Truyện ngắn của Hà Minh Hưng: Tiếng gọi mùa ban trắng

Giọng người thương binh run run: “Đồng đội ơi, chúng tôi đã về đây. Hỡi các bạn, những linh hồn đã nằm lại đất này… hôm nay anh em tôi về thắp nén hương lòng. Tiếng trống này xin gọi các anh về, cùng nhân chứng núi sông, để thấy Tổ quốc mãi khắc ghi máu xương của một thời bi tráng…”.

Nhà văn Hà Minh Hưng ở Lai Châu

1. Chập chờn. Ảo ảnh… Trường nhoài đi dưới ánh trăng lễnh loãng. Gió đồi A1 ù ù thổi “thùng… thùng… thùng…” dội lên từ lòng đất, mỗi tiếng trống là một nhịp ngân dài vào lồng ngực, vừa thiêng liêng vừa rợn ngợp. Trong thoáng chốc, chiến hào xưa hiện về, những bóng người lao đi trong khói lửa, đạn réo, tiếng hô“xung phong!” rền như sấm. Giữa dòng người vội vã lướt qua, có một chàng trai gầy, ánh mắt sáng, gương mặt khiến Trường giật mình vì giống mình đến lạ lùng, đoàn người vút đi trong tiếng hô dồn dập, phía xa bạt ngàn hoa ban trắng rơi như tuyết…

Trường tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin khi vừa tròn hai mươi hai tuổi, cái tuổi phơi phới và tràn đầy hoài bão. Sau khi ra trường, anh làm truyền thông cho một công ty liên doanh, công việc giúp anh thường xuyên tiếp xúc với giới báo chí. Cũng từ đó, Trường quen và yêu Linh, một nữ phóng viên xinh đẹp. Tháng ba, công ty tổ chức chuyến du lịch về nguồn tại Điện Biên, khuyến khích cán bộ đưa người thân cùng đi để tăng thêm sự gắn kết.

Xếp gọn mấy thứ đồ trong phòng làm việc, nhìn tờ banner trên bàn với tựa đề “Điện Biên – Sắc ban bừng sáng”, Trường phấn chấn lắm. Mấy đứa đồng nghiệp cười đùa: “Đi biển mới gọi là du lịch, chứ lên đó thì chỉ có nấm mộ với chiến hào thôi.”. Thú thực Điện Biên, Trường cũng đã đôi lần đặt chân tới. Tâm lý chung là khi đã từng đến một nơi, như đi du lịch chẳng hạn, thì lần quay lại thường không còn nhiều háo hức. Nhưng với Trường thì khác, mỗi lần nhắc đến vùng đất ấy, trong anh lại dấy lên một niềm xúc động khó diễn tả thành lời.

Nhớ thời đại học Trường có đứa bạn cùng lớp tên Ly quê ở Điện Biên, mỗi dịp tụ tập, nó thường say sưa kể chuyện hoa ban, về món nộm thanh mát chế biến từ những cánh ban non khiến đám sinh viên thèm rỏ dãi. Từ lâu, hình bóng hoa ban, cô gái Thái trong thân áo cóm sát eo vẫn là cái gì đó xốn xang trong anh lắm, chả vậy mỗi khi đọc, xem thông tin nào đó về vùng đất lịch sử, đầu anh lại vang lên câu thơ của Trần Mạnh Hảo: “Hoa ban nở thành người con gái Thái/ Đám mây bay trong thau nước gội đầu”. Chẳng biết có phải những điều ấy đã gieo vào tâm trí Trường những tình cảm đặc biệt cho vùng đất này chăng? Không. Chưa hẳn hoàn toàn bởi hoa ban, hay thơ mà sâu xa hơn, Điện Biên đã ám ảnh anh từ lâu qua đôi mắt bà nội.

Trường quyết định rủ Linh cùng đi. Anh nghĩ Linh sẽ có cái nhìn khác cánh đồng nghiệp cơ quan: “Anh có tour tham quan vùng đất lịch sử Điện Biên, em thu xếp đi cùng anh nhé?”, giọng Trường phấn khích. Ở đầu dây bên kia, Linh thoáng do dự, “Điện Biên á? Giờ người ta đi biển, hoặc lên núi nghỉ dưỡng homestay, chụp ảnh với ngắm mây. Còn Điện Biên thì… ngoài mấy điều đã đọc trong sách báo, có gì mới đâu anh?”. Câu trả lời khiến anh chùng xuống. Rốt cuộc, Linh vẫn nhận lời, có lẽ vì chiều anh. Trường tự nhủ, chỉ khi đặt chân lên mảnh đất ấy, Linh mới hiểu. Biết đâu, chuyến đi này sẽ giúp anh và cô ấy tiến xa hơn.

2. Buổi sớm vùng cao còn vương chút sương mờ, Điện Biên đón đoàn bằng dáng vẻ bình yên. Thành phố hiện ra với lớp lớp mái nhà mới, phía sau trải dài nương lúa vàng óng, những dãy phố nhỏ nối tiếp dẫn về khu chợ sớm. Trên cánh đồng Mường Thanh, tiếng máy vò lúa bành bành tập kết ngay đầu bờ, phía chân ruộng, cảnh bà con gặt hái, nói cười rôm rả. Xa xa, trên những con đường bê tông nội bản, đám trẻ đạp xe ríu rít gọi nhau đi học. Con đường dẫn vào nghĩa trang liệt sĩ thẳng tắp, tĩnh lặng. Hai bên đường là những cây ban già lấm tấm lá xanh, xen giữa bạt ngàn hoa trắng tinh khôi. Gió khẽ lay, cánh hoa rơi lất phất như tuyết, dìu theo bước chân đoàn người về thăm. Đoàn dừng lại trước cổng nghĩa trang liệt sĩ Đồi A1. Trước mặt, tấm bia lớn khắc tên những người con đã ngã xuống. Trường bước chậm lại, tay khẽ chạm lên phiến đá lạnh buốt. Một cảm giác dâng trào, vừa xa lạ vừa thân quen, như thể anh đã từng đi qua nơi này trong ký ức. Anh lặng ngắm, bất giác nhớ lại những bài học lịch sử thuở nào. Nhưng lần này, lịch sử không còn là con chữ, mà là hơi thở ngay trước mắt…

Đồi A1 sừng sững giữa thung lũng Mường Thanh, như cánh cửa cuối cùng che chắn cho sở chỉ huy của tướng Đờ Cát. Suốt gần sáu mươi ngày đêm, bao nhiêu đợt tấn công của bộ đội ta tràn lên rồi ngã xuống giữa mưa bom bão đạn. Đất đỏ chiến hào thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt. Có những chiến sĩ vừa tròn mười tám, đôi mắt còn trong veo, vậy mà sẵn sàng lao mình vào lửa đạn, quyết giữ từng tấc đất. Đêm 6 rạng sáng 7 tháng 5, cả thung lũng rung chuyển. Quả bộc phá gần một tấn thuốc nổ được kích hoạt, xé toang lòng đồi A1 bốc lên cột lửa đỏ rực, ánh sáng rạch ngang bầu trời Điện Biên. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng hô “xung phong…!” vang dội như sấm, hàng nghìn bước chân quật mạnh xuống bùn đất, ào ạt tràn lên. Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” được chiến sĩ ta cắm trên nóc hầm tướng Đờ Cát  vào 17 giờ 30 phút ngày 7.5.1954. Chiến dịch Điện biên toàn thắng…

Như có tiếng trống vọng về, âm âm dội vào lồng ngực khiến Trường thoáng rùng mình. Anh lắng nghe, rồi khẽ giật mình nhận ra, đó chỉ là tiếng gió rít qua rừng cây, hòa lẫn vào tiếng lá xào xạc, tạo thành âm vang mơ hồ như ảo ảnh. “Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia A1, nơi yên nghỉ của hơn sáu trăm liệt sĩ, phần lớn là vô danh, hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ…”, giọng trầm ấm của Nghĩa, hướng dẫn viên giới thiệu. Cách đó không xa, Trường ngoái nhìn về Đồi A1, nơi hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát vẫn nằm lặng lẽ như một dấu tích của chiến thắng Điện Biên Phủ. Quanh đồi, những vết chiến hào xưa loang lổ còn in rõ trên đất, khiến tim anh đập dồn dập, như nghe đâu đó tiếng gọi vọng lên từ lòng đất. Đang mải ngắm, anh suýt va vào một cụ ông tóc bạc, ngực đeo lấp lánh những huy chương. Ông chống gậy, bước chậm rãi, mắt nhìn về phía đoàn. Thấy anh lúng túng xin lỗi, ông chỉ gật nhẹ: “Các cháu về thăm A1 à? Ở đây… nhiều đồng đội của ông còn nằm lại”. Nghe ông nói, Trường lặng người đi. Nghĩa giới thiệu ông là Lường Văn Sủ – pháo thủ từng trực tiếp chiến đấu tại đồi A1. Câu chuyện của cựu binh Sủ đưa Trường trở về những ngày ác liệt nhất của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Thời điểm đó, hoa ban còn rộ lắm. Trời lòng chảo bắt đầu mưa, những chùm ban cuối vụ chưa muốn tàn, một màu trắng rải khắp triền núi như ngọn lửa lạnh âm thầm soi sáng những ngày dài kháng chiến. Ban ngày pháo thủ Lường Văn Sủ cùng đồng đội kiên cường bám trụ, chiến đấu cầm cự. Đêm xuống đội anh lặng lẽ đào hầm xuyên đồi, nhịp nhàng cơ động vận chuyển từng gói bộc phá vào vị trí đã điểm. Bỗng Trường sững lại, mồ hôi túa lạnh trên trán, khi ông Sủ nhắc tên đồng đội Trần Văn Sỹ. Khoảnh khắc ấy, Trường như thấu hiểu sâu hơn sự hy sinh của ông nội, và nhận ra vì sao nơi đây vẫn vang vọng những nhịp trống vô hình gọi hồn người về.

Tranh của họa sĩ Ngô Mạnh Lân

3. Người lính già nhớ như in: năm ấy, chàng trai Thái mười chín tuổi Lường Văn Sủ ở Huổi Hằm được biên chế vào Đại đoàn 316 cùng ngày với một tân binh Trần Văn Sỹ quê Vĩnh Phú. Cùng chà, hai người sớm kết thân. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị của anh nhận nhiệm vụ tấn công cứ điểm A1 – vị trí then chốt án ngữ cửa ngõ phía đông, nơi quân Pháp dày công củng cố và coi như bức thành trì bất khả xâm phạm.

Qua lời kể của cựu binh già, hình ảnh ông nội hiện lên rõ mồn một. Trời Tây Bắc tháng tư đã lất phất mưa, chiến hào sũng nước, đất nhão nhoét thục đến gối. Trong hầm công sự chật hẹp, ông nội cùng đồng đội ngày đêm đào hào, khoét núi, đường hầm mở chỉ vừa đủ một người trườn qua, bí mật áp sát chân lô cốt địch. Đêm đêm, pháo kích vẫn đì đùng trên đầu. Dưới lòng đất, chiến sĩ ta cần mẫn đào hầm công sự, từng nhát xẻng cắm sâu như những chú dế chũi nhỏ bé mà bền gan, kiên trì. Công việc vốn đã cực nhọc lại phải ngụy trang kỹ lưỡng, bí mật vận chuyển đất đưa ra ngoài, tránh tầm quan sát địch. Càng tiến sâu vào lòng đồi, không khí càng đặc quánh, ngột ngạt đến nghẹt thở, nhiều chiến sĩ đã lịm đi ngay trong hầm tối. Thế nhưng, lớp này gục xuống lại có lớp khác nối tiếp, mang ý chí sắt đá, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đến cùng. Nhiệm vụ số một là bảo đảm đưa khối bộc phá vào đúng vị trí an toàn. Đường hầm ngày một đào sâu, khoảng cách giữa ta và địch chỉ còn vài chục mét. Mỗi tấc đất đều phải đánh đổi bằng mồ hôi và máu. Đêm đêm, pháo kích rền rĩ trên đầu, lựu đạn vẫn chat chúa nổ như xé toác không gian, mùi thuốc súng xộc thẳng vào mũi, nóng ran trong lồng ngực. Từng động tác phải cẩn trọng tuyệt đối, chỉ một sơ suất cũng có thể trả giá bằng sinh mạng và làm hỏng toàn bộ kế hoạch tác chiến.

Giờ G điểm. Nụ xòe kích hoạt, toàn đại đội nín thở, căng mình chờ khoảnh khắc quyết định. Bỗng mặt đất rung lên bần bật, rồi dội lên một tiếng nổ long trời lở đất. Khối bộc phá khổng lồ bật tung khỏi lòng đất, xé toang màn đêm chiến trận. Đồi A1 bị xé toang, cột lửa đỏ rực cao ngất, đất đá, sắt thép và lô cốt kiên cố của địch bị hất văng khắp chiến hào. Tai ù đặc, tim như muốn bật ra ngoài. “Xung phong! Xung phong!” Tiếng hò reo dội khắp chiến hào. Chiến sĩ lao lên. Pháo địch nổ liên hồi, nhưng không ai dừng lại. Mọi giác quan căng đến cực hạn. Chiến hào trở thành dòng thác lửa sống. Trên đầu, đạn địch xối xả bắn ra như mưa. Pháo ta dội ngược, thung lũng rung chuyển. Người ngã, người tràn lên. Giáp lá cà bùng nổ. Chiến hào cháy lửa. Hầm sập, ụ súng bay tung. Mỗi bước, mỗi tiếng súng là sinh tử. Khói mù đặc, thuốc súng nồng nặc. Tim hối như trống trận. Hít thở, tiến lên. Không dừng. Không lùi. Chỉ còn chiến thắng hoặc chết. Tất cả như một cú đòn kết liễu hoàn toàn hệ thống phòng thủ phía đông. Thắng lợi ngay trước mắt.

Trường nhào đến ôm lấy ông Sủ, giọng nghẹn lại: “Ông ơi, con là cháu nội của đồng đội ông, Trần Văn Sỹ đây”. Ông Sủ sững người, nhìn Trường thật lâu rồi đưa tay chạm nhẹ lên má cậu. Ông thở dốc, mắt đỏ hoe:

“Đúng rồi… ánh mắt này, khuôn mặt này… giống anh Sỹ lắm. Thế là ta yên lòng rồi. Chiều nay con ghé nhà, ta có việc muốn nhờ.”.

Ông khẽ giở bọc nilon, lấy ra chiếc khăn mùi xoa bạc màu, trên vải còn hằn rõ những vệt đỏ sẫm, khô đanh bám chặt theo từng sợi chỉ. Mắt ông đăm chiêu nhìn vào chiếc khăn cũ, giọng như lạc vào quá khứ…

Đạn cối từ trên cao rít xuống, nổ khét chiến hào nơi Sỹ và Sủ bám trụ. Đất đá tung mù, sức ép hất cả hai bất tỉnh. Khói tan, đạn lắng, Sủ lồm cồm bò dậy, thấy mình chỉ bị thương ở bả vai, máu rịn ra nhưng vẫn còn gượng được. Quay sang, Sủ sững lại, Sỹ nằm ép sát vách hào, ngực bê bết máu, hơi thở đứt quãng. Sỹ mấp máy đôi môi tím tái, run rẩy rút từ ngực áo ra một chiếc khăn gói kỹ, đặt vào tay Sủ. Giọng nghẹn đứt quãng:

– Khăn… vợ tao… Nếu tao không về… mày giữ hộ… Sủ ôm Sỹ vào lòng, giọng khản đặc giữa tiếng đạn như xé trời, tim như muốn vỡ vụn. Máu thấm ướt khăn – kỷ vật theo Sủ tiếp tục chiến đấu như có linh hồn của Sỹ song hành.Về hậu cứ, đêm nào Sủ cũng giật mình tỉnh giấc, vọng bên tai như tiếng ai gọi thoảng trong gió, anh hiểu đồng đội vẫn đang dõi theo mình. Sủ nhớ người già ở Huổi Hằm bảo, muốn nói chuyện với người âm, thì lấy trống gõ, nam 7 tiếng, nữ 9 tiếng, kêu tên, tuổi, hồn sẽ về. Những đêm thao thức, Sủ lại mang trống ra gõ; tiếng thùng… thùng vang lên như gọi Sỹ cùng đồng đội trở về bầu bạn. Mỗi nhịp trống ngân lên, nước mắt Sủ lại lăn dài trên gò má sạm khói, khắc sâu nỗi nhớ, nỗi đau và cả những ký ức không bao giờ phai.

Bên bếp lửa bập bùng, ông Sủ đặt chiếc khăn mùi xoa cũ vào lòng bàn tay Trường giọng nghẹn ngào: “Là lời trăng trối của bạn ta… ta giữ không chỉ để nhớ, mà để sống thay phần anh ấy. Nay có con về, ta cũng mãn nguyện rồi!”. Không gian lặng như tờ, chỉ còn ánh lửa tí tách. Bất chợt, thùng… thùng… thùng… tiếng trống vang lên. Đôi mắt người cựu binh bừng sáng, bờ môi mấp máy gọi tên đồng đội. Bóng đêm quyện lửa bếp, như hóa thành những linh hồn trở về từ quá khứ. Linh lặng sững, tim dồn nhịp, quên cả chiếc điện thoại trên tay, chỉ còn dõi theo từng cử chỉ run rẩy của ông, để rồi cảm nhận nỗi đau chiến tranh hòa cùng ký ức chập chờn vừa sống động, vừa mơ hồ, như đang tan chảy giữa thực tại và cõi mộng.

4. Sau buổi tham quan, đoàn của Trường trở về  khách sạn, thấy mọi người  rộ lên những lời bàn tán. Vài người lấy điện thoại ra đăng ảnh, gắn dòng chú thích hời hợt: “Chinh phục đồi A1 – nơi vang vọng lịch sử và máu lửa!”. Linh ngồi góc bàn, mở laptop gõ phím dồn dập, mắt dán vào màn hình, rồi bật cười phấn khích: “Này anh nghe thử tiêu đề này xem” – “Khăn máu trên đồi A1: Bí ẩn những người lính trong bóng tối”. Hoặc thế này nghe đã hơn: ‘Tiếng trống gọi hồn – Bí mật kinh hoàng bị chôn vùi tại đồi A1!”. Cô kéo chuột, chèn phông chữ in đậm, tưởng tượng sẵn thumbnail (hình thu nhỏ), một chiếc khăn ố máu phóng lớn, chữ đỏ rực, kèm sub: “Video độc quyền – xem ngay”.

Trường cau mày: “Sao em lại viết như một bài câu view thế này?”  Linh không hề nao núng, đôi môi mím lại: “Nếu anh muốn người ta nhớ, thì phải cho họ thấy. Người ta không đọc những chuyện trầm ấm nữa – họ chỉ click vào cái họ cảm thấy sốc. Em không làm xấu, em làm cho họ chú ý.” Giọng Linh khô, lý lẽ lạnh như dao. Trường gắt lên: “Nhưng đây không phải chuyện để giật gân mà là máu xương, là ông nội anh và đồng đội. Nếu biến thành trò câu khách, khác gì xúc phạm những người đã khuất”.

Câu chuyện giữa hai người nổ ra, như hai mạch nguồn bất chợt gặp nhau ở cùng một khúc quanh. Linh nói về traffic (lượng truy cập), lượng xem, về sức mạnh một tít viral (lan truyền); Trường nói về lịch sử, danh dự và nỗi đau chiến tranh và người còn lại. Lời qua tiếng lại to dần, rồi vỡ ra thành im lặng. Không khí căng như dây đàn. Linh gấp máy tính, mắt long lanh: “Anh lúc nào cũng cảm tính. Em làm báo, em có cách của em”, rồi cô đứng dậy bỏ ra ngoài.

Lòng Trường như lửa đốt. Giữa anh và Linh như có một hố sâu khó khỏa lấp. Đêm ấy, Trường không sao chợp mắt. Anh lặng lẽ bước ra ngoài, một mình đi về phía đồi A1 dưới ánh trăng mờ. Anh đứng bên hào đất cũ, lòng ngổn ngang. Xa xa, gió thổi qua rừng cây, như vọng về nhịp trống quen thuộc. Tiếng trống gọi hồn hay chỉ nhịp tim anh đập? Trường cũng không rõ nữa, anh ngả lưng vào thành hầm chỉ huy Đờ Cát, đôi mắt nhắm nghiền, mệt nhoài. Thùng… thùng… thùng…, một hồi trống ngân dài dội vào óc. Trước mắt anh, chiến hào tối om dần hiện ra, mưa lộp bộp rơi trên vành mũ cối. Trong dòng người ào ào bùn lầy, những chiến sĩ Điện Biên năm nào băng lên, tiếng hô “xung phong!” chấn động màn đêm. Giữa đoàn quân ấy, một chàng trai gầy với đôi mắt sáng rực, gương mặt giống anh đến lạ. Trường khựng lại. Người lính bước ra, ánh nhìn nghiêm nghị mà hiền hậu.

Người lính nhìn Trường, giọng trầm ấm như vọng về từ xa xăm: “Cháu đã đến rồi… ta vẫn đợi.”. Toàn thân Trường run lên:“Ông… có thật là ông?”. Người lính khẽ gật, như có bàn tay đặt nhẹ lên vai Trường, cảm giác ấm áp lan khắp người. Người lính cất giọng chậm rãi, từng lời như khắc vào tim: “Cháu không chỉ nhớ bằng nước mắt. Hãy viết, hãy kể… để họ còn sống trong từng trang giấy…”. Trường muốn cất lời, nhưng tiếng trống lại dội lên dồn dập. Mỗi nhịp như một mệnh lệnh, thúc giục anh không được chần chừ. Trăng loãng, sương phủ kín đồi. Tim đập thình thịch, Trường chỉ còn nhớ một điều: Phải viết lại tất cả, với sự trân trọng nhất. Từ xa, giọng Linh vang lên, đầy lo lắng: “Anh… anh ở đâu thế?”. Trường choàng tỉnh. Ngước nhìn ngôi sao mờ phía đông, tai anh vọng lời ông nội dặn.

5. Sáng mùng Một, Trường gọi điện dặn mẹ nhớ đưa bà ra thăm mộ ông, mang theo nhiều hoa cúc trắng và gói thuốc lá như những lần trước. Trước khi rời Điện Biên, Trường rủ Linh cùng đến nghĩa trang A1 lần nữa, nghe nói hôm nay có đoàn cựu binh dưới xuôi lên viếng. Không gian trang nghiêm. Trời hửng nắng, sương tan dần, lớp lớp hàng bia sẫm màu ánh lên dòng tên trắng hiện ra trong nắng ban mai. Hương khói bảng lảng quyện cùng tiếng khèn dìu dặt, khiến không gian trầm mặc, linh thiêng.

Trường chăm chú đọc từng dòng khắc trên mộ chí, còn Linh mải mê chụp ảnh, quay clip. Bất chợt, từ cuối hàng, ba cựu binh bước lên. Người mất cánh tay trái, người chỉ còn một chân, người hỏng một bên mắt. Họ dìu nhau tiến chậm rãi qua làn khói hương mờ ảo. Họ mang theo chút lễ nhỏ, người cựu binh cụt chân đeo chiếc trống, lặng lẽ đặt tay lên mặt da đã bạc màu, rồi gõ bảy nhịp: thùng… thùng… thùng… tiếng trống vang lên, ngân dài giữa núi rừng. Giọng người thương binh run run: “Đồng đội ơi, chúng tôi đã về đây. Hỡi các bạn, những linh hồn đã nằm lại đất này… hôm nay anh em tôi về thắp nén hương lòng. Tiếng trống này xin gọi các anh về, cùng nhân chứng núi sông, để thấy Tổ quốc mãi khắc ghi máu xương của một thời bi tráng…”.

Đêm ấy, Linh và Trường tỉ mỉ lần giở từng trang sổ tay, không còn dáng dấp phóng viên đi tìm tít bài, mà hóa thành những người con khát khao lưu giữ ký ức cho mai sau. Ngày đoàn về, anh xin ở lại cùng Linh thực hiện nốt bài phóng sự. Trong căn nhà gỗ mờ khói bếp, ông Sủ lần giở từng bức ảnh cũ, từng trang sổ ghi chép vàng ố. Có trang giấy đã nhòe mực vì nước mưa, có chỗ còn dấu vết của đất bám. Người này thích hát, người kia từng mơ sau chiến thắng về học tiếp làm thầy giáo rồi mới lấy vợ… giọng ông Sủ run run, những chi tiết sống động nhất về Điện Biên năm xưa như hiện về. Linh dùng máy ghi âm, đặt câu hỏi nhẹ nhàng, cẩn trọng ghi, khắc sâu lại vào sổ. Nhiều lúc, Trường thấy anh như chính mình đang trò chuyện với ông nội, nghe tiếng cười, tiếng hô xung phong của ông và động đội vang lên đâu đó ngoài xa.

6. Về lại Hà Nội. Trong vali của Trường là cuốn sổ dày, chép lại câu chuyện cựu binh người Thái kể về ông nội và đồng đội. Nhưng hành trang anh mang theo không chỉ có những trang giấy, mà còn là ký ức đọng lại từ vùng đất lịch sử: tiếng trống vọng xa, những cánh hoa ban trắng khẽ rụng trong gió, và cả nỗi day dứt. Tất cả lặng lẽ theo bước chân anh, như một lời nhắc nhở rằng ký ức và tình yêu vẫn còn đó, không thể nguôi quên. Thu xếp công việc, Trường tranh thủ về quê, anh trở lại căn nhà nhỏ, bà nội đang ngồi trước hiên, mái tóc bạc phơ trong gió. Bước lại gần bà, Trường khẽ lấy ra chiếc khăn cũ. Bà nội khựng lại, ánh mắt chao đảo như vừa nhận ra điều gì. Đôi bàn tay gầy guộc run bần bật, lần dò chạm vào viền khăn sần sùi, khô đanh bởi những vệt máu năm xưa đã hằn cứng. Khoảnh khắc ấy, mắt bà nhòa lệ, giọng nghẹn lạc đi “…Dù muộn, cuối cùng  ông đã về!”, bà nghẹn ngào: “Cưới được hai năm, thì ông con nhập ngũ. Đây chính là khăn bà thêu tặng ông ngày lên đường…”. Nước mắt Trường trào ra. Trường kể lại câu chuyện gặp ông Sủ, về giây phút cuối cùng của ông nội nơi chiến hào. Không gian như nhòa đi, đọng lại chỉ còn nỗi xúc động sâu thẳm.

Trường dụi đầu vào lòng bà, tim rung lên từng nhịp dồn dập như tiếng trống xa vọng, mỗi nhịp như gọi về những ký ức, những mất mát và cả sự sống còn nối tiếp. Trong sâu thẳm, anh thấy thấp thoáng những cánh hoa ban trắng nhẹ rơi như tiếng thở dài của núi rừng, như bàn tay người đi trước khẽ chạm vào đời sau.

HÀ MINH HƯNG

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *