Truyện ngắn của Như Bình: Cuộc hẹn cuối cùng

Bà Sa trào nước mắt. Bà buồn tủi quá, muốn quay trở lại. Nỗi nhớ căn nhà nhỏ giữa đỉnh trời quanh năm mây phủ, nhớ bếp lửa đỏ giữa nhà rừng rực mùi gỗ dờ ong. Nhớ chiếc ghế gỗ bách xanh thơm lừng, nhớ chõ xôi nếp lên hương thơm điếc mũi, nhớ mấy vò rượu hoa bà chắt đủ sương trời, hái đủ trăm hoa, sao vàng hạ thổ phơi trăng để ứa ra những giọt mật rượu.

​​​“Cúi đầu uống một ngụm

tan biến ngàn năm sau

trong mảy may hiện tại

ngắm thế gian luỵ sầu”

​​Đôi chân mỏi rã rời, hai vai bải hoải nặng trĩu. Giờ thì Bà Sa mệt rũ ra. Mệt đến thở cũng không được. Bà đành dừng. Điệu múa cổ theo nhịp khèn của ông Si thổn thức rời đôi chân. Bà Sa như cột gỗ chỉ chực ngã phịch xuống. Chân tay, đầu, ngực như của ai. Cả trái tim cũng nặng trĩu như hòn đá suối. Cơn mệt mỏi dịu dàng khiến bà không cưỡng được, chỉ muốn nằm lại trên phản gỗ bách xanh rồi xuôi hai tay, duỗi hai chân ngủ một giấc như khi ngấm rượu hoa. Bà sẽ ngủ vùi nồng nã, ngủ cho say như chết, mặc ngoài kia trống khèn của ông Si, thằng Thào Mông đang giục dã gọi hồn bà quay về.

Nhà văn Như Bình ở Hà Nội

​​Nhưng bà Sa không thể nào quay lại tấm phản gỗ bách xanh của ông Si. Bà cố đi từng bước nhỏ xíu mà không tới được. Có một bóng người cao lớn vạm vỡ không rõ mặt thoảng vào tai bà: “theo tôi, đi lối này” rồi kéo bà Sa tuột nhanh như gió. Bà Sa bước thấp bước cao chân không chạm đất, hoảng hốt quay đầu ngoái lại gọi “Ông Si, ông Si ơi…”. Ông Si đang say điệu khèn tình làm sao thấu được lời bà. Không được nữa rồi, ngôi nhà thân thương nhỏ xíu như chiếc chuồng chim bốn bề mây phủ trắng xoá bỗng chốc mờ nhoà trước mắt bà Sa. “Ông Si ơi, ông Si ơi”. Tiếng gọi của bà Sa lọt thỏm như tiếng rơi của một bậu sương già, ngay lập tức xoá trắng. Thân hình mỏng manh của bà Sa rơi, rơi, rơi… chấp chới hun hút xuống một không gian mênh mông sâu thẳm.

​​Không biết bà Sa rơi trong bao lâu, cảm giác hụt hơi tức ngực ù tai chóng mặt làm bà Sa như chết giấc. Cuối cùng bà cũng chạm chân xuống con đường ướt át, chạm vào những phiến đá mát lạnh, nhẵn thín như thạch lựu. Sương mù làm cho bà Sa không nhìn rõ cảnh vật xung quanh. Mờ ảo phía trước một vệt sáng như ánh đèn soi từ trong hang sâu hắt ra một màu vàng rợi. Hơi lạnh xộc lên làm bà Sa tỉnh táo trí óc. Bây giờ bà mới dụi mắt nhìn kỹ. Bà đang đi trên con đường hắt ánh sáng màu vàng. Hai bên núi non cây cối sẫm màu trùng điệp. Một mùi hương lạ lùng như thứ trầm ải nằm lâu nơi cây gỗ mục nát trong rừng sâu thốt nhiên lên hương kì lạ váng vất lỗ mũi thính nhạy của bà Sa. Bà Sa mê mùi hương, có thứ hương thơm nào mà mũi bà không đánh hơi được. Cái máu ủ rượu hoa lại trào lên mãnh liệt, bắt hai lỗ mũi liên tục phập phồng và đôi mắt tinh anh như hai ngôi sao xa của bà sáng lên rừng rực. À! Bà tìm ra rồi, bà nhìn thấy rồi. Bà Sa dụi mắt không tin vào mình nữa. Trời ơi, hoá ra thứ hương kỳ lạ này là của loài hoa còn lạ lùng hơn nở đầy hai bên con đường bà đang đi. Hoa nở bạt ngàn, rộ một màu đỏ thẫm lẫn trong điệp trùng cây cối thẫm màu.

Ở Mường Hoa, bà Sa chưa bao giờ nhìn thấy loài hoa này. Bà đã trèo lên tận đỉnh fanxipăng, đã đạp chân qua bao thung lũng tam giác mạch, qua hàng trăm quả đồi lềnh si, bà chưa bao giờ nhìn thấy loài hoa lạ thế. Hoa mọc từ đâu dưới màn sương đục mờ, ngoi lên nở bát ngát, rải từng thảm dày đỏ ối hai bên con đường vằng vặc những phiến đá óng vàng. Màu hoa nhìn kỹ trong ánh sáng mù mờ của sương, đỏ như một vết cắt sâu nhức nhối tâm can. Bà Sa muốn dừng lại hái một bông hoa đỏ kỳ lạ. Bà muốn hít thật sâu thứ hương trầm ải nơi bông hoa lạ mọc nơi thâm sơn cùng cốc. Bàn tay bà vươn ra chạm nhẹ vào những bông hoa đỏ mịn như nhung. Bà đưa tay lên mũi, thứ hương trầm ải tinh khiết triệu năm nơi cây gỗ mục rừng già khiến cho mọi mạch máu trong cơ thể bà ào ạt tuôn chảy. Bà cố nhưng không thể nào với sâu xuống để hái lấy một bông mà đưa lên mũi hít hà.

Bà dụi mắt nhìn kỹ, thì ra con đường này không chỉ có mình bà. Còn thấp thoáng những bóng người trên đường, trước và sau. Họ đi như lướt, như bay trong im vắng lặng lẽ của thứ hương trầm ải. Bà chạy vội lên để nắm lấy vạt áo của người đi trước, nhưng họ không nghe thấy bà gọi. Bà chậm lại để đón người bước sau. Bà muốn nắm lấy tay họ để hỏi đây là đâu. Nhưng sao không ai nhìn thấy bà, sao mọi người cô độc và buồn bã thế. Không ai nói với ai một lời trên con đường đó. Mỗi bóng người là một kẻ độc hành.

​Bà Sa trào nước mắt. Bà buồn tủi quá, muốn quay trở lại. Nỗi nhớ căn nhà nhỏ giữa đỉnh trời quanh năm mây phủ, nhớ bếp lửa đỏ giữa nhà rừng rực mùi gỗ dờ ong. Nhớ chiếc ghế gỗ bách xanh thơm lừng, nhớ chõ xôi nếp lên hương thơm điếc mũi, nhớ mấy vò rượu hoa bà chắt đủ sương trời, hái đủ trăm hoa, sao vàng hạ thổ phơi trăng để ứa ra những giọt mật rượu. Ôi vò rượu của bà cả đời ủ chỉ để trao cho người ấy một chén nhỏ đánh thức cái ký ức chưa từng ngủ yên trong góc sâu của tâm hồn bà. Nhưng hoá ra bà dành cả đời để làm điều vô nghĩa, để giữ một cái ký ức không có thật, một ảo ảnh bà tưởng tượng ra và bao năm bà bị chính mình đánh lừa tâm trí mình. Ô hay! Bà Si bật cười. Nỗi nhớ ông Si như một cơn đau thốc ngược quặn xói vào tim khiến bà Sa lảo đảo gục ngã.

Bà Sa cười mình đến rơi nước mắt. Bà vừa hát điệu bạn tình với ông Si, bà vừa uống rượu hoa với chồng, bà vừa nhảy múa mê sảng trong điệu khèn tình mê hoặc. Tại sao tìm thấy được người để trao chén mật rượu hoa thì bà lại như người chợt tỉnh dậy sau một cơn mộng dài. Bà mặc kệ thằng Thào Mông thả hối hận buồn thương trong tiếng trống điên rồ. Bà đã đổ chén rượu hoa cuối cùng vào cuống họng để nhún nhảy như con chim bách xanh. Bà không còn thấy cần phải trao chén rượu hoa cho thằng Thào Mông. Bà không cần rượu hoa giúp bà quên đi một cơn mộng, hay giúp thằng Thào Mông đánh thức một kỷ niệm đã chết khô. Bà không cần phải dùng nhung nhớ cả đời ủ rượu hoa để hồi quang lại cái kí ức bà suốt đời ôm giữ như một cơn mộng đã tan mà vẫn cố tình giữ lại những mảnh vỡ.  Tình yêu là cái chi chi mà mất một đời lạc lối bà mới nhận chân ra nó. Tại sao phải đến lúc này, lúc thần chết đến và bứng bà đi như bứng một vốc sương vỡ vụn, như thổi lên trời một bông lềnh si đỏ ối bên thung, như vỡ một vò rượu hoa bà ủ cả đời, thì bà mới nhận ra ông Si, chồng bà mới là người đáng để bà yêu nhất.

Tại sao mất rồi bà Sa mới nhận ra, mới biết mình đã ném tan báu vật xuống vực sâu. Trớ trêu thay, sống cùng ông Si, bên cạnh ông mỗi ngày mà bà như mất trí, bà lầm lạc, quên đường, như con ngựa quên chuồng, như đôi gà quên về đậu dưới ràn. Như lửa quên bếp. Bà Sa vỗ vỗ vào trán mình xót xa. Bà Sa đấm đấm vào đầu mình đau đớn. Bà khóc to mà ông Si đâu có nghe nữa. Cả tiếng khèn ông Si năm xưa đã mê dụ bà đưa chân về làm vợ của ông để quên đi tiếng trống của thằng Thào Mông nuốt hẹn giờ cũng bặt tăm.

Tranh của họa sĩ Khúc Quốc Ân

Bà Sa đấm vào ngực mình vật vã. Ô hay, sao Bà Sa từng không muốn nghe tiếng khèn tài hoa nhất bản Mường Hum. Ngoài ông Si ra, có ai thổi khèn tài như thế. Tiếng Khèn của ông Si làm cho hoẵng trốn sương trong hốc núi phải thò mặt ra, khiến cho hươu đang phi nước đại phải dừng chân ngập ngừng nghển cặp sừng rậm ngước trăng. Tiếng khèn ông Si làm cho lũ dê rậm rịch trong chuồng, ngựa gõ móng, bò cọ sừng vào sàn, lũ lợn lòi bò từ rừng ra nằm rạp bụng xuống mà nghe. Tiếng khèn ông Si mê hoặc cả đồi tam giác mạch đến nỗi khi cất lên, những mầm hoa lách tách bật mở hé môi cười xinh cho vạn vật ngất ngây. Tiếng khèn ông khiến cây lềnh si cũng rụng rời hoa, rơi đỏ đường mỗi lần xuống chợ. Tiêngs. Khèn khiến trai gái bản tìm nhau tự tình, nên chồng nên vợ sinh con đẻ cái đầy ắp tiếng cười bên thung hoa. Nước mắt bà Sa chảy ròng ròng trên mặt. Bà Sa nức nở muốn ngoái lại, muốn đi ngược đường, muốn trở về bản mường hoa, muốn trèo lên đỉnh sương nơi có ngôi nhà sàn nhỏ như chuồng chim câu của bà để tìm tiếng khèn của chồng mình mà nói với ông một lời chồng vợ. Lời báu vật ấy, bà để quên trên chái bếp một cách ngu khờ, khiến đôi chân lạc lối suốt đời tìm một thứ ảo giác đánh lừa tuổi trẻ.

Làm sao để quay lại được.

Làm cách nào để lấy lại thứ đã đánh mất

Làm thế nào để buông mất mát mà quay về.

Trên con đường gập ghềnh những phiến đá màu vàng, phủ đầy hai bên lối đi là loài hoa đỏ rưng rức như máu, tiếng khèn ông Si mỗi lúc một bặt trôi xa. Bà Sa có gào khóc, quay đầu chạy ngược trở lại thì tiếng khèn vẫn rời bỏ bà mà bay lượn đâu đó trên không trung. Tiếng Khèn ông Si giây phút cuối như oán trách buồn giận bà Sa suốt kiếp vợ chồng năm nào cũng một mình xuống thung hoa đi chợ. Chợ tình mỗi năm mở một lần, bà Sa đánh rơi tiếng khèn ông Si sau vách liếp nhà. Bà Sa vùi tiếng khèn của ông Si trên chái bếp. Bà Sa quên tiếng khèn ông Si như bồ hóng quên ống trúc. Tiếng khèn ông Si bị mạng nhện của bà Sa quấn chằng chịt bịt hết lỗ rồi, làm sao còn cất lên điệu nhớ điệu thương. Tiếng khèn ông Si khóc nghẹn không biết bao nhiêu mùa trăng một mình ở nhà đợi bà Sa rời chợ trở về. Bà Sa nào tìm được tiếng trống của thằng Thào Mông. Chỉ có tiếng khèn của ông Si tắt lịm sau chái bếp, để bà Sa mãi miết đi tìm hoa ủ rượu, thứ rượu một đời chỉ dành để xoá kí ức.

​Bây giờ bà Sa có khóc bao nhiêu nữa cũng vô ích. Nước mắt chảy vòng quanh, ướt đầm đầm lên vạt áo cũng không làm bà Sa quay trở lại được căn nhà sàn thơm nức gỗ bách xanh của ông Si. Bà muốn níu một bóng người đang lảo đảo trên con đường màu vàng, xin họ hãy giúp bà, chỉ cách cho bà để quay lại mà sao không làm được. Con đường dài mãi như vô tận. Hoa đỏ ngập lối toả thứ hương trầm ải ma mị như dìu người lữ hành trôi vào miền hư vô.

​​​​***

Cuối cùng bà Sa cũng tới được bờ sông lớn nước cuồn cuộn chảy xiết. Đáy sông không biết sâu bao nhiêu mà nước sông màu xanh tím, càng nhìn càng đen thẫm. Nước dưới sông bốc hơi lên phả ra từng đụn khói trắng xoá. Những cuộn khói không ngừng cuộn lên. Bà Sa đứng vắt mình bên bờ sông, ngực vẫn đau thắt. Bà đưa một tay đỡ lấy ngực trái, nơi trái tim như đang có muôn vàn bàn tay thò vào bóp nghẹt. Bây giờ bà đứng lại đây, trầm mình xuống dòng sông cuộn khói kia, hay vượt sông đi tiếp? Muốn qua sông, phải đi bằng cách nào. Bà Sa cố ngoái lại lần nữa về ngọn núi Mường hoa. Nhưng phía sau con đường chỉ còn mờ mịt khói trắng. Bà Sa lòng đau như cắt. Con sông xanh đen trước mặt vẫn liên tục trào sôi… Bà Sa đứng chơ vơ, nước mắt ròng ròng: “Sông ơi, sông chảy về đâu. Xin hãy chỉ đường cho tôi quay về nhà”. Dòng sông ngừng cuộn khói, qua màn sương đục, bà Sa nhìn thấy thấp thoáng một cây cầu.

Mừng như người vừa tìm thấy ánh sáng cuối con đường, bà Sa chạy vội về phía cây cầu. Đầu chân cầu hiện ra một cái quán nhỏ lợp mái ngói âm dương trông rất cổ. Trên quán, có một cây lềnh si thật cổ quái mọc ngược. Rễ của cây lềnh si toả ra từng chùm ngoằn nghèo trùm lên chiếc quán nhỏ làm thành một mái vòm bằng rễ. Rễ lềnh si bò từ trong mái lá đâm tua tủa xuống thành những bức rèm cây che gió quần quật bốn phía. Chiếc quán cây kỳ lạ. Không biết cây mọc từ đâu rễ cây xuyên mấy tầng trời mà trùm lên làm thành chiếc quán nhỏ cổ quái này. Phía trong quán, những chiếc đèn lồng làm từ những chùm hoa đỏ bên đường hắt ánh sáng đỏ mờ ảo. Trong quán một người đàn bà tóc trắng ngồi bên bếp lửa lớn. Trên bếp đặt một chiếc nồi khói bốc nghi ngút toả hương thơm rất mạnh. Bà Sa dụi mắt, tiến lại gần.

Dòng người đột nhiên dài ra như vô tận. Bà Sa cố chen chân lên trước nhưng càng chen càng tụt lại phía sau. “Dòng chảy định mệnh sẽ thứ tự đưa từng người đến nơi cần đến. Ai chuyển kiếp đều phải đi qua nơi này”. Bà Sa thoảng giật mình khi một giọng nói cổ quái mơ hồ cất lên. Bà vội hỏi: “Thì ra ngươi vẫn theo ta từ bấy đến nay. Ngươi bảo ta đi lối này. Ta theo ngươi bây giờ ta lạc đường mất rồi, ta không thể trở về nhà của ta để cùng nhảy múa với chồng ta. Ngươi thật là đáng trách. Sao ngươi lại dẫn ta đi đâu”. Giọng nói mơ hồ vang lên. “Bà đừng cố chấp, bà đang đi trên con đường Hoàng Tuyền, trước mặt là cầu Nại Hà bắc qua dòng sông Vong Xuyên. Ai rồi cũng sẽ phải tới đây, đi trên con đường này, trên chiếc cầu này, qua dòng sông này để chuyển kiếp. Bà đã sống trọn vẹn một cuộc đời của mình với đầy đủ buồn vui khổ đau và hạnh phúc. Giờ là lúc bà trên đường đi tới cuộc hẹn cuối cùng. Hãy kiên nhẫn chờ đợi đến lượt gặp Mạnh Bà để uống bát canh vong tình của bà ấy. Uống xong bát canh mất trí, bà sẽ thoát kiếp mà tự do bay lượn trong nhân gian. Đến lúc đấy bà muốn thành một bông lềnh si trên Thung Hoa, hay một làn trầm hương nơi cây gỗ mục. Bà có thể tự do như một câu sli trên đồi. Hay làm một con chim xanh trong gió… Đến lúc ấy tự do sẽ là đôi cánh cho bà sải rộng khắp thế gian…”. Bà Sa thoáng chút rùng mình sợ hãi. Đây là đâu, cả đời bà ủ rượu, đi chợ tình, có nghe ai nhắc đến con đường Hoàng Tuyền, sông Vong Xuyên, cầu Nại Hà đâu. Mạnh Bà là ai. Những cái tên bà chưa từng được nghe bao giờ. Bà thảng thốt gọi: “Ông Si ơi, ông Si ơi, sao không đi tìm tôi như mỗi lần ông và con ngựa Dáy vẫn xuống chợ đi tìm tôi”. Bà Sa một đời có ông Si xử lí mọi rắc rối. Nhưng nay ông Si không còn đi tìm bà nữa rồi. Trên con đường Hoàng Tuyền nêm chật bóng người, bà Sa cô đơn vô tận. Trước bến sông Vong Xuyên nước cuộn thăm thẳm bà Sa thấy lạnh lẽo vô đối. Chiếc cầu Nại Hà sừng sững như cắt đứt quá khứ với hiện tại. Bước sang bên kia sẽ dẫn bà đi về đâu…. Ông Si ơi ông có tìm được tôi để đưa tôi về…

Dòng người từ đâu mọc lên như vô tận. Những người đi trước lần lượt ghé vào quán nhỏ. Người đàn bà tóc trắng ngồi bên bếp lửa canh nồi canh trong quán nhỏ dài như một áng mây buồn. Những ngón tay thon trắng ngần của bà cầm sẵn chén canh bốc khói. Ai đi qua đều ghé quán đón chén canh của bà, ngửa cổ uống một hơi, rồi biến mất sau cây cầu Nại Hà.

Bà Sa vẫn ở cuối dòng người. Thời gian xếp hàng vào quán Mạnh Bà đủ cho bà Sa hồi cố lại tất cả những kỷ niệm dù là nhỏ nhất. Bà nhớ ngày đi chợ tình, vì say tiếng trống của thằng Thào Mông mà đôi má bồ quân của bà đỏ rừng rực. Nghe nó đánh trống mà lửa say đốt lên trong mắt bà. Nhảy múa cùng tiếng trống của thằng Thào Mông xong, bà như uống phải rượu mơ, như say hoa lềnh si, chung chiêng mơ tỉnh, thẹn thùng cùng Thằng Thào Mông vào rừng trải khăn tự tình dưới bóng cây lềnh si đỏ chói. Thằng Thào Mông nói bà Say giống như một bông đào rừng nở sớm, mới hé thôi mà nhuỵ thắm, cánh tươi, e lệ trong sương. Hai đứa nằm hít nhau, ngửi nhau, cắn nhau, hừng hực nhau, quấn riết lấy nhau từng miếng ngọt lịm rồi hẹn mùa chợ năm sau thằng Thào Mông dắt ngựa tía bắt bà về nhà nó làm vợ. Nhưng mùa chợ sau mẹ bà Sa mất đúng phiên. Bà Sa nghẹn ngào đưa tang mẹ, làm ma cho mẹ mà trong lòng lửa đốt vì cái hẹn tình năm ngoái nghẹn lại trong tim.

Tang mẹ xong, đếm từng ngày đến mùa sau nữa, hai má bà Sa lại đỏ lựng, thẹn thùng xuống chợ tìm thằng trai đánh trống… Bà đi đến mòn đường chết cỏ, bà đi hết ba mùa trăng… chả thấy thằng trai đánh trống dắt ngựa tía xuống chợ cướp bà về như đã hứa. Bà Sa ôm cây lềnh si khóc đến nỗi ba mùa hoa, lềnh si rụng hoa đỏ đất mà nào có thấy bóng dáng thằng trai đánh trống đâu.

​Hai má bà Sa bớt đỏ, đôi mắt bà Sa không còn lửa cháy bập bùng. Nhưng ông Si không nản. Ông vẫn múa khèn trước mặt bà mỗi phiên chợ. Vẫn địu bà say lả trên con ngựa Dáy về bản. Vẫn lên nương gom cho bà những lù cở đầy hoa. Đêm đến vẫn ngồi dưới khung cửa sổ nơi buồng bà ngủ để thổi điệu bạn tình… Bọn con gái trong bản mê tiếng khèn ông Si như đổ điếu. Đến rủ ông Si đi chơi hội ném còn nhảy lửa nhưng ông Si cứ ngồi dưới bậu cửa sổ nhà bà Sa mà thổi điệu khèn si. Bọn con gái kéo ông Si đi trẩy hội mùa xuân, ông Si chỉ đi khi có bà Sa ở đó. Nghe mãi điệu khèn tình mê đắm của ông Si, bà Sa mềm lòng. Một đêm trăng sương, bà Sa tụt cầu thang xuống nhà. Bà hỏi ông Si: “Có thể yêu một người đến quên ăn quên ngủ thế sao”. Ông Si dừng khèn nhìn bà Sa trả lời: “Có thể yêu một người đến bỏ thân mình. Có thể chết vì một người mình yêu mà không thấy luyến tiếc. Sống mà không có được người mình thương thì coi như không sống nữa, chết từ lâu rồi”. Bà Sa khóc. “Có thể cho tôi đến chợ tình một năm một lần gặp người cũ được không”. Ông Si nói: “Có thể dành cả đời để đi chợ tình tìm người cũ. Nhưng mỗi năm chợ chỉ có một ngày. Nhớ người cũ một ngày thôi thì có gì mà không được”. Nhưng ông Si đã nhầm, với một người cố chấp, nỗi nhớ người cũ như bếp than đỏ lựng, dụi bớt thì vẫn ngún lửa bên trong, âm ỉ dày vò, có bao giờ hết đâu mà tàn.

Lễ cưới của bà Sa, ông Si mổ lợn mổ dê thết đãi cả bản say tuý luý. Hai vợ chồng nhảy múa cùng nhau với điệu khèn hạnh phúc. Bà Sa mặc váy thổ cẩm, chiếc váy bà dệt từ ba năm trước để chờ thằng Thào Mông đến cướp bà về. Chiếc váy thổ cẩm thêu tay kì công đính trên đó bao nhiêu bạc trắng bạc xoè của cha mẹ bà để lại cho con gái ngày cưới chồng. Bà Sa uống say nhảy hăng đến nỗi văng cả đồng bạc trắng hoa xoè vào khèn của ông Si. Ông Si nhất quyết giữ lại đồng bạc của váy vợ trong cây khèn quý. Tiếng khèn từ đó vướng đồng bạc trắng hoa xoè mà tiếng đâm ra vướng vất, có lúc như vấp phải đá vực, chặn bởi lũ ống, âm thanh trở nên gai góc, sâu thẳm và trầm luân hơn. Ông Si không cho bà Sa dốc khèn tìm lại đồng bạc trắng hoa xoè. Ông nói vật tìm đến vật phải có lí do. Lễ cưới cũng là lần đầu tiên và duy nhất bà Sa nhảy múa cùng ông Si. Cô dâu nhảy múa cùng chú rể cho đến tàn đêm… khi khách khứa say lả tả, ngủ đường, ngủ cổng la liệt rồi cô dâu chú rể mới dừng khèn, dừng múa, uống với nhau mềm môi rượu hoa.

​Ký ức dội ngược vào trí não bà Sa như những cơn đau thấu tim gan.

Bà Sa thấy ông Si chất bà lên lưng con ngựa dáy từ chợ trở về. Lần nào xuống chợ, bà Sa cũng như bông hoa rừng rực ngậm sương. Tan chợ, bà như bông lềnh si héo, rã cánh tàn nhuỵ. Lần nào đến chợ cũng mang theo tiếng hát. Tan chợ nước mắt đẫm như sương mùa thu… Chỉ mình ông Si biết bà chết úa trong lòng mỗi lần xuống chợ về. Và cũng chỉ mình bà Sa biết ông Si đã nuốt hờn ghen vào trong tim chỉ để dành hết tình thương cho bà. Ông Si thương bà như thương cái khèn ông Si phủ bụi nơi chái hiên. Thương bà như thương mối tình cố chấp của ông, không lấy được người mình yêu, thì cả đời coi như không sống nữa. Nhưng sống với một người mình yêu, mà trái tim người đó chỉ nhớ người khác thì khác nào điệu khèn của ông như đàn gảy tai trâu, bà Sa đâu có nghe để còn thấy hay thấy đẹp nữa. Sống thế có còn ra sống nữa không.

Ông Si không trả lời được.

Nghiệp yêu của ông nặng quá, đời này ông sinh ra có lẽ chỉ để làm một việc là yêu thương bà.

Bà Sa ngồi thụp xuống bưng mặt khóc nức nở. Bà không muốn đi qua sông Vong Xuyên, bà không thiết bước qua cầu Nại Hà, bà không muốn bước trên con đường Hoàng Tuyền này nữa. Bà đứng lên cắm cổ chạy ngược lại. Mặc cho những cánh tay vô hình can ngăn, mặc cho những lực cản vô hình chực chờ kéo giật ngược bà trở lại. Bà vẫn cắm đầu, ngược đường, ngược gió, chạy xiêu bạt cả những thảm hoa bỉ ngạn nhỏ máu tơi bời dưới chân.

Bà cần quay ngược trở lại

Bà cần phải trở về nhà

Bà sẽ ngồi trên chiếc ghế gỗ bách xanh cạnh bếp, nắm lấy tay ông Si, quỳ xuống trước mặt ông Si, gục đầu trước bàn chân toẽ những ngón sần sùi quanh năm bấm lên núi đá đi tìm bà mà nói rằng: “Tôi sai rồi. Tôi lầm rồi. Tôi ngu dại quá lắm rồi. Người tôi yêu mới là ông, chồng ơi. Tôi lầm rồi. Cả đời này tôi xin làm trâu ngựa cho ông, đốt bếp cho ông hơ tay, nấu xôi cho ông ăn, khâu áo thổ cẩm cho ông mặc, ủ rượu hoa cho ông uống ông Si ơi, chồng ơi”.

​​​***

​Bà Sa giật mình ngừng khóc vì bát canh nghi ngút khói ai đó đã chìa ra trước mặt bà. Bà Sa sợ hãi nhìn lên. Ô hay, bà đã chạy ngược trở lại con đường này cơ mà. Bà đã quay đầu chạy trốn rồi, sao chạy mãi, đi mãi không về tới nhà mà rốt cuộc lại ở đây, cuối cùng trước mặt bà vẫn là quán nhỏ trên cầu Nại Hà. Cây Lềnh si trên mái quán đang rùng mình trút. những đợt mưa hoa. Hương lềnh si thơm lên nhức nhối. Người đàn bà tóc trắng như tuyết, môi cắn chỉ đỏ như máu, đôi mắt lá răm hạt huyền đen thăm thẳm vẫn kiên nhẫn đứng đợi bà: “Uống hết bát canh này đi rồi bà sẽ lại tinh khôi như sương sớm, không nhớ không thương không hối tiếc gì nữa. Bà là vị khách cuối cùng của quán đấy. Uống canh rồi qua cầu đi, bà sẽ thấy nhẹ nhõm xinh đẹp và tươi tắn như bồng Lềnh Si chớm nở trên vòm trời kia. Uống đi nhé, ngoài kia trời tối rồi, quán tôi cũng đến lúc đóng cửa. Bà là vị khách cuối cùng đấy”. Bà Sa tuyệt vọng nhìn người đàn bà tóc trắng. “Bà là ai, sao tôi phải uống bát canh này”. Người đàn bà tóc trắng cười. Hương thơm từ thần khí của bà toả ra ngan ngát. “Bấy mươi kiếp rồi vẫn không dứt được nghiệp sao”. Bà Sa gào lên: “Khoan đã, cho tôi trở về gặp chồng tôi lần cuối. Chỉ cần nói xong với ông ấy rằng tôi đã sai với chồng tôi. Cả đời tôi nhầm lẫn. Hoá ra, người đáng để tôi yêu là ông ấy. Tôi yêu ông ấy, tôi chỉ yêu ông ấy thôi, tôi không nhớ gì thằng Thào Mông nữa. Tôi nợ ông ấy cả kiếp này rồi. Chỉ cần chồng tôi hiểu được điều đó, tôi cam lòng uống canh này rồi đi mà không còn lưu luyến gì nữa”. Người đàn bà tóc trắng nhặc bông lềnh si vừa rụng, vắt lấy giọt mật đỏ nhỏ vào nồi canh đang sôi cười lớn: “Trải qua bao nhiêu kiếp rồi mà vẫn nặng nợ thế ư. Nghiệp còn nặng lắm, mau uống bát canh này đi cho nhẹ nhàng mà chuyển kiếp. Bà có quay lại cũng không tìm được chồng bà nữa. Ông Si qua đây cũng không nhận ra bà đâu. Mau uống bát canh này. Canh Mạnh Bà tôi chưng bằng nước mắt, nỗi đau, hạnh phúc, buồn khổ. Chừng ấy thứ trộn lẫn vào nhau sẽ giúp bà gột rửa hết đau khổ, nhẹ lòng mà tái sinh kiếp khác, lại trong trẻo tinh khôi như sương”. “Không! Không! Không”. Bà Sa khóc to. “Tôi sẽ đứng đây chờ gặp chồng tôi. Tôi cần phải nói ra cho ông ấy điều này, không cả đời tôi ân hận lắm”.

​***

Trong quán nhỏ, tóc bà Sa trắng như mây bồng bềnh chấm gót. Bà đưa bát canh cuối cùng cho một vị khách cuối cùng. Vị khách kiếp nào bà cũng chờ đợi để được gặp. Vị khách đó không kiếp nào không đi qua đây. Vẫn bộ quần áo chàm xanh thêu cổ và ống tay, nốt thêu cũ kỹ thân thương từ thủa nào bàn tay bà còn lanh lẹn khéo léo. Vẫn dáng người thanh mảnh ấy, chiếc mủ nồi đội lệch, vẫn cây khèn quý cầm trên tay. Cây khèn vang lên âm thanh lanh canh của đồng bạc trắng hoa xoè rơi trong bụng khèn. Bà Sa khóc, nỗi đau như cơn gió trở, thốc ngược vào hồn bà, như cái thoi dệt vải nơi khung cửi ai đó đâm xuyên thấu tim. Cơn đau làm cho bà Sa đứng không vững, nước mắt rơi lõm tõm vào bát canh nghi ngút khói. Luật âm dương ở quán Nại Hà không cho phép bà nhận ra người cũ. Bà chỉ có thể im lặng nhìn họ, ngắm họ, nói với họ vài ba câu của Mạnh Bà trước khi họ uống bát canh vong tình.

Nhưng vị khách cuối cùng ấy đi vào quán mà không cần nhìn bà lão trước mặt. Không kiếp nào mảy may lấy một lần ngước nhìn bà… Cho dù bà đã thầm gọi tên, đã đánh thức kí ức, đã lục tung ba hồn bảy kiếp để gọi tên trong tâm thức. Lần này, vị khách chậm rãi đưa chiếc khèn lên lắc lắc thật mạnh cho đồng bạc trắng hoa xoè rơi ra. Đồng bạc va vào bát canh bà Sa đang bưng làm sứt mất một miếng mẻ ở miệng bát. Canh trong bát sánh ra bỏng rát tay bà Sa. Vị khách đưa tay đón bát canh. Lần nào bà cũng hỏi: “Ông muốn uống bát canh vong tình này không. Uống xong ông không còn nhớ gì kiếp trước nữa”. Vị khách thở dài lặng lẽ: “Xin bà mau ban canh cho tôi”. Vị Khách ghé miệng vào chỗ mẻ của bát canh ghé môi uống từng ngụm nhỏ. Uống cạn bát canh lã chã nước mắt cay đắng của bà Sa, người đàn ông chậm rãi nhặt lấy đồng bạc trắng trên chiếc váy năm xưa cho vào miệng nhai. Máu tứa ra từ làn môi rách toác của vị khách. Bà Sa không ngừng khóc. Nước mắt cảu người đàn bà tóc trắng, môi cắn chỉ đỏ tươi, mắt lá răm thăm thẳm rơi thầm chảy ngược vào tim.

Ôi ông Si ơi, là tôi đây. Sao ông không nhận ra tôi. Sao tôi chỉ được phép đứng đây, câm lặng trao cho ông bát canh trong câm lặng. Ôi ông Si, là tôi không thể nói với ông được một lời thanh minh nào nữa. Cái sự mất của tôi với ông là vô phương cứu chữa mất rồi.

​​***

​Ôi bà Sa cố chấp ơi, ngươi đứng đây mấy mươi kiếp chỉ mong được gặp vị khách cuối cùng. Chỉ mong người ấy nhận ra bà một lần để bà có thể giải nỗi oan tình với người ấy rồi thoát kiếp mà đi.

Bà Sa cố chấp. Chính bà cũng không biết người đàn bà tóc trắng năm xưa trên cầu Nại Hà bà gặp lần đầu chính là bà đấy sao. Bấy mươi kiếp trải qua, vẫn là bà đứng giam cầm trong cố chấp đời mình. Vẫn là bà trong vòng luân hồi lục đạo. Tam sinh tam thế, hay nhiều hơn nữa cũng xoay quanh trong cơn dục vọng khổ đau mà bà tự sinh ra rồi tự luẩn quẩn dính mắc trong luân hồi. Chỉ là trong một trắc ẩn nào đó, trong một sự si mê cũng cố chấp không kém nào đó, Diêm Vương vì quá đáng thương bà mà cho bà một hình tướng khác để trải qua lịch kiếp… bà có là ai đi nữa thì trong lịch kiếp của mình, bà vẫn phải nấu bát canh vong tình trao cho người đến sau mà thôi. Bà của trăm năm trước, và bà của trăm năm sau không nhận ra nhau thì làm sao bà có thể đi tìm được ông Si của bà chứ. Mà tìm làm chi nữa, vị khách cuối cùng ấy có bao giờ ngước nhìn bà lấy một mảy may, có nhận ra tiếng của bà vẫn vang lên run rẩy khi hỏi ông có muốn uống bát canh lãng quên để an nhiên mà chuyển kiếp. Bà còn không nhận ra bà thì mong gì trăm năm nghìn năm sau cố nhân nhận ra nhau.

​Đêm nay quán đóng sớm, Nguyệt Lão ngồi bên bếp lửa đỏ rực những tàn than cầm lấy cây khèn đã đen nhưng nhức màu bồ hóng, lấy vò rượu hoa ra tưới lên khèn, rồi ngửa cổ uống, nước mắt ròng ròng cuộn đen cả dòng Vong Xuyên.

Viết tại An Viên Xanh villas 26.9.2025

NHƯ BÌNH

Viết & Đọc Tết Mùa mới 2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *