Truyện lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga: Hoa nước mắt

Đêm ấy, trăng thượng tuần như một lưỡi liềm bạc treo lặng lẽ trên nền trời Thăng Long. Ánh trăng mờ ảo soi xuống những mái ngói hoàng lưu ly của cung Phụng Hoa như lớp sa mỏng màu bạc phủ lên hết thảy.

Đã hết canh ba. Tiếng trống cầm canh vang lên khắc khoải trong giây lát, rồi hết thảy lại chìm trong yên lặng. Có cảm giác nghe được cả tiếng thở khe khẽ của đêm sâu. Trong mênh mang tĩnh lặng của đất trời, hương hoa ngọc lan ngọt ngào thoang thoảng. Hương hoa làm ánh trăng và cảnh vật thêm huyền ảo. Quanh cung Phụng Hoa trồng rất nhiều cây hoa ngọc lan. Không chỉ để làm cảnh hay lấy bóng mát, các cung nữ thường hái hoa ngọc lan để ướp thơm xiêm y của hoàng gia.

Chiêu Thánh công chúa ngồi một mình trong điện. Căn phòng rộng, vách gỗ sơn son ánh lên những họa tiết hoa sen, hoa cúc thếp vàng, mấy trụ cột gỗ lim nguyên cả thân cây to chạm phượng đứng im lìm như những quân lính khổng lồ đang canh gác, ngọn lửa nhỏ trong lồng đèn giấy dầu lặng lẽ lay động trong làn gió đêm mỏng mảnh như hơi thở. Bà vẫn ngồi như thế từ chiều, không ăn, không nói, không ngủ. Chỉ nhìn về một góc tường, nơi ánh trăng nhạt chiếu vào, soi rõ chiếc áo cưới đang đặt sẵn trên kỷ gỗ chạm trổ cầu kỳ.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

Chiếc áo đỏ thẫm như máu khô, viền chỉ kim tuyến lấp lánh nhưng lạnh lẽo đến rợn người. Trên nền gấm là họa tiết thêu từng đôi loan phượng bay quấn quýt – biểu tượng cho duyên lành, cho hạnh phúc. Người con gái nào nhìn tấm áo cưới trong đêm trước ngày cưới mà chẳng trào lên niềm hạnh phúc sâu xa. Xuất giá là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời con gái.  Khi được xuất giá theo chồng là một đấng lang quân tướng tài, từng lập công hiển hách trong kháng chiến chống kẻ thù xâm lược Nguyên Mông, gìn giữ vẹn toàn giang san Đại Việt, gìn giữ vẹn toàn cả mạng sống cho vua, cô gái nào chẳng hân hoan, sung sướng. Thế nhưng, với Thuận Thiên công chúa, khi nhìn tấm áo cưới, cảm giác duy nhất trào dâng trong tim là nỗi chua chát cùng cực.

Sáng mai, bà sẽ khoác chiếc áo ấy, bước lên kiệu hoa, và trở thành vợ của Lê Phụ Trần – vị tướng tài ba vừa góp đại công trong chiến thắng Nguyên Mông, người đã tả xung hữu đột giữa tên bay để che chở cho đức vua Trần Cảnh giữa trận tiền. Đức vua nợ Lê Phụ Trần một ân nghĩa. Và ngài trả nghĩa bằng cách ban hôn: ban cho Lê Phụ Trần kết hôn cùng Thuận Thiên công chúa. Oái oăm thay, Thuận Thiên từng là hoàng đế Lý Chiêu Hoàn, hoàng hậu của đức vua Trần Cảnh, bởi đã nhường ngôi  để Trần Cảnh có được ngai vua. Gả vợ cũ của mình đi lấy chồng như một món quà trả ơn, đức vua đã trả được món nợ ân tình với vị danh tướng triều đình, lại đẩy được người cũ ra khỏi cung, không cần vướng bận tâm tư thêm. Người đời gọi đây là “hôn lễ ban thưởng”, một vinh hạnh lớn lao mà hoàng triều ban xuống. Nhưng là vinh hạnh với Lê Phụ Trần, còn trong lòng bà  bây giờ, mọi cảm xúc tưởng như đã chết từ lâu, mọi nỗi đau dường như bị bụi thời gian phủ kín, giờ trỗi dậy, đau đớn hơn gấp bội phần, cay đắng hơn gấp bội phần. Ai cũng nói bà nên cảm kích. Ai cũng mừng thay cho bà, rằng sau bao năm lặng lẽ, cuối cùng cũng được “yên phận”. Nhưng cảm kích gì?

Ở tuổi 40, lại khoác áo cô dâu lần nữa. Khoác áo cô dâu bởi chính chồng cũ se duyên. Thân là công chúa, là hoàng đế, là hoàng hậu, rồi lại bị giáng làm công chúa, rồi giờ đây thành món quà ban hôn cho vị tướng trong triều, bà khác gì món hàng trao đi đổi lại? Nước mắt Chiêu Thánh chầm chậm lăn trên gò má đã nhạt sắc hồng, chầm chậm rơi xuống môi mặn chát… Không sinh được con cho đức vua Trần Cảnh, bà đã bị phế làm công chúa. Đấy là lời giải thích từ hoàng gia. Nhưng bà biết, nếu mình không bị phế làm công chúa, mình vẫn còn ở lại bên đức vua, thì không có chỗ cho Thuận Thiên  chị ruột bà, là vợ của Tiết độ sứ Trần Liễu, anh trai Trần Cảnh bước chân vào hoàng cung, trở thành hoàng hậu. Chuyện vua có thêm thứ phi là bình thường ở chốn hoàng cung. Nhưng sẽ không bình thường khi hoàng hậu là em, còn thứ phi là chị ruột. Rồi người chị ruột ấy lại đang là phu nhân của anh trai vua… Mối quan hệ huyết thống hoàng tộc rối như tơ vò. Chiêu Thánh biết bà phải ra đi. Ra đi trong một đám cưới tưng bừng, vui vẻ. Sau chiến thắng ngoại xâm, cả triều đình, cả quốc gia đang hân hoan với niềm vui bất tận. Chỉ có bà đêm nay thao thức, khóc cho phận mình, khóc cho cả những linh cảm bất an không thể gọi thành tên, cho cả Thuận Thiên, cho cả Trần Liễu… cho hết thảy…

Công chúa Chiêu Thánh không thể nhớ lần đầu tiên mình mặc áo cưới như thế nào. Hồi đó cách đây đã ba mươi bảy năm, bà mới là đứa trẻ lên bảy, ngồi ngai vua chưa được một năm. Hôn lễ với một đứa trẻ lên bảy chắc hẳn cũng chỉ như một ngày hội chung, hoặc như một trò chơi vui vẻ, có đông người tham dự. Bà vẫn nghe mọi người kể lại, khi bà vừa lên ngôi ít ngày, thái sư Trần Thủ Độ – khi đó vẫn còn ở chức Điện tiền chỉ huy sứ – dẫn cháu ruột của mình là Trần Cảnh tám tuổi vào cung. Là vua, nhưng Lý Chiêu Hoàng còn là một đứa trẻ. Hai đứa trẻ gặp nhau thì lập tức nô đùa vui vẻ. Trong sân phía sau của điện Càn Nguyên có một bồn nhỏ trồng sen đầy những nước. Hoàng đế Lý Chiêu Hoàng đã vui vẻ chơi trò té nước cùng Trần Cảnh. Khi bàn tay nhỏ nhắn của Lý Chiêu Hoàng vốc nước té về phía Trần Cảnh, Trần Thủ Độ và đám quan quân đứng quanh sân điện đã vỗ tay hào hứng. Trần Thủ Độ nói luôn: Ý hoàng thượng là ý trời. Hoàng thượng té nước về phía Trần Cảnh là muốn Trần Cảnh thay hoàng thượng lo việc nước.

Ngay sau đó, hôn lễ được gấp rút tổ chức. Mặc áo cưới, ngồi kiệu hoa mà Lý Chiêu  Hoàng vẫn chưa thể hiểu mấy từ “hôn lễ” “vu quy” “xuất giá” nghĩa là gì. Chỉ biết có thêm Trần Cảnh ở bên, là Lý Chiêu Hoàng có thêm bạn cùng chơi. Triều đình đông đúc nhưng không có trẻ con. Khi để Trần Cảnh ngồi ngai vua thay mình, Lý Chiêu Hoàng đã vui mừng khôn xiết, như thể những đứa trẻ nhà dân thường có  người làm thay việc quét nhà, trông em hay chăn trâu, cắt cỏ. Làm vua với Lý Chiêu Hoàng lúc đó  chỉ là những giây phút nhàm chán, buồn ngủ và cả căng thẳng khi ngồi trên ngai nghe quan quân tâu những điều không thể hiểu, và phải cố nhớ những lời mẹ nàng – thái hậu Trần Thị Dung, cùng điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ dặn đi dặn lại cả chục lần để nhắc lại cho đúng. Có Trần Cảnh ở bên, giấc mơ thoát khỏi ngai vua của cô bé bảy tuổi đã sớm thành sự thật. Trong một thời gian rất dài, Lý Chiêu Hoàng luôn biết ơn Trần Cảnh vì điều đó. Có nhiều lần, sau buổi chầu mệt mỏi, Trần Cảnh lại phụng phịu nói với Lý Chiêu Hoàng: Ta trả ngai vàng cho hoàng hậu đấy! Ta không thích nó đâu! Hai đứa trẻ gọi nhau là “hoàng thượng” và “hoàng hậu” mà hoàn toàn chưa hiểu hai danh xưng cao quý bậc nhất thiên hạ ấy mang nghĩa thế nào.

Cuộc sống hoàng hậu của Lý Chiêu Hoàng kéo dài được mười hai năm. Trong mười hai năm ấy, có tám năm chỉ là bạn cùng chơi với đức vua Trần Cảnh. Hai đứa trẻ hơn kém nhau một tuổi, dẫu có kết đạo phu thê sau một đám cưới hoàng gia tưng bừng bậc nhất thì cũng vẫn là hai đứa trẻ vô tư. Đến khi hương lửa nồng nàn thì hoàng hậu bị giáng làm công chúa, với nguyên do không sinh được con cho nhà vua. Dòng dõi vua Trần Cảnh phải được nối dài. Nhận chiếu chỉ, hoàng hậu chết lặng, dù biết đây không phải là ý chí của Trần Cảnh, mà là chỉ đạo của thái sư Trần Thủ Độ. Mười chín tuổi đã kịp sinh con đâu mà bị kết án vô sinh. Mười chín tuổi đã bị đưa vào lãnh cung, dù với thân phận công chúa, Chiêu Thánh biết đời mình đã kết thúc tại đây. Bà không có cơ hội nào để gặp mặt nhà vua, dẫu chỉ một lần để giãi bày tâm can. Bà ra khỏi cung vua để chị gái bà – Thuận Thiên – được bước chân vào đó, dẫu cho Thuận Thiên đang là phu nhân của Tiết độ sứ Trần Liễu. Cả trong dân gian, cả trong triều đình đều lan truyền như gió cái tin Thuận Thiên đang mang thai con của Trần Liễu mà bị ép gả cho Trần Cảnh.

Có những người cho rằng dẫu con ai cũng đều dòng dõi tông thất nhà Trần, vì Trần Liễu là anh ruột Trần Cảnh. Nhưng cũng có những tiếng cười chê dẫu là kín đáo vì còn sợ oai vua, sợ oai của thái sư Trần Thủ Độ, vì luân thường đạo lý đang đảo lộn. Vua đi lấy vợ thừa. Còn bây giờ, sau hơn hai mươi năm, vợ vua lại gả cho viên tướng. Nhưng tiếng đời chỉ dám âm ỉ đâu đâu, còn ngoài mặt không ai dám khuyên ngăn hoặc tỏ ý kiến gì. Cả quan quân đều biết một điều rằng thái sư Trần Thủ Độ muốn gì, điều đó phải thành sự thực, không ai được trái lời, dẫu người đó có là vua đi chăng nữa. Và sau ngày cưới của đức vua Trần Cảnh với Thuận Thiên ít lâu, hoàng tử ra đời. Hoàng gia mở hội hân hoan. Chỉ một người hằn học luyện quân ở đất Yên Sinh là Tiết độ sứ Trần Liễu. Ông biết rõ rằng hoàng tử con vua vừa mới chào đời chính là giọt máu của mình đã bị cướp đi từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Nhưng đạo quân của Trần Liễu từ Yên Sinh tiến về Thăng Long để rửa hận đã nhanh chóng bị khuất phục. Ông phải đầu hàng đức vua Trần Cảnh – em trai mình và là chồng mới của vợ cũ của mình!

Chiêu Thánh chua chát gạt nước mắt, nhìn khắp lượt cung Phụng Hoa, danh nghĩa là “công chúa”,  nhưng ai cũng hiểu đó là một danh xưng hoa mỹ cho một người bị lãng quên. Cung Phụng Hoa thực ra là một lãnh cung, một nhà tù giam lỏng. Hai mốt năm từ khi bị phế hậu, bà sống trong cung như một cái bóng, sống mà như đã chết từ lâu. Bà đã nghĩ đời mình thế là kết thúc…

Và giờ đây, sau hai mươi mốt năm người ta lại nhớ đến bà. Nhưng không phải để phục hồi danh vị. Không phải để chuộc lỗi quá khứ. Mà để trao bà như một món quà chính trị, một biểu tượng hòa hợp, một lời khẳng định rằng vương triều trọng người có công, biết tưởng thưởng xứng đáng. Người ta cần một đám cưới để ca tụng công thần, và bà – người từng là hoàng hậu nhưng giờ là công chúa– là lựa chọn tiện lợi nhất. Dẫu cho bốn mươi tuổi thì bà vẫn là công chúa. Nhà vua gả chồng cho công chúa há chẳng là việc bình thường lắm hay sao?

Chiêu Thánh lặng lẽ lau nước mắt.  Chiếc áo cưới vẫn nằm đó, đỏ thắm một cách kiêu ngạo. Bà nghĩ đến mẹ mình. Hôm trước, bà đã cầu xin đươc gặp mẹ một lần. Bà được đưa sang cung Xuân Sương của thái sư Trần Thủ Độ. Thái sư phu nhân Trần Thị Dung đã già, không còn tinh anh như trước, cũng không tha thiết gì mọi chuyện chính sự như trước nữa. Bởi lẽ về làm phu nhân Trần Thủ Độ, bà bị bứt ra khỏi những chuyện liên quan triều chính. Thái sư đã nhiều lần tuyên bố: nàng làm phu nhân của ta thì chỉ làm phu nhân thôi. Ta không cần có người cùng luận bàn chính sự. Ta một mình quyết cũng đủ rồi. Trước hai hàng nước mắt tủi phận của con gái, Trần Thị Dung chỉ nín  lặng. Bà không biết nói gì, không có gì để nói hay thực sự không để tâm đến những nỗi niềm của con? Suốt một canh giờ ngậm ngùi bên mẹ, công chúa Chiêu Thánh lại gạt nước mắt ra về, cảm giác mẹ mình còn xa cách hơn cả những người không máu mủ ruột rà…

Ngoài sân, tiếng dế kêu mỏng như tiếng than, kéo dài vô tận. Một cơn gió nổi lên, mang theo mùi cỏ ẩm và hương trầm lẩn khuất trong không khí. Trăng đã cao hơn, nhưng ánh sáng càng thêm nhạt. Cung Phụng Hoa chìm vào màu bạc tro, như đang ngủ say giữa một miền quên lãng.

*

Chiêu Thánh công chúa khêu thêm ngọn đèn cho tỏ, như thể bà muốn nhìn rõ hơn vào chính lòng mình. Nỗi lòng của một công chúa ngày mai xuất giá. Nỗi lòng của một cánh bèo đang lênh đênh giữa dòng nước mênh mông. Ngày mai bà sẽ thành cô dâu lần nữa. Ngày mai cuộc đời bà rẽ sang ngả khác. Ngày mai rồi mọi sự sẽ thế nào?

Căn phòng vẫn im lặng như đã ngừng thở. Gió đầu hạ lùa qua khe cửa, mang theo hương ngọc lan ngọt ngào thân thuộc. Trên bàn, chiếc áo cưới đỏ thắm vẫn nằm yên, rực rỡ và kiêu hãnh. Chiếc áo cưới đáng mơ ước của bất kỳ cô gái nào cho ngày vu quy.

Bỗng dưng, Chiêu Thánh nhớ đến vua cha!

Cha bà, người đã từng là hoàng đế Lý Sảm, cho đến khi nhường ngôi cho con gái bé bỏng là bà. Cha thành thiền sư Huệ Quang khi xuống tóc ở chùa Chân Giáo, rồi lặng lẽ từ biệt cõi đời trong một đêm đông lạnh vắng. Người ta bảo ông tự xử bằng dải lụa vàng. Nhưng nhiều tin đồn rằng thái sư Trần Thủ Độ khi ấy còn giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ đã ép ông phải chọn cái chết trong chùa. Sau triều Lý là triều Trần. Những người triều Trần không khi nào nhắc đến triều Lý, đó là điều tối kỵ. Mọi thông tin ít ỏi về cha, Chiêu Thánh chỉ lờ mờ chắp nối, cũng không biết đâu là thực, đâu là hư. Thi thoảng trong những giấc mộng của bà, vua cha hiện về, chỉ buồn bã nhìn con gái mà không nói năng gì…

Rồi bà nhớ đến chị gái – hoàng hậu Thuận Thiên. Hai mốt năm bà bị giáng làm công chúa, bị giam lỏng trong cung Phụng Hoa là hai mốt năm Thuận Thiên tại vị ngôi hoàng hậu. Thân là chị em gái nhưng hai mốt năm đó, bà và Thuận Thiên hầu như không có dịp gặp mặt hàn huyên. Địa vị khác nhau, lại trớ trêu cay đắng nên hai người tuy cùng sống trong hoàng cung mà như nghìn trùng cách trở. Chiêu Thánh sống như một cái bóng mờ, ngày ngày  khép mình trong cung với mấy cung nữ ra vào cũng lặng lẽ như cái bóng. Những dịp lễ trọng, hoàng gia đông đủ, Chiêu Thánh thường cáo ốm không tham dự. Cũng không ai cần sự có mặt của bà. Người ta đã quên bà từ lâu. Nhưng giá như cứ quên mãi như vậy. Nhưng đột nhiên nhà vua nhớ đến bà. Nhớ đến bà khi cần ban thưởng xứng đáng cho Lê Phụ Trần. Bà là món quà quý, hay Lê Phụ Trần là cái cớ để nhà vua đẩy bà ra khỏi hoàng cung được êm thấm? Nhưng có thực đây là ý nguyện của vua không? Hay đây cũng chỉ là nước cờ của thái sư Trần Thủ Độ? Suốt những tháng năm êm đềm ngắn ngủi cạnh nhà vua, bà biết những trân quý vua dành cho mình, biết những tình cảm dịu dàng có thực. Nhưng chính bản thân nhà vua không quyết được điều gì ra ngoài những dẫn dắt của thái sư Trần Thủ Độ.

Tranh của họa sĩ Trần Thắng

Hương hoa ngọc lan theo gió len vào trong cung. Công chúa Chiêu Thánh có cảm giác hương hoa đang ướp thơm từng sợi tóc, từng nếp áo, ướp thơm cả không gian. Hương hoa lại làm bà nhớ đến những tháng ngày ấu thơ tươi đẹp. Trong hoàng cung trồng rất nhiều ngọc lan. Loài hoa vương giả và quý phái ấy nở nhiều vào đầu hạ. Những  thị nữ thường hái hoa tươi để ướp thơm xiêm y của thái hậu, các công chúa và các cung phi. Mỗi ngày rằm, mồng một, hoa ngọc lan còn có trong mâm lễ dâng lên bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên của hoàng gia. Hoa ngọc lan còn được phơi khô, cất trong hộp gấm để dành. Những mùa không có hoa tươi, những bông ngọc lan khô được mang ra sử dụng. Dưới gối dưới đệm của các phi tần, công chúa bao giờ cũng có những cánh ngọc lan thơm ngọt ngào, quyến rũ. Mẹ bà, nguyên phi Trần Thị Dung lúc đó cũng mê đắm hương ngọc lan. Chính nguyên phi ra lệnh: mỗi khi bà sinh một công chúa thì hoàng cung phải trồng thêm chín cây hoa ngọc lan thật đẹp ở phía Kim Ngọc Viên; còn khi sinh hoàng tử thì trồng bảy cây tùng ở Long Hoa Uyển. Quanh Hương Nguyệt Cung, nơi ở của công chúa Chiêu Thánh thời thơ ấu cũng nhiều cây ngọc lan cổ thụ. Công chúa Chiêu Thánh yêu những đóa hoa trắng ngà, thơm ngát ở trên cây, nhưng lại hay sa nước mắt khi nhìn những đóa ngọc lan đã rã cánh, thâm đen lúc lìa cành ít lâu. Nàng thường ngăn thị nữ hái hoa, nên những lúc cần hái hoa, đám thị nữ thường dỗ nàng sang Tú Hoa Cung để chơi cùng công chúa Thuận Thiên để nàng không khóc lóc khi nhìn hoa bị bứt khỏi cây… Mới chỉ hôm qua thôi, đám thị nữ định mang tấm áo cưới của Chiêu Thánh đi ướp thơm bằng hoa ngọc lan, bà đã ngăn lại, không cho… Bà vẫn không muốn bất cứ đóa hoa nào vì mình phải sớm lìa cành. Những nụ ngọc lan trắng ngà, xinh xắn chưa xòe cánh nhìn buồn như những giọt nước mắt đang rơi… Ngày xưa, khi các phi tần thường khoe nhau mùi hương xiêm áo của mình – xem xiêm áo của ai được ướp bằng những đóa hoa sớm nhất, thơm nhất thì Chiêu Thánh, nàng công chúa bé nhỏ chỉ lặng lẽ nhìn. Nàng từng nói với thị nữ thân cận:
“Đừng ngắt hoa ướp xiêm áo nữa. Ta muốn áo ta chỉ có mùi nắng.”

Đêm nay, hương ngọc lan qua khe cửa len vào cung Phụng Hoa như đi tìm người cũ. Nhận ra hương hoa trong gió thoảng, công chúa Thuận Thiên thấy lòng dịu lại như được an ủi, chở che. Trong một thoáng nhắm mắt, bà ao ước được trở về quá khứ, trở về tuổi ấu thơ trong trẻo khi vua cha còn tại vị, khi nắng hoàng cung còn thơm mùi hoa cỏ, khi bà và chị gái Thuận Thiên cười khanh khách vì được gặp vua cha sau mỗi buổi chầu… Mấy chục năm trôi qua như chớp mắt. Triều Lý không còn… Vua cha không còn… Bà đã hai lần làm công chúa, và rồi hai lần mặc áo cô dâu… Thế gian biến cải khôn lường, chỉ hương hoa là vẫn thế, vẫn nhẹ nhàng, sâu lắng, ngọt ngào… Hôn lễ ngày mai ước gì không có. Ước gì thời gian ngừng trôi. Dừng lại vĩnh viễn ở đêm nay, ở khoảnh khắc này….

*

“Bẩm đã đến giờ rồi ạ! Công chúa đã sẵn sàng chưa?”

Giọng cung nữ vang lên cắt đứt mọi suy tưởng trong đầu công chúa Chiêu Thánh. Bà gật đầu, chậm rãi đứng lên. Không ai nghe thấy tiếng thở dài. Người ta chỉ nghe thấy tiếng gió rất nhẹ mang theo hương ngọc lan lẩn quất khắp cung Phụng Hoa.

Trên sân Phụng Hoa, kiệu hoa đã chờ sẵn. Vẫn là thứ kiệu tám người khiêng, rèm thêu loan phụng, mành ngọc khẽ reo trong gió. Hôm nay không trống dong cờ mở. Hôm nay không quan quân chào đón. Vẫn là đám cưới của một công chúa. Nhưng mà phu quân của công chúa chỉ là một vị tướng, nên đây không phải đám cưới hoàng gia.

Chiêu Thánh bước ra, đi chậm, đầu không cúi, mắt không chớp. Chiếc áo cưới lộng lẫy nặng như gông cùm trên thân thể mảnh mai. Mỗi bước đi là một lời từ giã hoàng cung. Bà biết, đã bước chân ra khỏi chốn này là không khi nào còn được quay trở lại. Nhưng bà không nuối tiếc. Cảm giác trống rỗng và bơ vơ tràn ngập trong lòng. Kiệu hoa ngang qua Thiên  Hương Uyển, qua tấm mạng che mặt, qua tấm màn sa đính ngọc phủ kiệu hoa, bà vẫn nhìn thấy những cánh ngọc lan đã mãn khai rơi đầy trên nền đất nâu, như những giọt nước mắt âm thầm.

Kiệu hoa rời khỏi hoàng cung. Bà thấy thấp thoáng mái ngói hoàng lưu ly của Kim Long Điện. Nơi ấy, nàng đã từng ngồi trên ngai vua trong áo hoàng bào thêu rồng lộng lẫy. Nơi ấy Trần Cảnh đã được bà xuống chiếu nhường ngôi. Cũng tại nơi ấy, Trần Cảnh giáng nàng làm công chúa…

Kiệu đi ngang qua hồ Liên Trì trong hậu viên. Nơi ấy, ngày còn là hoàng hậu, bà từng dừng lại mỗi buổi sáng sớm để ngắm sương đọng trên lá sen, nghe tiếng cá quẫy dưới chân cầu đá. Nơi ấy có lần, Trần Cảnh đã nắm tay bà thật chặt mà nói: “Trẫm hứa sẽ không để nàng cô độc trong cung này.” Trong giây phút này, nhớ lại những lời ấy bà không trách đức vua. Trong sâu thẳm trái tim, bà vẫn tin lời ấy là thật. Bà tin rằng tất cả những lời tâm sự phía hậu cung của nhà vua là thật. Còn những lời ngài nói khi ngồi ở trên ngai, đều là của thái sư Trần Thủ Độ, không phải của nhà vua…

Bỗng dưng công chúa Chiêu Thánh thấy ngậm ngùi thương cả Trần Cảnh.

Từ hồ sen, kiệu rẽ sang lối nhỏ, ngang qua vườn ngọc lan Long Diên Uyển. Lần cuối bà đi lối này, là khi tiễn vua  cha rời cung để vào chùa Chân Giáo. Khi ấy, vua  cha đi qua những cây lan đang nở trắng trời, không ngoảnh lại. Những tán cây bị gió lộng  rung, cánh hoa rơi như mưa… Một cơn mưa nước mắt…

Lần này, cũng là bà – cũng qua dưới tán lan đang trắng hoa, cũng không ngoảnh lại…

Hoàng cung đã sau lưng…

*

Thời gian trôi…

Thăng Long đổi khác…

Thành quách cao hơn. Cổng ngọc xây mới. Những con đường trong cung đã được thay lớp đá lát mới, phẳng phiu và lạnh. Vườn thượng uyển thu hẹp bớt, hồ sen ngày xưa từng in bóng đức vua Lý Huệ Tông khi ngồi buồn bên bờ nước đã bị lấp một nửa để mở rộng hành lang cung điện. Duy có hàng ngọc lan trước Hương Nguyệt Cung – giờ là cung Khánh Vân là vẫn còn. Cây già, tán rộng, hoa rụng nhiều hơn nở, nhưng hương hoa dường như chẳng còn đậm như xưa.

Chiêu Thánh trở lại vào một ngày đầu đông.

Lá vàng chưa rụng hết, trời trong veo nhưng lạnh buốt. Bà mặc áo dài màu nâu sẫm thêu hoa cúc chìm, không trang sức, không thị nữ đi kèm. Từ ngày rời cung, bà đã sống như thế, giản dị đến vô hình. Lần này, bà được mời về để dự lễ giỗ cha, nhà vua Lý Huệ Tông. Triều đình nhà Trần vẫn giữ lễ nghĩa, nhất là hoàng hậu đương triều là công chúa trưởng của đức vua Lý xưa.

Nhiều năm rồi, Thăng Long đổi khác. Nhiều năm rồi bà sống với Lê Phụ Trần trong một ngôi phủ nhỏ, khuất sau khu vườn rộng, ở ngoại thành phía Tây của Thăng Long. Bà đã nguôi quên dần những chuyện trong quá khứ. Hai con trai của bà với Lê Phụ Trần là Lê Tông và Lê Khuê từ lúc mới sinh ra đã tỏ rõ tư chất đĩnh ngộ, thông minh. Lê Phụ Trần cho con tập rèn cung kiếm ngay từ khi còn rất nhỏ. Điều đó làm Chiêu Thánh không vui. Bà đã ngỏ ý muốn cho con theo đòi nghiên bút. Nhưng Lê Phụ Trần bảo: văn hay võ cũng đều quý cả. Nhưng phu nhân nhìn xem, đã hai lần nhà Nguyên Mông mang quân sang chiếm đất. Nếu không rèn võ dụng binh, làm sao có thể chiến thắng để giữ yên bờ cõi? Hai lần xâm lược Đại Việt đều thất bại, chắc chắn Nguyên Mông chưa thôi ý định dấy binh tiến đánh, vừa chiếm đất, vừa rửa nhục. Vả lại, ta yêu nghiệp võ. Không có nó, làm sao ta có được phu nhân”. Nghe những lời  trân quý ấy, Chiêu Thánh ấm lòng. Bà nghĩ cuối cùng sóng gió cuộc đời cũng lùi xa. Những tháng ngày bên Lê Phụ Trần cùng các con tuy không gấm vóc vàng son như thời còn trong cung, nhưng yên ổn và ấm áp.

Lễ giỗ năm đó được tổ chức trong một am nhỏ bên núi Nùng trong Lâm Viên, phía Tây hoàng thành Thăng Long

Thượng hoàng Trần Cảnh cùng thái hậu Thuận Thiên cũng đến sớm.

Khi đoàn xa giá của Thượng hoàng tới, Chiêu Thánh đang đứng dưới một gốc ngọc lan già, rụng đầy hoa. Bà định  tránh, nhưng thái hậu – chị bà – đã thấy em gái. Chiêu Thánh bước vội ra, chắp tay thi lễ. Sau chào hỏi, thái hậu lấy cớ vào trong kiểm tra lễ vật rồi vội lui. Thái hậu cũng ngầm đưa mắt ra hiệu cho quân lính, người hầu lùi xa. Để thượng hoàng và Chiêu Thánh có phút gặp mặt ngắn ngủi, riêng tư.

Chỉ còn lại hai người đứng dưới bóng cây. Hai mái đầu đã đọng mây trắng. Hương ngọc lan vẫn vấn vít và những cánh hoa trắng ngà vẫn rơi đầy mặt đất.

Thượng hoàng vẫn mặc áo gấm màu lam, dáng gầy hơn năm xưa.. Từ độ nhường ngôi cho con trai trưởng là Trần Hoảng, ngài lui về đọc sách, nghiền ngẫm binh thư và nghiền ngẫm cả Phật pháp. Năm tháng đã làm thượng hoàng thay đổi thật nhiều trong vóc dáng, trong vẻ mặt, nhưng ánh mắt nhìn Thuận Thiên vẫn là ánh mắt ấy, tin cậy và thoáng buồn.

“Đã lâu…”, Thượng hoàng cất lời, giọng trầm đục.

“Vâng,”  Chiêu Thánh đáp khẽ.

“Ta vẫn nhớ ngày nàng rời cung… Hôm ấy… Là cuối hạ.”

“Thưa thượng hoàng…” Lời Chiêu Thánh nghẹn lại giữa chừng. Bà không biết nói gì hơn nữa.

Thượng hoàng nhìn xuống đất. Một cánh hoa ngọc lan rụng xuống chân ngài…

“Ta… từng muốn giữ nàng lại, ở ngôi hoàng hậu. Nhưng…”

“… Nhưng ngài là vua.”

“Phải. Làm vua, nghĩa là phải buông người mình muốn giữ nhất.”

“Tâu thượng hoàng, thần hiểu ạ! Thượng hoàng chớ bận lòng…”

Cả hai im lặng.

Từ phía xa, tiếng mõ trong am vọng ra. Tiếng gió thổi qua tán lá. Tiếng thời gian rơi từng giọt vào trong lòng. Gió đưa mùi hương ngọc lan tỏa khắp không gian, lẫn trong hương trầm.

“Ngày xưa, nàng từng nói nàng không thích hoa ngọc lan bị hái khỏi cành.”

Câu nói ấy như tiếng chuông vọng từ quá khứ. Chiêu Thánh chớp mắt nhanh để ngăn nước mắt. Thượng hoàng vẫn còn nhớ. Nhớ như in những lời bà nói từ xưa… Chỉ thế thôi đã đủ cho bà quên tất cả mọi đắng cay dằng dặc trong những năm tháng hoàng cung…

Bà thì thầm như tiếng gió: “Tạ ơn thượng hoàng! Tạ ơn thượng hoàng”

Hương hoa ngọc lan vẫn ngọt ngào ướp thơm không khí.

NGUYỄN THỊ VIỆT NGA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *