Chiều nay, hội tụ gia đình sau nhiều ngày xa cách được tổ chức tại nhà cậu Út. Nhà thuộc loại thường thường bậc trung, nhưng thoáng rộng, nhiều phòng riêng có gắn máy điều hòa nhiệt độ. Lần nào về nước, Hai Phấn cũng than nóng và nghỉ tại đây thay vì bên nhà mẹ. Nghe nói chị cũng đã cho tiền cậu Út sửa sang lại nhà cửa khang trang hơn.

Sau một đêm nghỉ ngơi, sáng nay, hai cháu Việt kiều tại Mỹ qua thăm nhà bà ngoại. Cháu gái cao lớn, mặc chiếc váy ngắn, lộ rõ đôi chân trần trắng mịn. Em trai đứng ngang vai chị, áo sơ mi, quần rin đường hoàng. Theo lời mẹ dặn, hai cháu đặt dĩa bánh, thắp hương trên bàn thờ, bái lạy rồi bước đến nhìn rất lâu di ảnh của hai cậu. Bà Thân đứng tựa cánh cửa thông giữa căn nhà thờ và dãy nhà ngang, im lặng nhìn hai cháu. Mắt mờ, tai nặng, bà cứ nghĩ hai cháu đang khấn xin cậu điều gì đó. Bỗng chúng đột ngột quay sang hỏi bà:
– Bà ơi, hai cậu hồi xưa đi đánh giặc hả bà?
– Ừ, hai cậu con đều ra chiến trường…
Bà Thân cố ý lờ đi cách nói “tử trận”, “hy sinh”, “đánh nhau” … đã từng gây sốc cho bà một thời. Cảm giác kinh hoàng, hoảng loạn đến ngất lịm khi nghe báo tin con trai tử trận đã đâm vào tim bà một vết thương khó lành. Nửa thế kỷ trôi qua, mỗi lần nhìn dấu sẹo để lại bà vẫn thấy máu rỉ ra, tẩm đỏ giấc mơ, lẫn trong công việc thường ngày.
– Mà sao ảnh cậu Tư đẹp, mà ảnh cậu Ba lại mờ nhòe vậy bà?
– Hồi xưa chiến tranh, phải chừ đâu mà ảnh đẹp, ảnh xấu con ơi. Có người sau khi chết chẳng để lại được một tấm ảnh nào.
Dù đã cố không cho lớp cháu đời sau biết đến những điều chẳng cần biết về chiến tranh, bà Thân vẫn nghe nhói đau, cơn đau rợn lạnh thấu xương, không giống với bệnh tim tuổi già lúc trái gió trở trời. Bà vô tình nhắc chính bà chuyện cũ, hồi thằng Ba đi du kích, rồi được bổ sung vào bộ đội chủ lực khi chưa tròn 18 tuổi. Nó chết năm 1868, vẫn còn thiếu hai tháng mới đủ tuổi công dân. Xác nó đến nay vẫn chưa biết bị chôn vùi hay thiêu cháy ở đâu. Hơn hai tháng sau, nhận được tin báo tử, bà vội vã lục tìm trong bọc vải gói sẵn những đồ dùng cần thiết phòng khi sơ tán để tìm một tấm ảnh của thằng Ba. Mấy tờ trích lục, chiếc áo dệt đũi thô, chai dầu khuynh diệp, xâu nút áo và hộp kim chỉ… vung vải ra đầy giường. Vậy mà vẫn không tìm thấy một bức ảnh nào của thằng nó. Tay bà Thân đã run lại càng run hơn, bà ngồi sững người rất lâu như bức tượng, nước mắt cứ thế trào ra…
Năm sau, thằng Nghĩa đến thắp hương đã mang gửi bà Thân một tấm hình của bạn Ba. Đó là tấm hình trắng đen hai đứa chụp chung để kỷ niệm ngày cùng nhau thoát ly theo ông Hoạch, một cán bộ nằm vùng từng chơi rất thân với gia đình bà. Bà Thân đã cất giữ rất kỹ tấm hình trong rương, đến ngày hòa bình mới đem ra nhờ thợ ảnh sang giúp một tấm để thờ…
Cháu ngoại không hỏi gì thêm, nhưng mắt vẫn không rời hai tấm hình của hai cậu. Thỉnh thoảng, thấy chúng nghiêng đầu sát vào nhau, chỉ trỏ, thầm thì điều gì đó. Tim bà Thân đập hơi nhanh, nghe nói tụi nhỏ bây giờ nhanh khôn lớn lắm, biết đâu chúng lại phát hiện ra điều gì đó bất thường mà trên ti vi, điện thoại không thấy nói đến.
– Để con nói mẹ mang ảnh của cậu Ba ra tiệm làm lại cho mới và đẹp như ảnh của cậu Tư vậy. Giờ người ta làm nhanh mà đẹp lắm bà ơi, muốn kiểu nào cũng có, thay áo, mũ, thêm cà vạt, tóc mới vào vẫn dễ thôi bà.
Ừ… để đó rồi bà tính. Chừ ra ngồi ăn với bà trái mít chín cây vừa mới hái khi sáng, còn thơm lừng đây…
Hai cháu nhỏ đâu biết có lần mẹ nó đã nhắc bà điều này, thợ ảnh cũng giải thích muốn thay đổi trang phục giống nhau cho hai anh em theo kiểu nào vẫn được. Áo dài truyền thống, áo lính oai phong, sơ-mi cà-vạt đứng đắn, hay áo cánh thời giữ bò trên rừng, bắt cá dưới đồng đều không khó. Lúc đầu, bà nghe thích, nhưng sau nghĩ lại, bà đã quyết giữ nguyên ảnh cũ có sẵn. Ảnh của thằng Tư thì nhiều, chụp hồi học sĩ quan Thủ Đức có, trên đường ra trận có, ở quán ba có, khi thấy cầm súng, lúc lại cầm chai bia con cọp, đủ kiểu cách, đủ sắc màu. Ảnh nào cũng nghiêm trang, oai vệ với bộ đồ rằn ri, mũ bê-rê đội lệch, bông mai vàng rực trên cổ áo.
Còn thằng Ba, tội nghiệp…, chỉ còn được duy nhất một tấm ảnh trắng đen chụp chung được tách ra. Ảnh đã cũ nhòe, lem nhem cánh rừng sém nắng bên trái và mô đất đỏ lầy lội bên phải. Bà Nhẫn cứ sợ mai này con cháu nhìn ảnh đẹp quá lại nghĩ không đúng về thằng Ba hiền hậu, chất phác của bà. Nó chỉ biết giữ bò, hốt rác, vừa cầm bút vừa cầm cày được mấy năm rồi cầm súng chứ có làm đến ông to bà lớn nào đâu. Ôi, đôi mắt, nụ cười của nó sao mà trong veo như nước giếng…
Khi hai cháu đã về lại bên cậu Út với mẹ, nhà chỉ còn một mình bà Thân với khoảng không gian lặng lẽ tuyệt đối và sự trống vắng rợn người. Cảm thấy không thể tập trung tâm trí cho việc nhà, bà đến sửa lại cây nhang ngay ngắn, thắp thêm một nén mới, rồi cứ đứng trâng người ra đó nhìn từng chút tàn nhang rụng xuống như lớp bụi thời gian mỗi ngày mỗi phủ dày thêm đời bà. Hai tấm ảnh thờ khác nhau được đặt cân đối hai bên bát hương chung tỏa khói, hình ảnh quen thuộc đến nhắm mắt vẫn nhận ra được.
Vậy mà mỗi lần đặt chén cơm, tô canh, dĩa xôi, cái bánh… lên cúng con bà đều khóc. Bà nhìn rất lâu về phía ảnh của thằng Ba với chiếc áo sẫm đen, cái mũ tai bèo rộng vành và nụ cười y hệt hồi còn chạy ra ngõ đón bà đi chợ về để lấy cái bánh ú. Xưa chồng bà đồng ý cho nó theo ông Hoạch lên núi là quyết định đúng hay sai? Nay, bà không nghe lời con gái làm lại cái hình mới cho nó là sai hay đúng? Tuổi già, nhiều khi bà mất ngủ chỉ vì những trăn trở không đâu vào đâu.
***
Nhà cậu Út chỉ cách nhà mẹ Thân vài trăm mét nhưng bất ngờ trở thành căn nhà mặt tiền giá trị từ khi con đường ĐH được mở băng qua cánh đồng. Tư duy đón đầu phát triển xã hội là của cậu Út, nhưng tiền để mua mảnh đất từ khi giá còn thấp vẫn phải nhờ đến chị Hai Phấn. Cậu Út, tuy làm đến cán bộ cấp huyện nhưng lương cũng chỉ vừa đủ sống. Cậu thường than, không biết người ta cũng cán bộ như tui, mà tiền đâu mua xe, mua nhà dễ như trở bàn tay. Còn bà Thân, dành dụm được đồng nào lại lặng lẽ lo việc mồ mả, thờ phụng, giỗ chạp. Bà sống như chiếc bóng, nhiều lúc con cháu cho tiền cũng không dám tiêu xài. “Tuổi già, sống được như ri là quý lắm rồi, hồi xưa còn khổ hơn nhiều”, kiểu sống an phận của bà nhiều khi đã làm trái ý con cháu.

Chiều nay, hội tụ gia đình sau nhiều ngày xa cách được tổ chức tại nhà cậu Út. Nhà thuộc loại thường thường bậc trung, nhưng thoáng rộng, nhiều phòng riêng có gắn máy điều hòa nhiệt độ. Lần nào về nước, Hai Phấn cũng than nóng và nghỉ tại đây thay vì bên nhà mẹ. Nghe nói chị cũng đã cho tiền cậu Út sửa sang lại nhà cửa khang trang hơn. Bà Thân xem nhà con trai cũng như nhà mình, qua lại quét dọn thường xuyên, nhưng ở qua đêm thì hiếm khi. Bà nói, về để vui cửa, vui nhà, tối thắp cây hương trên bàn thờ cho ấm cúng.
Đã thành thói quen, thủ tục “hội gia” bắt đầu bằng lễ cúng ông Thân. Xong lễ, vừa bưng dĩa bánh xèo dọn sang chiếc bàn tròn đặt giữa phòng khách, Hai Phấn vừa nói:
– Phải chi không có chiến tranh, giờ gia đình mình đầy đủ, vui vẻ biết mấy.
Câu nói bị bỏ lững, nhưng lại thổi bùng lên trong lòng bà Thân một nỗi đau buồn luôn phải cố nén. Tuổi già, nhớ nhớ quên quên, nhưng bà vẫn không sao quên được cái chết của thằng Ba năm 1968 đến năm 1972, thằng Tư mất tại chiến trường Quảng Trị. Hai tấm bằng ghi công khác nhau, ở hai chiến tuyến khác nhau bà đem cất kỹ trong rương. Năm sau, chồng bà chết vì một trận bom ác liệt tại vùng xôi đậu quê nhà.
– Thằng Út mà không được miễn dịch gia cảnh thì giờ cũng chắc chi còn ngồi đây. Hai Phấn luôn là người sôi nổi nhất.
– Chị Hai cũng vậy, chắc chi chị được ăn theo diện HO để sang Mỹ.
– Chị con gái dễ rồi, mười hai bến nước luôn, nhưng không có “trong nhờ đục chịu” đâu nghe. Đục là vùng vẫy thoát ra để tìm đến bến trong, tội chi mình phải an phận lệ thuộc…
Vợ cậu Út nổi tiếng đảm việc nhà, giỏi việc nước, nảy giờ vẫn đang loay hoay sắp xếp, bưng dọn. Ba cháu nội, ngoại nhỏ tuổi nhất thì mải mê vui đùa cùng mấy chiếc điện thoại. Bà Thân nghe không sót một lời nào của con cháu, nhưng thường bà chỉ im lặng, thi thoảng mới chen vào vài ba câu êm dịu như tưới nước cho cây. Chỉ đứa cháu gái- Jerry Nguyễn- nghe nói đang học rất giỏi tại một trường đại học nổi tiếng bên Mỹ là hơi khó hiểu. Có người nói, con này hơi bị trầm cảm nên ít nói, chỉ thích lặng lẽ một mình. Khi tám thành viên gia đình đang vui vẻ ăn uống, say sưa nói đủ thứ chuyện vui buồn, lớn nhỏ đông tây thì Jerry Nguyễn lên tiếng:
– Mẹ ơi, con nghĩ mẹ nên làm lại ảnh thờ của cậu Ba bên nhà ngoại cho đẹp giống như ảnh ông ngoại ri nè.
Mọi người đều nhìn theo cánh tay chỉ của Jerry đang hướng về phía bàn thờ. Di ảnh ông Thân từ trong khói hương mờ tỏ và ánh đèn màu lấp lánh hư ảo đang nhìn xuống mọi người bằng nụ cười rất tươi. Nụ cười mà chỉ bà Thân mới thấu hiểu hư thực. Thợ ảnh cho ông đội khăn đóng, mặc bộ áo dài nghi lễ mà Cửu Phẩm và Xã Khai thường mặc mỗi khi có hội làng. Bà Thân bỗng nhớ lại hồi bà ôm xác ông khóc ngất, một thân xác không còn nguyên vẹn, như ôm đống máu trên đồi Đá Bàn…
– Con khỏi lo chuyện người lớn, lo mà học hành cho giỏi đi, để sau này còn làm tổng thống được nhận giải Nobel hòa bình – Nó cứ mơ vậy đó, Hai Phấn quay sang nói với mọi người rồi mới tiếp tục- Mẹ đã nhiều lần nói với bà ngoại như vậy rồi. Thậm chí, còn đưa sáng kiến làm mới cả hai tấm ảnh thờ giống nhau như đúc, từ áo quần đến khuôn mặt. Ngày giỗ chạp, tết nhứt có ai đến thắp hương cũng quên chuyện đau buồn quá khứ. Vậy mà ngoại con có nghe đâu…
– Hồi đó, không đi lính bên này cũng phải đi lính bên kia, chứ trốn vào đâu cho khỏi. Nhà mình không may mắn thì đành chịu…
– Mỗi thời có sai-đúng, được-mất riêng, giống như đời người vậy đó. Quá khứ qua rồi, cứ cho nó qua luôn, mẹ dây dưa kéo rê chi cho tương lai thêm mỏi mệt. Làm nail đuối sức, thấy chồng con đi dự lễ Quốc hận, Quốc thù gì đó về, con hét liền: Chưa ớn chiến tranh hả anh? Giờ mà còn Quốc hận chi nữa. Xem còn được mấy người tham gia? Tuổi già sức yếu, có ăn nhậu nổi nữa không? Lớp trẻ bận đi làm kiếm tiền hết rồi chứ chi?
Nghe chị Hai nói, vợ chồng cậu Út cười sảng khoái như vừa được xem một clip trên Tiktok. Vợ chồng cùng đứng dậy, nâng ly cụng mời mẹ, chị và con cháu:
– Thôi mời cả nhà ta nâng ly chúc mừng hội ngộ, chúc mừng giải phóng đất nước, chấm dưt chiến tranh… Một trăm phần trăm nè, dô!
Bà Thân vẫn lặng lẽ ăn uống, vui cùng con cháu, đôi lúc thấy bà cười, nhưng không rõ bà có hiểu hết những gì con gái vừa nói hay không. Còn Jerry thì cứ nhìn mãi khuôn mặt hừng đỏ của mẹ, như chưa lần nào được thấy mẹ vui vẻ, nói nhiều như hôm nay.
– Đó, lại giải phóng, ai giải phóng ai? Cứ nói “ngày hòa bình, kết thúc chiến tranh” có phải hơn không, vừa nhẹ nhàng, lại vừa nhân văn… Vợ chồng cậu đều là người có học, làm bên văn hóa, giáo dục, trải nghiệm từ chiến tranh đến hòa bình, thấy chị nói vậy có đúng không?
– Nhưng chốt lại, chị thích dùng từ nào hơn?
– Chị hả, thì chị hay nói với khách làm nail là “ngày đổi đời”. Với chị, đổi đời là chính xác nhất. Hồi trẻ, chị bị cha mẹ la hoài, vì đã phản bội nghề nông truyền thống, cứ hóng việc chi khỏe, kiếm được nhiều tiền là nhào vô thử vận. Chiến tranh còn, biết đâu chị lại thành gái cao bồi đường phố, cướp giật đánh nhau như cơm bữa. Anh Hai mày, nếu không sa cơ lỡ vận, chắc chi đã đến với chị khi chuẩn bị được gắn thêm sao mai thứ ba trên ngực áo. Đời được mất vô chừng, giàu bỏ bạn, sang bỏ vợ là chuyện thường tình…
– Ồ…, nghĩ lại, em thấy chị Hai nói đúng. Em và vợ em cũng “đổi đời” kiểu như chị. Còn chiến tranh, dễ gì vợ em là con nhà giàu nổi tiếng dưới phố vì sợ cái lý lịch cha làm cảnh sát mà theo em lên đây. Còn em, thoát được xuống phố mừng như vừa chết hụt, nếu chưa có hòa bình, đố dám về lại quê.
-Mà đã về đây rồi, dù là con út, chừ em cũng phải thay các anh chị đứng ra lo việc thờ phụng tổ tiên và chăm sóc mẹ già. Còn ai nữa đâu, cần tiền cứ nói chị gửi về, okay chưa?
Cuối buổi tiệc hội ngộ chỉ còn lại hai chị em cụng ly tâm sự. Bà Thân ra ngồi nói chuyện với Jerry ngoài sân. Thỉnh thoảng bà lại liếc mắt nghe hai đứa con sôi nổi bàn luận. Đám cháu nhỏ vui chơi quên cả tắm rửa để chuẩn bị ngủ nghỉ. Mợ Út loay hoay lau chùi, dọn dẹp một mình dưới bếp. Mỗi người một việc trong cùng căn nhà nhỏ bé. Trên cao, trăng non hình trái chuối dường không còn nhớ ngày xưa rong chơi qua đây tiếng bom đạn vẫn đì đùng khắp làng trên xóm dưới, đồng vắng như bỏ hoang.
***
Dọn bớt mấy cọng hương xộc xệch, thay ly nước trong, lau từng hạt bụi trên ảnh thờ, ra vườn cắt mấy bông lan huệ, hái dĩa xoài đặt lên bàn thờ hai con. Rồi thắp hương, tần ngần đứng nhìn rất lâu di ảnh của hai đứa. Đó là việc làm quen thuộc của bà Thân gần trọn cả một đời người. Hai đứa chết lâu rồi, chiến tranh cũng qua lâu rồi, nhưng vẻ đẹp khôi ngô của thằng Tư, nụ cười hồn nhiên cuả thằng Ba mãi còn đó, như một nỗi ám ảnh, cũng là niềm an ủi tuổi già.
Hôm nay, thói quen đó giúp bà Thân quân bình lại cuộc sống bị xáo tung lên gần nửa tháng nay, sau khi con cháu vừa sang lại bên Mỹ. Niềm vui hội ngộ rồi cũng chóng qua, trả lại cuộc sống đời thường mỗi người một công việc, một nỗi lo riêng. Con cháu đang làm gì, chúng có tự hỏi mẹ Thân giờ đang buồn vui thế nào không, điều đó chẳng cần biết. Bà chỉ cần biết mình đang cảm thấy an yên mỗi lần thắp nén nhang trên bàn thờ hai con, rồi đứng nhìn từng khuôn mặt mà bà đã từng bệu má, rị tai, hôn trán, vuốt tóc…
Cái gì, hình như con Hai đã nói với thằng Út hôm sắp chia tay, rằng viên đạn bắn vào đứa con ở chiến tuyến nào cũng xuyên qua trái tim người mẹ. Rồi nó dặn dò thằng Út, cứ để mẹ thờ riêng hai em bên nhà, không vội gộp chung với cha, cũng không cần thúc mẹ làm mới tấm hình của anh mày. Cứ chiều mẹ cho hết những ngày cuối đời, biết đâu đó lại là liều thuốc vui khỏe cho tuổi già. Thế hệ mẹ, chị em mình và các cháu khác nhau nhiều lắm, xã hội càng bức tốc, sự phân cực càng lớn. Việc của chị bên đó không an nhàn lắm đâu, nhưng chị là đứa con hoang đã mỏi gối chồn chân, nên lại muốn quay về chốn cũ.
Ừ, mẹ cám ơn…, cám ơn các con. Mẹ không thể thay đổi quá khứ, vì nó đã khắc in quá đậm vào tâm trí của mẹ. Còn các con, các cháu…, muốn thay đổi tương lai thế nào thì hãy mạnh dạn lên.
TIÊU ĐÌNH

















