… Anh không thể “đi” trước, bỏ lại vợ mình trong một đất nước xa lạ… Uớc muốn này mới đầu tôi tưởng chỉ của riêng tôi, nhưng thời gian sau, khi Elena viết truyện ngắn đầu tay “Bàn tay trong một bàn tay”[1] thì tôi chợt hiểu đó cũng chính là những ám ảnh và ước muốn thầm kín của nàng.

8-

“Nền kinh tế hiện nay giống như một chiếc xe đạp. Nó buộc chúng ta phải làm việc và đạp liên tục thì mới chạy được, dừng lại là té ngã”. Anh bạn Franco đã từng nói với tôi như thế. Và hôm nay hình như mọi người đang kiệt sức, không đạp nổi. Nền kinh tế rất mạnh của Ý và Âu châu đã suy thoái từ  vài năm qua. Nhiều hãng xưởng đóng cửa hay làm việc cầm chừng. Bạn bè nhiều người lo lắng.

Buổi sáng, Elena cầm tờ báo và gọi tôi đến xem. Một cửa tiệm nợ lương 5 tháng không trả. Một thanh niên Phi Châu đến hối thúc lương tháng. Chủ và thợ sinh ra cãi vả. Ông chủ vào nhà lấy tiền và ném vào mặt người làm công. Lúc anh ta cúi nhặt, ông rút súng bắn mấy phát vào lưng. Một phát trúng gần tim và anh ta chết trên đường cấp cứu. Cô gái Ý đi cùng anh ta cũng bị thương. Cô là nhân viên tư vấn của một tổ chức thiện nguyện. Cô đến giúp vì anh bạn ngoại quốc không nói rành tiếng Ý.

“Ở mọi nơi trên thế giới, sự tàn ác đều như nhau. Lòng tốt có giới hạn. Mà cái ác thì không cùng.” Tôi đắng họng. Không biết bình phẩm ra sao. Mãi sau Elena mới nói: “Cuộc đời này là gì? Chẳng qua chỉ là một hơi thở! Tại sao chúng ta không sống cho cái Tâm mình đẹp? Chỉ vì Tham mà người ta ganh ghét và chém giết nhau. Thế mới biết Phật giáo thật thâm diệu:  Ai biết xem thường danh lợi thì đời sẽ bình an và lúc nào cũng cũng có thể mở lòng chào đón mọi người, với tình thân ái.”

Tôi nhìn vợ mình. Một tình yêu vô bờ bến đang dâng trào. Và bỗng dưng tôi nhớ là khi viết về cái chết của Gấm, chẳng có trang nào mang theo niềm tuyệt vọng. Sức sống của tình yêu luôn có phong cách khác thường, dù biết sắp đi đến đoạn cuối cuộc đời nhưng đôi mắt tình yêu vẫn nhìn đời sống ngời ngời khát vọng, bao dung.

9-

Mới đến Milano “hôm qua” thế mà nay đã sắp về lại Việt nam rồi. Một tháng trôi qua trong nháy mắt. Tôi xuống phố Cassina dé Pecchi để mua sắm vài món đồ. Đang bước, tôi bỗng nghĩ là mấy mươi năm trước những con đường này hoàn toàn xa lạ với tôi, thế rồi trở nên quen, đã đi qua đi lại bao nhiêu lần và bây giờ lại sắp hóa ra xa lạ.

Sự vật biến đổi. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tàn.

Milano-Sài Gòn.

Sài Gòn-Milano.

Hai ngày nữa là có chuyến bay rồi!

Nhắc nhở đó làm loé lên trong trí tôi mấy câu thơ của người bạn vong niên ở Hà Nội mà tôi rất quý:

Cùng chung một chuyến đò ngang

Kẻ thì sang bến người đang trở về

Lái đò lái mãi thành mê

Sang về chẳng biết mình về hay sang.[2]

Milano-tháng 6 2011

TRƯƠNG VĂN DÂN

 ___________

[1] http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-hoa-nghe-thuat/Truyen-ngan/468663/Ban-tay-trong-mot-ban-tay.html

[2] Trích Huyền Thi, Nguyễn bảo Sinh

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *