Đó là tên người dân xóm suối đặt cho chị Lụa. Chị năm ấy chừng hơn 40 tuổi, người gầy, đen nhẻm và bé tẹo. Chị có hai cái răng cửa trồi ra ngoài, mắt ti hí và mặt luôn nhăn lại, thành thử khi nào nhìn vào chị người ta cũng tưởng như chị đang bực bội một điều gì chưa rõ. Tướng đi của chị cũng thật đặc biệt, chân hai hàng mà còn đi dúi về phía trước. Mỗi lần nhìn thấy chị, người ta như đọc được cả những nỗi cực khổ dài dặc, dài như thanh xuân của chị.

Năm ấy chị dời về sống ở xóm suối, một xóm nhỏ của huyện Xuân Quán nằm ven con nước quanh co uốn lượn, nơi có nguồn sống dạt dào cho người tha hương dừng bước. Sáng sớm, người dân xuống suối gánh từng thùng nước trong veo đổ vào bể để sinh hoạt gia đình trong một ngày. Tiếp đến, họ gánh nước trên đôi vai gầy kẽo kẹt tưới những luống rau chờ ngày ra chợ bán. Mặt trời lên, những đứa trẻ cầm rổ tre đan đi xúc tôm xúc tép bên những lùm cỏ loà xoà ven suối để chuẩn bị buổi trưa, chờ ba mẹ đi làm về. Đám đàn bà thì đi mò hến, đi hái kèo nèo hay vớt bèo trên suối về bán kiếm tiền đong gạo. Cụ già ngồi câu lặng tờ bên góc cây bằng lăng cuối con nước như đang đếm thời gian trôi. Chị về xóm suối với một túp lều tranh nhỏ xíu nằm cạnh sát bờ và đàn con năm đứa. Đứa nhỏ nhất chưa lên ba.
Sáng, chị Lụa và vội chén cơm với muối hột giã ra để trên nắp xoong, rồi chạy theo chị em trong xóm đi làm Tàu (tức đi làm công thuê cho người Hoa). Người Hoa chiếm phần lớn diện tích đất rẫy phì nhiêu trong khu vực để trồng cà phê, thuốc lá hay trồng bắp đậu, lúa. Họ có tiền của người thân từ nước ngoài gửi về nên đầu tư mạnh và trở nên giàu có. Làm thuê là nguồn thu nhập chính của người dân xóm suối nghèo. Ngày làm đúng 8 tiếng, từ 7 giờ sáng đến 3 giờ chiều, nghỉ trưa một tiếng. Sau 3 giờ, những người đàn bà tíu tít về nhà với những câu chuyện thường nhật:
– Hôm nay nắng quá ha!
– Dạ!
– À, còn khúc cá trưa nay dư nè, con Lụa mang về cho sắp nhỏ ăn đi, chị còn cả nồi ở nhà.
Trong xóm, khi dở cơm đi làm, ai có thức gì ngon hay khá hơn thường đem đi nhiều một xíu để mọi người cùng ăn chung. Chị Lụa thường được mọi người giúp đỡ bởi chị nghèo nhất.
– Dạ, hì hì, hôm nào mấy chị cũng cho, em ngại quá!
– Nhà chị xịt thuốc gì mà cỏ sạch vậy, nhất là đám cỏ mật ấy?
– Cỏ đó chả chết gì sất. Bọn nhỏ nó nhổ ấy chứ.
– À. Khổ cho bọn nhỏ. Mà bọn nhỏ nhà chị nó siêng, không như lũ con nhà em.
Họ vừa đi bộ trên con đường đầy nắng vừa cười nói vui vẻ như chưa từng có 8 giờ làm vất vả. Trên áo họ, mồ hôi đã đẫm thành khoanh, bùn đất lấm sau một ngày cày cấy. Họ về, nhưng chưa vào nhà mà ra thẳng ngoài đồng để làm cỏ, bón phân cuốc tỉa cho mảnh vườn nhỏ của mình cho đến khi không còn lần ra được đâu là cỏ để làm nữa. Họ về nhà, xua những đứa trẻ ăn uống vội, cười nói vội rồi ngồi xuống bó từng bó rau muống rau lang mà các con đi hái được, xếp gọn gàng để sáng mai 3 giờ trở dậy chở ra chợ bán đôi đồng đong gạo và mắm muối. Chị Lụa nhanh chóng bắt nhịp được với cuộc sống của đàn bà trong xóm. Ai cũng thương và ái ngại cho chị nên thường nhường cho chị những chỗ làm tốt nhất để đàn con không bị đói.
Một hôm, chị đang làm cỏ bắp cho người ta, bé lớn hớt hãi chạy qua, mặt xanh không còn chút máu:
– Mẹ… mẹ về nhanh. Em… em té xuống suối,…
– Sao? Sao… ?
Con bé út lên ba người tím ngắt đang nằm dài trên thềm nhà. Chiếc áo màu xanh đã có vá vài chỗ với một vết rách dài trên vai, chắc do mắc vào cành cây. Mọi người đã chạy đến vây quanh như muốn tiếp thêm cho nó một sinh lực sống. Nhưng… chắc hồn con bé còn lang thang đâu đó bên bờ suối, bên nhành cây hay ngồi khóc bên hè bếp. Chị Lụa đã về. Chị vừa chạy, vừa lăn, vừa bò… cũng không biết gió thổi chị hay đưa chị. Chị đã về tới. Chị ngất xỉu.
– Kiếm ván đi, đóng cho nó cái hòm nhỏ cũng được.
– Nhà có gì đâu mà kiếm bây giờ?
– Chị ấy sao rồi?
Tiếng hàng xóm lao xao làm chị tỉnh lại. Chị không biết mình đã tỉnh hay đang mơ. Chị đau ở lồng ngực, thắt ở tim gan. Nhưng khi nhìn thấy những đứa con vây quanh mình khóc sướt mướt, chị đã hiểu.
Từ ngày ấy, nụ cười đã hiếm hoi giờ như tắt hẳn trên gương mặt khắc khổ của chị. Đêm đêm, khi công việc kiếm tiền đã kết thúc, người đàn bà ấy lại lặng lẽ nhặt những viên đá nhỏ xếp thành hàng rào chắn ở bờ suối. Ban đầu, hàng đá còn thấp, việc lấy đá cũng dễ dàng vì khu vực này nhiều đá, nên mọi người chẳng ai để ý. Dần dà, chị phải đi lấy đá xa hơn. Chị làm một đôi gióng để gánh. Những đêm trăng sáng, người ta thường thấy một người đàn bà nhỏ thó với dáng đi như nhào về phía trước, với dáng hình khắc khổ lặng lẽ gánh những viên đá từ các rẫy xung quanh về. Hàng rào đá cứ cao dần. Mọi người cho rằng sau cái chết của con, chị Lụa bị điên. Nhưng mấy ai biết, mỗi viên đá đặt trên vai, chị nghe văng vẳng: “Số con nặng lắm, phải gánh trả bớt nếu không các con của con sẽ khổ”. Ngày chị về thắp nén nhang ra mắt từ đường họ Trần, chị cũng nghe tiếng văng vẳng như vậy: “Được, được! con bé này khá! Rồi nó sẽ gánh vác, rồi chúng ta sẽ siêu thoát thôi”.
Chị như cảm thấy ai đó vén khăn lụa trùm đầu cô dâu mà dòm, mà cười. Chị là vợ thứ hai của ông chồng hơn 40 tuổi, chưa có con trai nối dõi. Năm ấy chị 19. Chị mang cả tuổi thanh xuân làm cu li nuôi gia đình chồng khi ở Sài Gòn trong lời xỉ vả của bố chồng khó tính, anh chồng tâm thần và chú chồng nghiện ngập cùng ông chồng vô tích sự. Mẹ chồng chị xem tướng số bảo: “Phải sanh một bé trai, nếu là con gái thì tan nhà nát cửa”. Khi chị sinh bé gái thứ năm, cũng là khi chị biết chồng chị có người bên ngoài và gia đình chồng thất vọng bằng những trò đay nghiến. Chị đã đưa con đến chốn này. Chị gánh cả lời nguyền rủa vì khắc tuổi với gia đình chồng mà rời đi. Chị tưởng mọi chuyện đã kết thúc, không ngờ lại rơi xuống đời con. “Mình phải gánh, mình phải trả”, chị Lụa nghĩ thế. Giờ đây, mỗi viên đá xếp lên là cả nước mắt và mồ hôi của chị khi nhớ con và cả nỗi ân hận do không nghe lời thầy bói. Vì chị nghĩ không đẻ được con trai là do mình. Mỗi một viên đá trên lưng là mong muốn gánh đi cái số kiếp nặng nề, hay chính là tình yêu vô bờ bến của người mẹ nghèo muốn bảo vệ lấy đàn con còn lại của mình bên bờ vực?
Mùa lũ, mẹ con chị ngồi co ro trên giường chờ nước rút. Hôm nay trời lại mưa. Chị đội nón và cầm thau ra đi.
– Sao đây, lại mượn gạo nữa hả?
– Dạ, mấy nay mưa quá, cháu không đi làm được, vì không ai kêu.
– Ôi giời! việc thì khi nào chả có.
Chị sáng mắt hơn khi nghe tới có việc.
– Bác bảo sao? Có ai cần làm gì phải không ạ?
– Nhưng mà nhà chị có làm được không đấy!

Người đàn bà nọ đưa mắt nhìn hết lượt tấm thân còm cõi của chị Lụa rồi dè chừng nói:
– Chắc chị không làm được đâu. Họ cần một người sạch sẽ, nhanh nhẹn chăm sóc người ốm. Chứ chị thì…
Bà bỏ dở câu nói, quay qua xúc gạo cho chị Lụa mà rằng:
– Nốt lần này thôi nhé! Tôi cũng không giàu có gì!
Chị lí nhí cám ơn rồi trở gót ra đi. Ngoài trời trắng xoá một màu. Hai bên đường vắng ngắt. Gió quật nhẹ hàng cây tạo nên một âm thanh rào rạt rào rạt, như lời ai than oán, như hồn ai nỉ non. Chị kéo nón nghiêng vành che cho gạo khỏi ướt, rồi liêu xiêu về nhà. Mấy đứa con xúm xít lại xem mẹ đem gì về. Chúng nhanh nhảu tìm củi nấu cơm. Mùi khói ấm áp toả ra khắp căn nhà nhỏ cùng với tiếng cười đùa của các con làm cho lòng chị dịu lại. Chị nhìn ra bờ suối, cái nhìn xa xăm và suy tư. Hai mắt chị nheo lại như đang nghĩ ngợi điều gì. Chị đứng dậy mặc áo mưa và quẩy gánh ra đi, không quên với dặn lại con: “Ở nhà nấu cơm rồi ăn trước đi nhé!”
Người đàn bà gánh đá. Bọn trẻ con trong xóm thường hay gọi chị như thế mỗi lần chị quảy một gánh đá nặng đi về. Người lớn thì cho rằng chị bị điên, chút sức còm cõi không để lo làm mà nuôi sắp nhỏ đói ăn hằng ngày mà cứ lo làm việc dã tràng. Chị cũng chẳng giải thích với ai một lời. Và gần như chị chẳng cười nói nữa thì phải. Người ta đã quen dần với một người đàn bà gánh đá trong đêm khuya nên dần rồi chẳng ai thèm để tâm đến. Hoạ thay, lâu lâu có người gọi chị để cho dọn đá mảnh vườn nhà mình. Dã tràng xe cát biển đông thì ở đâu xa xôi không ai nhìn thấy chứ người đàn bà gánh đá thì vẫn kẻo kẹt mỗi đêm.
***
Lan lại trở lại nơi in dấu kỷ niệm tuổi thơ không phai mờ. Nơi đó có mẹ cô, có em cô và có những tháng ngày đói khổ cay đắng. Nơi nước mắt xen lẫn với nụ cười hồn nhiên của cô bé mười lăm. Xe qua một khúc cua gấp rồi ngoằn nghoèo uốn lượn vào đoạn đường rợp bóng cây. Hai bên đường, cao su đang mùa thu hoạch chảy những dòng sữa trắng xuống bát nhựa đứng xếp hàng xếp lớp ngăn nắp trông như hàng ngàn công nhân áo trắng ẩn hiện trong rừng xanh. Đổ hết con dốc, sông La Ngà hiện lên:
– La Ngà, ai xuống không?
– Có. Cho tôi xuống bên chân cầu nhé!
Chiếc cầu mới xây tự khi nào mà trông khác lạ với hai làn xe rộng rãi và kiêu hãnh trườn mình qua dòng sông. Dòng sông xanh ngắt như một đồng cỏ bao la bởi hồ thuỷ điện chưa xả nước. Giữa bãi cỏ xanh ấy, dòng nước hiền hoà uốn lượn và dãy nhà nổi chạy dọc hai bên bờ sông. Ban đầu mới nhìn Lan cũng hết sức ngạc nhiên, sau đó mới biết đó là nhà bè nuôi cá trên sông.
Về tới nhà rồi, một cảm giác vừa quen vừa lạ. Đường quốc lộ 20 đã được mở rộng và đổ nhựa mới, không còn ổ gà ổ voi như trước. Hai bên đường, băng rôn cờ đỏ treo khang trang thẳng tắp đang tung bay trong gió. Thì ra huyện nhà mới được công nhận huyện nông thôn mới. Tuy xa nơi này nhiều năm, nhưng mỗi lần trở về, Lan đều thấy thân quen đến lạ. Dáng ai gánh đôi gióng trên đường như dáng mẹ mỗi sớm mai. Mới thấy rằng, quê hương không hẳn là nơi sinh ta ra mà còn là nơi ta gắn bó với những kỷ niệm tuổi thơ, với người ta yêu quý.
Lan đón xe ôm vào xóm. Bước chân cô ngỡ ngàng chừng như quen mà như xa lạ. Con đường mòn ngoằn nghoèo mà Lan thường đội bó rau ra chợ vào mỗi sáng sớm nay được mở rộng và đổ bê tông sạch sẽ. Phong trào nông thôn mới cũng đã hoàn thành nên mọi thứ giờ đều tươm tất sạch đẹp, nhìn cũng chẳng khác gì ở thành phố nơi Lan sinh sống. Lan hít thở không khí trong lành và lần bước vào trong xóm. Cô bé lắng nghe tiếng nước chảy róc rách và tìm về con suối. Nhưng, dòng suối đây rồi, cây bằng lăng vẫn đây, nhưng nước thì đã khô cạn.
– Bà ơi, sao suối này giờ lại không có nước vậy bà?
Lan hỏi bà chủ quán tạp hoá ngày nào, giờ lại bán thêm xe nước mía nhỏ ở đầu đường. Lan cố nhớ lại để khẳng định rằng bây giờ là tháng năm rồi mà, sao suối lại không có nước?
– Năm nay trời hạn lớn, giờ này cũng có mưa mà mưa ít quá đó cô.
– Ủa cô từ đâu đến đây?
– Con là Lan, con cô Lụa ở mé suối nè bà.
Người đàn bà ngừng quay nước mía, ngoái đầu dòm ra. Một cô gái chừng hơn 30, dáng nhỏ nhắn, ăn mặc giản dị nhưng tươm tất. Bà nhìn sâu vào gương mặt Lan như cố tìm thấy hình ảnh mẹ của cô ngày xưa trong ấy.
– Ồ, cháu giờ lớn quá bà nhìn không ra. Các cháu giờ ở đâu? Sống tốt chứ?
– Tụi cháu sống với gia đình, ở Nhà Bè đó bà.
Sau cái chết đột ngột của chị Lụa, là con cả trong gia đình, Lan, lúc ấy 15 tuổi, đã theo sự sắp đặt của người lớn về Sài Gòn sống với ba. Nói sống với ba nhưng thực ra là sống với ông bà nội. Ba Lan đã bỏ mẹ con Lan khi bé út chưa đầy tuổi. Chị Lụa ôm đau khổ tìm một nơi xa để lánh đời. Duyên số đưa đẩy, chị trú chân xóm suối này.
Mãi miết với dòng suy nghĩ, Lan giật mình khi nghe bà bán nước hỏi:
– Cháu về chơi hay có việc gì?
– Dạ, cháu muốn về thăm mộ mẹ cháu, với lại muốn hỏi thăm để rồi cháu xin hốt cốt mẹ và em cháu về trên đó ạ.
Nói đến đây, Lan nghẹn ngào nhìn ra con suối. Mọi vật đã gần như thay đổi hoàn toàn kể từ ngày cô theo người thân ra đi. Ngày đó, chị em Lan rời mẹ trong mưa gió tháng năm. Giọt nước mắt mặn chát rơi trên gương mặt cô rồi từ từ tan trong một màu xám xịt. Ngày đó…
Như mọi lần, chị Lụa quảy gánh ra đi vào một chiều tháng năm mưa gió bão bùng. Năm nay bão nhiều hơn mọi năm, nước suối vì thế cũng cao hơn, dòng chảy mạnh hơn. Hàng rào đá chị chất giờ đã cao ngang tầm ngực, vì thế nhà chị không bị ngập. Mọi người xung quanh giờ đã hiểu và chia sẻ với việc làm dã tràng của chị. Những buổi đi làm, trưa nằm nghỉ dưới tán cây, chị Lụa thường hay kể cho chị em làm cùng nghe về những giấc mơ của mình:
– Chị Năm này! Có khi nào hồn bé con em chưa siêu thoát không? Em thường hay mơ thấy nó ngồi buồn rầu bên hòn đá ở bờ suối mà nhìn vào nhà. Hoặc có khi thấy nó bị treo lơ lửng ở nhành cây. Nhất là hôm mưa gió.
– Chắc tại mày nhớ con quá rồi tưởng tượng thôi.
– Hôm qua, em mơ thấy nó ngồi trên hàng đá em xếp để nhìn vào nhà.
– Con bé chắc đã vào miền cực lạc, mày đừng có suy nghĩ nhiều.
– Em gánh đá đắp cao là cũng để cho nó ngồi được cao, khỏi bị ướt đó chị.
Và chị cũng chẳng hay biết đời chị cũng chính đang gánh cả những đớn đau từ tiền kiếp. Chị em bạn làm cũng chẳng hiểu về lời nguyền gì và số phận ra sao nhưng thấy thương chị quá nên không ai can ngăn hay nói gì nữa. Bé út mất gần hai năm thì chừng ấy thời gian người đàn bà gánh đá thầm lặng trong đêm, trong mưa và trong tình thương nỗi nhớ. Chị cứ nhớ câu nói của bà thầy tướng số:
– Cô gây ra điều gì, tự mình lấp vá lấy may ra cứu nổi đàn con.
– Dạ con cám ơn thầy!
– Ngày mai, sắm sửa một mâm cúng theo tờ này, mang vào đây thầy giải mệnh cho.
Chị bán đôi bông tai cưới, kỉ vật duy nhất của đời con gái với mong muốn bảo vệ đàn con. Từ đó, chị đinh ninh câu nói của vị thầy bói “Cô gây ra điều gì, tự mình lấp lấy, gia đình dòng họ cô không dễ tha thứ đâu”…
Một đêm mùa hạ trời tối đen như mực, chị Lụa lại quẩy gánh ra đi. Người đàn bà gánh đá trong đêm mưa dầm cũng chẳng lạ xa gì đối với người dân xóm suối cũng như đàn con của chị. Chị ôm bé nhỏ vào lòng, hôn trán con. Chị đặn dò bé lớn “Lan này! con là chị lớn trong nhà, phải yêu thương chăm sóc cho các em nghe chưa?”. Tiền làm công mẹ mới lãnh, con cầm mai mua gạo. Tuy hơi ngạc nhiên vì bỗng hôm nay mẹ dặn mình nhiều điều, nhưng Lan vẫn vâng dạ rồi nhắc nhở các em đi ngủ. Lan có ngờ đâu đó là những lời sau cuối mẹ dặn mình.
Trời tờ mờ sáng, con suối dậy lên tiếng khóc la. Người đàn bà đi bán rau sớm đã trông thấy đôi quang gánh và chiếc nón lá bên khúc đá bị sập. Mọi người đã định đem chị đi bệnh viện nhưng… Chị nằm xoài vùi nửa người trong đống đá đổ. Đôi chân khẳng khiu chuồi ra ngoài lộ vẻ khắc khổ. Bộ áo mưa rách và nón lá vấy máu. Chị nằm như khom mình ôm bờ đá trông đến xót xa. Hôm ấy, trong những tiếng thút thít đưa ma, có tiếng bà Năm bảo:
– Đấy, cứ coi bói coi toán cho nhiều vào, đá đâu chả thấy mà chỉ thấy đá đã đè chết cả cuộc đời mày rồi đó, Lụa ơi!
HỒNG NHẠN

















