Truyện ngắn Phạm Lưu Vũ: Giọt lệ Nam Xương

VHSG- Cùng với nhà văn trẻ Nguyễn Hải Yến ở Hải Dương, nhà văn kỳ cựu Phạm Lưu Vũ ở Hà Nội với hai truyện ngắn Chiếc khoen đồng, Giọt lệ Nam Xương đã được trao Giải nhất Cuộc thi Truyện ngắn (2018 – 2020) của Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm. VHSG chúc mừng nhà văn Phạm Lưu Vũ và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc truyện ngắn Giọt lệ Nam Xương của ông…

Nhà văn Phạm Lưu Vũ

Tăng Trường thiên vương là một trong tứ thiên vương, cai quản ở phía Nam núi Tu Di, một cõi trù phú, hiền lành và mông muội, một hôm đang trong cơn thiền định, bỗng rùng mình một cái, thấy trên đỉnh núi Tu Di vừa chấn động, từ đó rắc xuống những cánh hoa trời, rực lên một lát rồi tan biến vào hư không. Có làn gió thổi cuộn từ dưới lên, thoang thoảng hương thơm. Chắc nhân gian lại có chúng sinh nào vừa đắc đạo Tiên. Ngài nghĩ thế bèn xuất khỏi định, bước ra ngoài cung trời ngó xuống, thấy một ngọn núi hùng vĩ nhô lên giữa một vùng sông nước bời bời, dọc ngang uốn khúc, cây cỏ tốt tươi, mây lành cuồn cuộn. Ngài vẫy bọn tả hữu đến, trỏ xuống ngọn núi mà hỏi:

“Các ngươi có biết kia là núi gì không?”

“Dạ bẩm, đó là núi Tản…” – bọn tả hữu cúi đầu, cung kính trả lời. Thiên vương bảo:

“Ta xem thấy mây lành quấn quýt, hào khí ngùn ngụt thế kia, chắc ở đó vừa xuất hiện một bậc tiên nhân. Đó là phúc lớn của cõi trời Nam này đấy. Các ngươi có thể mời vị ấy đến đây được không? Ta có chuyện muốn bàn với vị ấy”.

Bọn tả hữu vâng lời, bèn cử ngay một người trong bọn là Nam Đàn sứ giả cưỡi mây xuống núi Tản. Trước khi đi, Thiên vương sai đem theo cuốn sổ Nam Cực Pháp Danh, chép tên các thổ địa, linh thần các xứ ở Giao Châu rồi căn dặn:

“Một người đắc đạo mà kinh động đến đỉnh Tu Di thì không phải chuyện thường, chính ta cũng còn kém đấy. Nhẽ ra ta phải đích thân xuống cầu, song không muốn làm bọn quỷ nhân bất thiện ở phương Bắc chú ý. Ngươi đi chuyến này phải nói sao cho thật khéo mới được.”

Nam Đàn sứ giả vâng lời, giắt cuốn sổ Nam Cực Pháp Danh vào trong người rồi rời khỏi cung Trời, một mình cưỡi mây xuống núi Tản.

Vừa hạ mây xuống núi, Nam Đàn sứ giả đã nghe xung quanh rộn rã tiếng gió như thổi tiêu, chim hót như kể chuyện, vượn hú như chào mừng… Cả một tòa núi xanh như dát ngọc, ngẩng lên thấy tán cây vẽ lên trời như những bức tranh, cúi xuống thấy mặt đất sạch bong như vừa mới quét dọn, lá cây rụng xuống tự chui vào đất, nước mưa đến đâu đất thấm khô đến đấy. Thật là một chốn hảo sơn bảo sát của bậc chân nhân, Nam Đàn sứ giả thầm thán phục trong lòng. Đi được một quãng thì một tòa động hiện ra, phong cảnh xung quanh còn lộng lẫy hơn nữa, bên trong động hoa đá lung linh, hào quang tua tủa, tỏa hương thơm ngào ngạt. Cúi đầu kính cẩn bước vào, tới giữa động, Nam Đàn sứ giả ngước lên, thấy một tòa đá nguyên khối bằng ngọc bích, xung quanh uốn lượn mềm mại như những cánh hoa, hai bên tòa có hai dãy hạc đứng hầu, mỗi bên tám con, lông cánh trắng muốt, chân đỏ, mỏ đỏ, mắt long lanh như những viên ngọc. Chính giữa tòa ngọc bích có một vị tiên nhân ngồi xếp bằng tròn, tay phải cầm chiếc phất trần làm bằng những sợi tơ hồng, tay trái cầm một cuốn sách. Vị tiên nhân tóc trắng như tuyết, phủ đến ngang vai, râu dài đến rốn, đôi mắt sáng quắc, hai bên mi cũng trắng như tuyết, dài đến chấm ngực. Gương mặt Ngài đỏ như tiết canh, ở giữa bạch hào nổi lên một cục thịt to bằng quả ổi, cũng đỏ như máu, hào quang phóng ra như những tia chớp. Nam Đàn sứ giả bất giác càng thêm sinh lòng kính trọng, bèn dừng bước, cách tòa thạch ngọc độ vài sải tay, rút trong người cuốn Nam Cực Pháp Danh ra, hai tay nâng lên ngang đầu, cúi người cung kính dâng lên.

Vị tiên nhân từ trên tòa nhìn xuống, thấy Nam Đàn sứ giả, liền cười “khà” một tiếng, làm rung chuyển cả tòa thạch động rồi cất giọng trầm hùng, hỏi:

“Ngươi từ đâu tới đây? Ta vừa ra khỏi cơn đại mộng, thì khắp nơi trong bốn phương tám hướng, mọi cử động ta đều thấu rõ cả, chỉ có ngươi là ta không thấy, thế thì ngươi không nằm trong số những kẻ phàm trần. Ngươi từ Trời xuống có phải không?”

Nam Đàn sứ giả giật mình, bụng nghĩ vị này đã đắc tâm nhãn thông, thì nhất cử nhất động của mọi giống hữu tình trong cõi Diêm Phù đề này, đều nằm trong cái thấy của Ngài cả. Duy có mình vì không thuộc cõi phàm nên Ngài không thấy đấy mà thôi. Bèn vội vàng thưa:

“Dạ, bẩm đại tiên. Đệ tử quả vừa từ chỗ Tăng Trường thiên vương xuống đây”.

Đại tiên nghe nói, liền bật lên một tràng cười sảng khoái, ra vẻ vừa ý lắm, liền bảo:

“Tăng Trường thiên vương trông coi địa phận của Nam Diêm phù đề. Ta ở lẫn chốn nhân gian, dẫu đứng vào hàng địa tiên, may đắc được một chút đạo lực, thì cũng cần phải có người ấn chứng cho mới được. Vì thế ta cũng đang nghĩ tới chuyện lên cung trời, ra mắt thiên vương một chuyến xem sao…”

Nam Đàn sứ giả nghe nói trong bụng mừng rỡ, liền vội vàng nói:

“Dạ, bẩm đại tiên, chính thiên vương cũng muốn cầu kiến Ngài, cho nên mới sai đệ tử tới đây để thăm dò ý tứ của Ngài đấy ạ.”

Lời nói của vị sứ giả thật là khéo léo, chẳng ra triệu thỉnh, cũng chẳng ra mời mọc, mà vẫn trúng ý của đại tiên, khiến đại tiên hài lòng lắm. Ngài liền đứng ngay dậy, xuống khỏi thạch tòa, bước đến thu lấy cuốn sổ, rồi cầm tay sứ giả, cười khà khà mà hớn hở nói:

“Vậy thì còn chờ gì nữa, đi ngay, đi ngay…”

Nam Đàn sứ giả rối rít vâng lời, liền quay đầu cùng đại tiên bước ra khỏi động. Lũ hạc trắng đứng hai bên cũng rùng rùng cất bước theo sau. Ra tới cửa động, nhìn xuống phía dưới là cả một vùng trời nước bao la, phong cảnh cực kì diễm lệ. Lũ hạc vừa nom thấy đã rún mình xuống, rồi đồng loạt vỗ cánh bay trước dẫn đường. Đại tiên và Nam Đàn sứ giả cũng vút một cái, nhảy ngay lên mây, nhằm hướng cung trời của Tăng Trường thiên vương thẳng tiến.

Biết sứ giả đã mời được khách quý, Tăng Trường thiên vương dẫn tả hữu ra tận ngoài cửa cung trời đón đại tiên vào. Hai vị vái nhau rất là trân trọng. Vào đến trong cung, khách chủ yên vị đâu đấy, các thiên nữ lần lượt dâng trà thơm, quả ngọt… đến lượt một đoàn Càn Thát Bà tiến ra cúi chào, rồi tấu lên một bản nhạc trời réo rắt, nghe cực kì mê ly. Tiếp đến tiết mục của các nghệ sĩ Khẩn Na La diễm lệ, vừa hát, vừa múa những động tác vô cùng đẹp mắt. Đại tiên vừa theo dõi, vừa mỉm cười, tay vuốt vuốt chòm râu, miệng không ngớt tiếng khen ngợi. Xong màn chư tiên chào đón, Tăng Trường thiên vương lên tiếng trước:

“Lành thay, lành thay. Đạo chẳng dễ cầu, nhưng không phải không thể cầu được. Dẫu trong muôn một, thế nào chẳng tới lúc sẽ có đủ duyên. Mừng cho cõi Nam Diêm phù đề, nay đã thành tựu được phương luân, định được phong thủy, dựng nên hào khí… cho nên mới hun đúc nên một bậc thượng trí như Ngài…”

Đại tiên nghe thiên vương tán dương, tuy không mảy may động lòng, song cũng khiêm tốn đáp lời:

“Xin đa tạ, đa tạ. Bần đạo cũng vì thế mà coi phương luân, phong thủy như đất cha mẹ của mình. Nay bần đạo đã tới đây, dám mong Ngài ở trên cao mà ấn chứng cho…”.

Thiên vương cười ha hả, rồi vái một cái mà trả lời:

“Không dám, không dám. Ngài đứng đầu trong số địa tiên ở phía Nam Diêm phù đề này đấy. Bản chức đây thế là đã chứng kiến những điềm xuất hiện của bốn vị địa tiên, không điềm nào giống với điềm nào, cho nên mới hân hạnh được biết…”

Đại tiên cũng vòng tay xá lại một cái rồi hỏi:

“Vậy chẳng hay đã xảy ra những điềm gì?”

Thiên vương đáp:

“Lúc ở phía Bắc xuất hiện Nga Mi lão nhân, thì núi động dưới chân, gió có vị chát. Phía Đông xuất hiện Đông Hải thần tiên, thì núi động sườn bên hữu, gió có vị mặn. Phía Tây xuất hiện Lão Qua tôn giả, thì núi động sườn bên tả, gió có vị cay. Tới khi Ngài xuất hiện, thì núi động trên đỉnh, trời rắc mưa hoa, gió thổi có hương thơm, một mực thanh tịnh, không có vị gì, vì thế biết đạo hạnh của Ngài đứng đầu…”

Đại tiên nghe nói mừng lắm, hết sức cảm tạ Tăng Trường thiên vương. Liền hỏi tiếp:

“Ngài coi sóc thiện nghiệp của chúng sinh cõi Nam Diêm Phù đề này kể từ vô thỉ, vậy chẳng hay chúng sinh ở chỗ bần đạo thế nào?”

Tăng Trường thiên vương nghe câu hỏi thì càng mừng lắm. Lập tức trầm giọng xuống trả lời, vẻ rất nghiêm trọng:

“Ngài không hỏi thì bản chức đây cũng muốn Ngài lưu ý. Nguyên chúng sinh nơi quý xứ của Ngài vốn chủ yếu từ Đông Thắng thần châu hết phước mà sinh về, nên tính tình thuần hậu, biết nhường nhịn nhau, thiện nghiệp có lúc rất rực rỡ, song có lúc lại tàn lụi. Chỉ vì có tính ngu tham, càng đông càng ngu tham, lại gặp phải một chủng người ở sát ngay phía Bắc…”

Nói đến đây, Tăng Trường thiên vương ngừng lại, có ý thăm dò thái độ của vị đại tiên. Đại tiên nghe đến đâu cảm kích đến đó. Thấy thiên vương dừng lại, liền hỏi ngay:

“Chủng người phía Bắc là thế nào?”

Thiên vương thong thả nói tiếp:

“Chủng người ở phía Bắc, vốn chủ yếu là chúng A Tu La đã hết phước báo mà đầu thai về, tính chẳng khác gì quỷ dữ nên chỉ ưa sinh sự, thích gây việc chiến tranh để lấn chiếm bờ cõi, giết hại nhân mạng, ăn thịt lẫn nhau… Nay một cõi phương Nam may mắn được Ngài giáng thế, tức là phương luân đã định đoạt, hào khí đã trỗi dậy, thì thiện nghiệp thảy đều trông cậy ở Ngài. Mong Ngài hết sức bảo hộ cho mới được.”

Đại tiên nghe đến đây liền đứng bật dậy, vòng tay xá thiên vương một lần nữa, miệng nói:

“Xin đa tạ ân đức cao cả của Ngài, đã ủy thác cho bần đạo cái điều hết sức hệ trọng ấy. Bần đạo nguyện xin ghi nhớ, không bao giờ dám quên…”

Rồi tiệc trời được các thiên nữ dọn ra, thiên vương cùng đại tiên thù tạc hết sức vui vẻ. Xong tiệc, hai vị chia tay nhau. Tăng Trường thiên vương lại đem tả hữu tiễn ra tận Cổng Trời. Vị đại tiên cùng lũ hạc trở về núi Tản, nhớ lại lời nói của thiên vương, bèn lấy đạo hiệu là Vô Vị chân nhân.

Từ đó Vô Vị chân nhân thường vân du khắp nơi để xem xét phong tục, dân tình, ban thưởng cho những ai có thiện nghiệp, uốn nắn những chỗ sai sót… Ngài đi đến đâu cũng được các sơn thần, thổ địa, thắng nhân… vui mừng chào đón, thấm thoắt đã nghìn năm trôi qua. Một hôm từ phương Nam trở về gần đến núi Tản, Ngài dừng lại, vén mây nhìn xuống, bỗng giật mình nom thấy hắc khí bời bời, ma chướng mù mịt… Chợt nhớ lại câu chuyện của Tăng Trường thiên vương ngày trước, biết giang sơn bảo sát của mình đang bị cái họa quỷ dữ phương Bắc dày xéo. Ngài hiểu ngay công việc của mình sẽ phải làm gì. Nghĩ đến những chúng sinh phía dưới kia đang chịu rên xiết, bất giác Ngài nhỏ xuống một giọt lệ… Giây lát, Ngài thu mây, nhanh chóng trở về thạch động. Về tới nơi, lập tức nhập vào một cơn thiền định, rồi từ trong định, gọi thổ địa linh thần các xứ đến chầu để mở hội nghị, gọi là Hưng Linh Tụ. Thành phần gồm:

1- Ba mươi sáu chủ thần Núi, đứng đầu là Sơn thần Tản Viên.

2- Bảy mươi hai chủ thần Đất, đứng đầu là Địa thần Long Biên.

3- Tám mươi mốt chủ thần sông, đứng đầu là Long vương Hồng hà.

4- Một trăm linh tám chủ thần rừng, đứng đầu là Lâm thần Yên Thế.

5- Một ngàn không trăm lẻ tám thổ địa, thành hoàng các xứ…

Tất cả đều có tên trong sổ Nam Cực Pháp Danh của Tăng Trường thiên vương.

Khi chủ thần các xứ đã tề tựu đông đủ, Vô Vị chân nhân khai cuộc Hưng Linh Tụ, đem cái họa giặc dữ phương Bắc ra nói lại một lượt, rồi cắt đặt mọi việc, ân cần căn dặn các linh thần phải hết sức hộ trì lương dân, nhiếp tâm, khuyến khích các anh hùng, hào kiệt bốn phương để trừ giặc dữ và bọn tay sai, bảo hộ giang sơn gấm vóc. Hưng Linh Tụ đã tuyên cáo xong, Ngài lại dùng phép “thành sở tác trí”, tạo ra vô số món bảo khí, thổi hơi tiên vào rồi trao cho từng người, dặn rõ tác dụng của từng món. Ngay lập tức, hào khí bốn phương ngùn ngụt trỗi dậy, dựng lên như thành đồng lũy sắt. Lũ giặc phương Bắc và bọn tay sai bán nước cầu vinh vẫn đang ngang nhiên lừa bịp, tìm mọi cách móc túi dân lành mà không hề biết rằng, chúng từ đó chẳng khác nào cá nằm trong nồi, chỉ còn chờ nổi lửa lên kho…

Nguyên chỗ Ngài dừng mây, dưới đất có một làng lớn, tục gọi làng Giếng, thuộc quận Nam Xương, có một người đàn bà đang cắm mặt làm cỏ ở giữa ruộng. Giọt nước mắt của Ngài rơi xuống, vô tình nhỏ trúng lưng người đàn bà ấy. Người đàn bà này họ Hoàng, lấy chồng họ Phùng đã lâu chưa có con. Hôm đó đang làm cỏ lúa dưới cái nắng như thiêu như đốt, bỗng cảm thấy khí trời đột nhiên mát rượi, ngẩng lên thấy một quầng mây tía ở tít trên cao, phóng những tia hào quang ra bốn phía như những tia chớp. Chưa kịp kinh lạ, thì lại thấy xung quanh tràn ngập một mùi hương ngào ngạt, trong người bỗng thấy cảm động, bèn dừng công việc lại, lội vào bờ rửa ráy chân tay rồi trở về nhà.

Người đàn bà đem sự việc ấy kể lại với chồng. Ông chồng họ Phùng cũng bảo có hào quang chiếu vào trong nhà, phảng phất hương thơm. Đêm ấy, hai vợ chồng thì thầm trò chuyện mãi đến khuya, mà vẫn không đoán ra đó là cái điềm gì.

Ai ngờ cũng đúng đêm hôm đó, người đàn bà họ Hoàng bỗng nhiên thụ thai. Vợ chồng mừng lắm, sắm sửa lễ tạ ơn trời đất, tổ tông thật là chu đáo. Mười tháng sau sinh một đứa bé trai kháu khỉnh. Họ Phùng này tên Thủy, vốn là người hay chữ trong vùng, bèn đặt tên chữ cho con là Phùng Thanh Hòa, lại gọi tên cúng cơm là Đản Sinh.

Đản Sinh lớn lên khôi ngô tuấn tú, thông minh đĩnh ngộ, Phùng Thủy đem sở học của mình ra, muốn dạy chữ cho con, Đản Sinh học đâu nhớ đấy song chỉ qua loa chiếu lệ, cốt để cho cha vừa lòng, còn thì suốt ngày chỉ ham mê đấu vật. Tới năm mười sáu tuổi thì trai tráng trong vùng không ai địch nổi.

Bấy giờ xứ Giao Châu nằm dưới ách đô hộ của bọn giặc Lương ở phương Bắc. Trước đó, có gã họ Nguyễn, tên Nộm, là người Giao Châu nhưng làm tay sai cho viên thái thú, cháu ruột vua nước Lương tên là Tiêu Đức. Nguyễn Nộm người thấp bé, béo tròn như cái chày hành, học vấn lỗ mỗ, chỉ được mỗi cái tráo trở, tham lam bỉ ổi, luôn cậy thế thái thú Tiêu Đức. Nộm nghe nói làng Giếng có một khoảnh ruộng kì lạ, ở giữa nổi lên một doi đất ngoằn ngoèo, cây cối xanh tốt quanh năm, trận mưa đầu mùa năm nào cũng bắt đầu từ đó trước, rồi mới lan ra xung quanh. Những lúc có bão thì doi đất ấy tự dưng biến mất, nhưng bão tan thì lại hiện ra. Nguyễn Nộm thấy đất lạ, bèn thuê một lão thầy Tàu bí mật về xem, lão thầy Tàu ngắm nghía khoảnh ruộng mãi, ngợi khen không ngớt, bảo với Nguyễn Nộm rằng doi đất ấy là con rồng, rồng lộ thiên như thế thì cực hiếm, hàng vạn dặm may ra mới gặp. Cho nên cuộc đất ấy có cái thế gọi là “hiện long tại điền”, nếu đem mả bố mà táng vào đó, thì phú quý sẽ không để đâu cho hết. Nguyễn Nộm thấy thế liền nổi lòng tham, muốn cướp ngay khoảnh ruộng ấy, song còn e ngại vị Trưởng thượng của làng là người họ Lê, có bản lĩnh, thông kim bác cổ. Nộm bèn lập mưu, giả cách đến thăm, mang rượu thịt đến kết giao với con trai nhà họ Lê, chỉ trời vạch đất thề bồi, còn để lại cả thủ bút, chép trong một miếng da bò để làm tin. Trưởng lão họ Lê thấy thế thì lấy làm tin tưởng lắm, không đề phòng gì.

Quận Nam Xương cách thành Châu Cầu chỉ vài chục dặm. Nguyễn Nộm trở về thành, tâu với thái thú Hoàng Trung, cùng nhau lập ra một cái trát để trưng thu khoảnh ruộng có con rồng đất lộ thiên ấy, rồi chuẩn bị lực lượng, hẹn ngày kéo tới làng Giếng, nếu cần thì ăn cướp. Một hôm, trưởng lão họ Lê bỗng thấy con chó Đốm trung thành vẫn nuôi trong nhà tha từ đâu ra một vật lạ, có mùi khó ngửi, cầm lên xem, thì ra chính là miếng da bò, chép thủ bút của Nguyễn Nộm hôm trước, mùi khó ngửi ấy chính từ những con chữ của nó xông ra. Điềm này xuất hiện thì chắc gặp phải kẻ tráo trở, trưởng lão họ Lê linh cảm có chuyện chẳng lành, liền tiện tay quẳng miếng da bò đi, con chó Đốm liền nuốt ngay vào bụng.

Quả nhiên hôm sau, Nguyễn Nộm dẫn quân lính về cánh ruộng làng Giếng, mang tờ trát ra tuyên đọc, rồi đóng cọc rào hết cả lại. Trưởng lão họ Lê dẫn dân làng ra phản đối, bị quân lính của Nguyễn Nộm đánh gãy một cẳng chân, rồi chúng kéo nhau vào làng. Nguyễn Nộm quả đã trở mặt, thả cho quân lính ăn cướp không từ một thứ gì, từ gà vịt, trâu bò… cho đến cả những đồ thờ bằng sứ, bằng đồng… Dân làng uất ức lắm, song không làm gì được. Từ đó mỗi khi trưởng lão họ Lê lên tiếng phản kháng, Nguyễn Nộm lại điều binh đến bao vây cả làng Giếng, rồi cho quân nằm lì ra đó, ăn tàn phá hại, giao hợp bừa bãi, trẻ không tha, già không thương…

Đản Sinh nghe cha mẹ kể lại những việc ấy từ ngày còn bé, trong bụng căm giận lắm, muốn nuôi chí đuổi giặc, cứu dân. Năm lên mười sáu tuổi liền xin cha mở lò đấu vật để tụ tập trai tráng và tìm hào kiệt kết giao. Nguyên làng Giếng ở gần bên sông Hồng, xới vật của Đản Sinh mở ở sân đình, thành hoàng làng Giếng hàng ngày chứng kiến, thấy Đản Sinh không chỉ có sức khỏe, mà còn tỏ ra có khí phách của một bậc anh hùng, nhớ lại lời căn dặn của Đức Ngài Vô Vị chân nhân ngày trước, bèn nghĩ cách phù trợ cho chàng. Bấy giờ đang mùa lũ, nước sông Hồng dâng lên, ngập trắng cả một vùng. Thành hoàng nhân đấy nhớ ra, trong hội Hưng Linh Tụ ở núi Tản Viên ngày trước, có cả sự hiện diện của Long vương, thần chủ của Đại Can long Hồng hà, liền tính chuyện xuống Long cung một chuyến, đem việc phù trợ Đản Sinh ra thỉnh ý Long vương xem sao.

Nguyên thành hoàng làng Giếng ngày ấy cũng có mặt trong Hưng Linh Tụ, cũng chẳng phải ai xa lạ, chính là vị trưởng lão họ Lê ngày trước, bị quân lính của Nguyễn Nộm đánh gãy chân phải nằm liệt một chỗ. Gặp tuổi cao sức yếu, trưởng lão họ Lê chẳng bao lâu sau thì mất, con chó Đốm trung thành cũng chết theo. Vị trưởng lão nhờ lúc sống có trí tuệ thông kim bác cổ, có khí phách lẫm liệt lợi tha, nên khi chết đắc được quả linh thần, Tăng Trường thiên vương từ trên cung trời biết chuyện, liền phong ngay làm thành hoàng, có chép tên trong sổ Nam Cực Pháp Danh. Thành hoàng họ Lê biết nghiệp của dân làng hiện còn nặng lắm, cũng muốn phù hộ người lành, trừng trị kẻ ác, song chỉ quanh quẩn những việc nhân quả lặt vặt trong một vài đời mà thôi. Mãi đến khi được triệu tới hội Hưng Linh Tụ, mới chứng kiến hào khí non sông thì biết cái cơ đuổi giặc đã tới, bèn ngấm ngầm luyện trí, tích thêm công đức, trông xa nhân quả đến hàng trăm đời…

Thành hoàng họ Lê xuống Long cung, xin vào yết kiến Long Vương Hồng hà, đem chuyện Đản Sinh ra hết lời tán tụng. Long vương Hồng hà cũng đinh ninh lời dặn của Đức Vô Vị chân nhân ngày trước, nghe thành hoàng họ Lê nói thì cũng mừng, bảo ngay:

“Vừa hay, vừa hay. Đã có minh chủ xuất hiện, ở về phía Bắc, là một bậc anh hùng cái thế, có chân mạng của bậc vương giả. Nay được tráng sĩ họ Phùng này giúp rập vào nữa thì còn gì bằng. Trong cung ta hiện đang giữ bảo khí trống đồng, do Đức Vô Vị chân nhân trao cho ở hội Hưng Linh Tụ ngày trước, dặn gặp đúng thời, đúng người thì mới được đem ra. Trống này dóng lên một hồi thì kinh động cả tiên nhân, quỷ thần… dóng hồi thứ hai thì anh hùng trỗi dậy, dóng hồi thứ ba thì hào khí nổi lên. Nếu tay họ Phùng ấy quả là người xứng đáng, đem trống đồng dâng lên bậc minh chủ, thì việc lớn khó gì mà chẳng xong. Nhưng kẻ có sức khỏe, mà không có mưu trí, thì cũng dễ làm hỏng việc lắm, cho nên cần phải thử đã mới được…”

Thành hoàng họ Lê nghe Long vương nói thì mừng lắm. Liền hỏi:

“Bẩm, chẳng hay Ngài định thử mưu trí của họ Phùng như thế nào?”

Long vương trả lời:

“Dưới trướng ta có một tiểu tướng tên Cổn, cũng thích đấu vật. Nay cho y lên đấu với họ Phùng thử xem sao?”

Thành hoàng họ Lê hỏi:

“Tiểu tướng tên Cổn là người như thế nào?”

Long vương trả lời:

“Ở dưới nước y là một loài cá, chuyên ở dưới đáy bùn, dân địa phương gọi là cá Cổn, lên trên cạn thì biến thành toa nhân (người cá). Nguyên là tên Cổn, cha đẻ của vua Đại Vũ, thủy tổ của nhà Hạ, tức là thủy tổ của Trung Hoa thuở xưa. Cổn đi thuyền trên sông Hoàng Hà, bị trượt chân rơi xuống sông, đầu va phải mái chèo, bị một con thuồng luồng nuốt chửng vào trong bụng, theo đường tiêu hóa mà thoát ra, qua cửa hậu môn nên chìm dưới đáy sông, nhờ hơi bùn mà đầu thai thành một loài cá, vì thế mới có tên cá Cổn. Về sau Đại Vũ nhân lúc trị thủy sông Hoàng hà, cũng có ý muốn tìm hài cốt của cha mà không thấy là vì như vậy. Cổn theo bùn rác trôi xuống phía Nam, xin đầu quân vào dưới trướng của ta, làm một tên tiểu tướng, ta thương y đã từng chịu một kiếp nằm trong bụng thuồng luồng, nên chiếu cố phong cho chức “Tuần kiểm”, gọi là “Tiểu ngư tuần Cổn”, chuyên đi tuần sông mà chưa dùng vào việc gì to tát. Nay nhân có việc này, sai y đi một chuyến cũng là một việc hay.”

Thành hoàng họ Lê băn khoăn:

“Sức khỏe của tên Cổn ấy như thế nào? Loài cá mà đọ sức ở trên cạn, thì liệu có phải là đối thủ của họ Phùng hay không?”

Long vương cười khà khà trả lời:

“Chủng tính phương Bắc là giống Á tiên hết phước, tức là loài Atula nên cũng có sức khỏe, lại giỏi lươn lẹo. Dẫu ở trên cạn thì y cũng có cách sử dụng lợi thế của mình, họ Phùng nếu chỉ biết dùng sức thì cũng khó có thể thắng…”

Thành hoàng họ Lê nghe nói, hiểu ý Long vương muốn thử mưu trí của họ Phùng. Biết Long vương là một bậc Đại Thủy thần chủ, cai quản Đại Can long Hồng hà, là hơi thở của cả một cõi giang sơn bảo sát, thì tất đã xắp xếp đâu vào đấy cả rồi. Lại biết việc thần toán của một bậc Can long đại vương, thì cũng ví như cơ trời, không thể tiết lộ, nên không dám hỏi thêm, bèn kính cẩn cáo từ.

Mấy hôm sau, vừa sáng sớm đã có một người to lớn từ dưới bến Hoàng Giang đi lên. Người ấy mắt nhỏ như hai hạt đậu, đầu dẹt như mái chèo, mồm rộng đến mang tai, làn môi tím ngắt, hai bên mép có hai chòm râu đỏ, mỗi chòm ba sợi dài ngắn khác nhau, sợi nào cũng to như râu tôm. Toàn thân ướt sũng, đi đến đâu để lại vệt nước đến đó. Người ấy đi thẳng vào đình làng Giếng, đến xới vật của Đản Sinh, xin được thử sức.

Đản Sinh nghe báo cũng chạy ra xem, nom thấy tướng mạo người kia thì cũng cảm thấy hơi quái lạ, bèn sai các đệ tử, từng người lần lượt vào vật thử. Từ sáng đến gần trưa, không anh nào vật nổi, cứ bám vào thân người kia là lại tuột, dở tất cả những tuyệt kĩ khóa cổ, khóa chân, khóa tay… ra, người kia cũng dễ dàng hóa giải. Đản Sinh đứng ngoài xem liền nghĩ ngay ra một kế. Đến khi các đệ tử thảy đều chịu thua, đến lượt đích thân mình phải bước vào xới vật, Đản Sinh ghé tai một đệ tử, bảo vào trong bếp xúc một thúng tro đem ra, rồi cứ làm như thế, như thế…

Đản Sinh vào cuộc, ban đầu cũng loay hoay, không tài nào tóm được đối thủ. Đứng bên ngoài, anh đệ tử nghe lời dặn, bèn bốc tro bếp nhằm người ấy mà ném tới tấp. Lập tức người ấy bị Đản Sinh khóa chặt, quật ngã xuống đất, phơi cái bụng trắng hếu lên. Các đệ tử vỗ tay ầm ĩ. Nguyên người kia mình trơn, cơ thể như tiết ra một chất nhớt, khiến không anh nào tóm được. Đản Sinh biết thế, bèn dùng kế ném tro bếp vào thì nhớt hết tác dụng ngay. Người ấy lồm cồm bò đứng dậy, vòng tay vái Đản Sinh một vái mà bảo:

“Xin chịu tài tráng sĩ. Ở trên cạn thì sức ngài không ai địch nổi. Nhưng ở dưới nước thì chưa biết thế nào. Chẳng hay tráng sĩ có dám vật nhau với tôi ở dưới nước hay không?”

Thật là một thách thức khó từ chối. Nguyên người ấy chính là tên “Tiểu ngư tuần Cổn”, dưới trướng của Long vương Hồng hà, được Long vương sai lên thử tài của Đản Sinh, lại dặn phải dùng kế khích tướng, để dụ Đản Sinh xuống Long cung cho Long vương xem mặt. Đản Sinh khảng khái nhận lời. Cả hai liền dẫn nhau ra bến nước, nhảy ùm xuống sông Hồng, từ giữa dòng, sóng nổi lên cuồn cuộn, đánh vào bờ làm rung rinh cả cây cỏ, mọi người đứng xem ai nấy lắc đầu lè lưỡi. Giây lát sóng lặng, chỉ còn thấy tăm nổi lên, một lát thì lặng như tờ. Mọi người chờ mãi, chờ mãi… Không thấy Đản Sinh nổi lên thì bắt đầu hoảng sợ, bèn cuống cuồng gọi nhau nhảy xuống tìm kiếm, suốt cả ngày vẫn không thấy tăm hơi…

Nói chuyện Đản Sinh lúc nhảy xuống sông, biết ở dưới nước thì không dùng tro bếp được nữa, sẽ khó mà khóa được mình mẩy người này, phải dùng đến một tuyệt kĩ trong môn đấu vật, gọi là “song chỉ tróc khẩu”, tức là miếng khóa mõm, hay tay dùng hai ngón trỏ, móc vào hai bên mép, ngón cái móc vào hai bên mang tai thì mới tóm được. Đản Sinh bèn lộn người xuống dưới, dụ cho người kia lướt vào, chờ đúng lúc hai bụng chạm nhau, liền phóng hai ngón trỏ lên, móc vào hai mép đối thủ. Tưởng thế là dễ dàng khóa chặt được cái đầu của y, không ngờ y quẫy mạnh một cái, làm động tác vùng vằng về hai bên, Đản Sinh liền thấy nhói lên như bị giáo đâm vào hai bên nách, tê buốt không thể chịu nổi, đến nỗi ngất lịm đi không biết gì nữa…

Đản Sinh tỉnh lại, mở mắt ra thấy mình đang đứng trước một cung thủy tinh thất bảo cực kì lộng lẫy, xung quanh có tiếng róc rách, tiếng quạt nước mà không thấy cá, chỉ thấy bên trong, bóng những cô gái đẹp như tiên, xiêm y trong vắt, rực rỡ đi lại, chỉ trỏ. Ngẩng đầu lên nom thấy mấy chữ đại tự: “HỒNG HÀ THỦY CUNG”. Có mấy cung nữ từ bên trong bước ra, cung kính cúi chào, mở miệng tươi như hoa thủy tiên mời chàng vào cung. Thì ra đây là thủy cung của Long vương Hồng hà, thật là một nhân duyên hiếm có, Đản Sinh mừng rỡ nghĩ bụng, bèn đi theo các cung nữ. Bước vào bên trong, lại nom thấy mấy chữ: “ĐẠI THỦY THẦN CHỦ”. Đi một hồi nữa mới tới nơi ngự của Long vương, trên cửa đề: “CAN LONG ĐẠI VƯƠNG”. Đản Sinh theo cung nữ mạnh dạn bước vào, thấy Long vương đang ngự ở trên điện, hai bên là hai tiên nữ, trang phục lúc nào cũng thướt tha như thả trong bể nước vậy. Bên dưới là hai hàng quan chức nghi vệ chỉnh tề, chắp tay đứng hầu. Đản Sinh nom khắp một lượt, bụng lấy làm quái lạ, thấy người nào người nấy da dẻ tuy mịn màng, song đều đỏ như tôm luộc, hai mắt xanh như ngọc bích, người không râu thì nhẵn thín, người có râu thì sợi nào cũng to như râu tôm. Tất thảy đều có hai làn môi tím ngắt như màu quả sim chín. Đản Sinh cung kính hướng về phía Long vương, sụp xuống lạy ba cái. Nguyên Long vương Hồng hà là một chủ thần sông thuộc vào hàng “Phổ phát tấn lưu”, vì thế nước sông Hồng không bao giờ ngừng chảy, lại có thanh âm vang dội, gọi là “thập phương Sư tử hống”. Từ trên điện, Long vương cười khà một tiếng, rồi xua tay cất lời, tiếng nói làm rung cả cung thủy tinh, dội thẳng vào màng nhĩ:

“Không phải đa lễ, không phải đa lễ, cứ việc xưng danh là được.”

Long vương vừa nói xong thì Tiểu ngư tuần Cổn ở cuối hàng bên tả lập tức bước ra, rạp mình xuống đất tâu:

“Muôn tâu, người này chính là Phùng Thanh Hòa, tục gọi Đản Sinh, người đất Nam Xương mà tiểu thần đã phụng mệnh đại vương triệu về đấy ạ.”

Đản Sinh nghe nói mới biết, thì ra mình vừa vật nhau với gã toa nhân tên Cổn này. Từ trên điện, Long vương ngắm nghía tướng mạo, thần khí của Đản Sinh, thấy quả như lời tán tụng của thành hoàng họ Lê hôm trước thì mừng lắm, bèn bảo Đản Sinh:

“Thế thì ta với ngươi tuy địa thủy khác nhau, song ở trong tam giới thì đều là thế chủ cả đấy. Đã vậy thì phải đãi vào hàng khách quý mới được.”

Nó rồi sai cung nữ mang ghế ra mời Đản Sinh ngồi, lại sai rót nước, bưng trà. Đoạn hỏi:

“Chuyện trên cạn hiện giờ thế nào?”

Đản Sinh nghe hỏi, biết Long vương có lòng quan tâm đến nhân tình thế thái, bèn đem tình thế giang sơn đang bị bọn giặc phương Bắc dày xéo, dân lành bị ức hiếp ra kể lại, kể đến đâu căm giận đến đó, hai mắt lồi lên, khóe mắt nứt ra, máu chảy ròng ròng. Long vương chứng kiến càng lấy làm hài lòng lắm. Lại hỏi:

“Nghe nói ngươi tụ tập trai tráng, luyện tập võ nghệ cũng có ý muốn trừ hại cho dân lành. Tại sao chưa khởi sự?”

Đản Sinh nghe hỏi thấy trúng tâm sự của mình, bèn trả lời ngay:

“Bẩm đại vương, tiểu nhân hiềm vì tài trí nông cạn, chưa đủ thế lực, lại chưa gặp được bậc cao nhân, minh chủ, cho nên còn phải nghiến răng ẩn nhẫn chốn thôn sâu để chờ thời cơ đấy ạ.”

Long vương nghe đến đây thì mừng lắm, trong bụng đã quyết, liền nói ngay:

“Hiện đã có bậc anh hùng cái thế, xuất hiện ở phía cung Kim long, thượng nguồn Đại Can long Hồng hà này. Ngươi có thể bái người ấy làm minh chủ. Ta lại có món bảo khí này giao cho ngươi. Có vật này trong tay thì lo gì không có hào kiệt, cao nhân tìm đến giúp rập, lại dùng nó dâng lên để làm lễ ra mắt minh chủ. Chẳng hay ngươi có chịu không?”

Đản Sinh nghe nói thì mừng rỡ, trong lòng cảm động, quỳ ngay xuống rập đầu cảm tạ. Long vương đứng dậy rời khỏi điện, bước tới đỡ Đản Sinh dậy, cầm tay ân cần dặn dò, đoạn sai tả hữu bưng chiếc trống đồng ra. Đản Sinh vừa nom thấy đã sinh lòng ngưỡng mộ, chiếc trống đồng không ngớt phóng ra những tia hào quang lấp lánh, làm sáng rực cả tòa cung điện. Quả là một món bảo khí thiêng.

Long vương lại sai gọi Phục Thủ đại phu, một chức quan coi giữ kho ngọc trong cung Thủy tinh, ra lệnh xuất cho Đản Sinh một túi ngọc lớn, trị giá ngàn lượng vàng làm chi phí quân lương. Đản Sinh mừng rỡ cảm ơn khôn xiết rồi cúi mình làm lễ từ biệt, cùng với viên Tiểu ngư tuần Cổn vác theo chiếc trống đồng hộ vệ trở về.

Bấy giờ ở trên bờ đã sang ngày thứ ba. Sau mấy ngày dày đặc người mò tìm suốt một khúc sông mà không thấy tăm hơi, các đệ tử cùng cha mẹ Đản Sinh và dân làng hầu như đã tuyệt vọng, bèn lập bàn thờ ngay cạnh bờ sông, mời thầy về tế. Bỗng thấy giữa sông sóng lại dâng trào, từ dưới nước, phóng lên một luồng hào quang ngũ sắc. Mọi người chưa kịp kinh dị thì bỗng thấy Đản Sinh vọt lên khỏi mặt nước, đứng thẳng người giữa sông như thể có người đỡ ở bên dưới, trước mặt là một chiếc trống vàng chóe, lấp lánh hào quang. Mới đầu mọi người ngỡ là Đản Sinh đã chết, nay hiển linh trở về, ai nấy đều hoảng hồn quỳ xuống, chắp tay vái lia lịa. Sau thấy Đản Sinh tươi cười vẫy tay, gọi tên từng người thì mới biết chàng quả chưa chết, lập tức chuyển hoảng hồn thành mừng rỡ mà bật dậy reo hò.

Đản Sinh cùng chiếc trống đồng cứ thế lừng lững trôi vào. Vừa bước lên bờ thì mặt nước lại quẫy mạnh một cái, đấy là hộ vệ Tiểu ngư tuần Cổn đã xong nhiệm vụ, lộn người trở lại Long cung. Mọi người đem kiệu ra rước chiếc trống đồng và Đản Sinh về làng, làm lễ tạ ân trời đất và Long vương Hồng hà rồi trịnh trọng gióng một hồi trống, mở tiệc lớn ăn mừng…

Bấy giờ ở về phía tây bắc, vùng Sài Sơn có hai đạo sĩ đi tu lánh đời, một người có đạo hiệu là Vô Tình tiên ông, người kia là Yểm Mục tiên ông. Cả hai quyết không màng gì đến chuyện thế sự, nhân tình… Cùng nhau luyện cách dưỡng thân của loài thảo mộc, cách hít thở của bọn đá cuội, cách chuyển động của lũ côn trùng, đã đắc được một cái định có tên là “thần thông du hí tam muội”, thì cũng chỉ thỏa chí rong chơi, tìm đến những hồn cây, bóng quế, chuyện trò với những con rùa đá, nghê đồng… Hôm ấy hai người rủ nhau vân du về phía Nam. Ở trên mây bỗng nghe thấy tiếng trống, lập tức Vô Tình tiên ông trong lòng bỗng nổi lên một cảm giác kì lạ, chưa từng có bao giờ, khiến đường mây đang thơ thới, đột nhiên khựng lại. Riêng Yểm Mục tiên ông thì không cảm thấy gì, song đường mây cũng lệch hẳn về một bên, ngoặt ra phía biển. Thấy đạo hữu khựng lại, Yểm Mục tiên ông cũng mặc kệ, một mình cứ tiếp tục cuộc du hí. Vô Tình tiên ông dừng ở trên mây, định thân quan sát. Ba mươi năm tu luyện, tưởng đã quên hẳn chốn trần ai, không ngờ tất cả hiện về, chỉ trong một niệm, không sót tí gì, từ nỗi thống khổ của nhân gian đến sự sợ hãi của loài muông thú… Lại thấy rõ cái đau của những người cách mình hàng trăm dặm, chứng kiến sự hả hê của những kẻ bất lương ở bất cứ phương nào… bất giác nghiến răng căm giận. Đúng lúc ấy, ở dưới đình làng Giếng, thành hoàng họ Lê bỗng thấy bọn rùa đá, nghê đồng ở trong đình nhất loạt ngửa cổ nhìn lên trời thì biết có cao nhân, liền nhảy ngay lên, hiện thân ra mắt, miệng hết lời cầu thỉnh. Vô Tình tiên ông bèn thu mây, cùng thành hoàng họ Lê trở xuống đình đàm đạo. Câu đầu tiên hỏi ngay đến tiếng trống, thành hoàng họ Lê liền đem chuyện Đản Sinh và chiếc trống đồng của Long vương Hồng hà ra kể lại một lượt. Nghe xong, Vô Tình tiên ông càng thấy hâm mộ lắm, nói:

“Thế ra Đức Ngài Vô Vị chân nhân đã trù liệu trước mọi việc. Ngài là bậc đứng đầu địa tiên, bần đạo ngưỡng vọng Ngài đã lâu mà chưa có duyên được gặp, cũng chỉ vì cái tính thích vân du, nên chưa định được phương luân. Nay vì một tiếng trống mà đến nỗi buộc phải dừng mây, thì chắc sẽ gặp được duyên lành đây…”

Thành hoàng họ Lê nói:

“Một bậc đã thành tựu phương luân, định được phong thủy, dựng nên hồn cốt của cả một cõi giang sơn như Đức Vô Vị chân nhân, thì những loài hữu tình ở bất cứ chỗ nào cũng không ra khỏi Ngài. Nay đạo sĩ đã nghe tiếng trống ấy, tức là đã gặp Ngài rồi đó, còn phải chờ gì nữa?”

Vô Tình tiên ông nghe nói giật mình, bừng tỉnh như người vừa ra khỏi cơn đại mộng. Liền xá thành hoàng một cái, trả lời:

“Ngài nói phải lắm. Vậy theo ngài, bần đạo phải làm gì bây giờ?”

Thành hoàng họ Lê mừng rỡ, nói ngay:

“Ở đây có một người họ Phùng, là người có chí khí anh hùng, nhưng vẫn còn trẻ người non dạ, việc chinh chiến, đối nhân xử thế ắt chưa có kinh nghiệm. Nay gióng trống tụ tập hào kiệt để cứu nước, giúp dân, nếu được một bậc cao nhân như ngài chỉ bảo cho thì còn nói gì nữa? Ngài giúp họ Phùng, tức là giúp dân, giúp nước, giúp dân giúp nước, tức là đã ở trong trướng của Đức Vô Vị chân nhân rồi đó.”

Vô Tình tiên ông bật dậy, vỗ tay liền ba cái rồi nói:

“Bần đạo học theo những loài vô tình, đắc được du hí thần thông, tưởng như thế là đã xuất thế, ai ngờ không phải. Giờ nghe tiếng trống mới tỉnh ngộ ra, rằng muốn xuất thế, thì phải nhập thế. Đó chính là những việc của Đức Vô Vị chân nhân đang làm…”

Thành hoàng họ Lê nghe nói cũng phải lặng người đi vì cảm kích, lập tức đứng dậy, chắp tay vái ba vái rồi nói:

“Ngài đã phát tâm nhập thế, thì tất phải xả bớt khí tiên, khác nào bỏ mất bao nhiêu năm tu luyện. Sự hy sinh ấy thật là lớn lao. Họ Phùng nay gặp được ngài, thì khác nào như cá gặp nước. Thật là một vận may hiếm có, đối với cả cõi giang sơn này…”

Rồi hai vị chia tay nhau, Vô Tình tiên ông ra khỏi đình làng, nhập vào định để xả bớt khí tiên, trở lại như người phàm. Nghĩ lại câu nói của thành hoàng họ Lê, bèn tạm giấu đạo hiệu đi, lấy phàm danh là Cát Vận, hỏi thăm vào nhà họ Phùng.

Đản Sinh tức Phùng Thanh Hòa từ khi gióng trống, thì liên tiếp có người đến xin đầu quân trừ giặc. Nay bất ngờ gặp một vị tiên phong đạo cốt, dáng điệu thần tiên, xưng là Cát Vận, mắt nhìn xuyên thấu được lòng người, tai nghe hết mọi chuyện trong tam giới, việc thiên hạ như trong lòng bàn tay thì mừng lắm, lập tức làm lễ bái làm quân sư, lại mở tiệc ăn mừng.

Bấy giờ ở về phía Tây Bắc, trấn Sơn Thiên có một cuộc đất gọi là Kim Long, thuộc thượng lưu của Đại Can long Hồng hà, xuất hiện một anh hùng, tên gọi Lý Bí đã nổi lên đánh đuổi bọn giặc Lương, quả đúng như lời nói của Long vương Hồng hà ngày trước. Hào kiệt bốn phương có nhiều người hưởng ứng. Quân của Lý Bí đánh đuổi thứ sử Giao Châu tên Tiêu Tư, chiếm thành Long Biên và truyền hịch đi bốn phương. Thì ở Nam Xương, Phùng Thanh Hòa cũng đã kịp chiêu mộ được vài nghìn trai tráng. Minh sư Cát Vận liền tập hợp lại, chia ra cơ đội rồi dạy thêm võ nghệ, huấn luyện phép hành binh, tiến, lui, công, thủ… Vài tháng sau thì đâu ra đấy. Chủ tướng là Phùng Thanh Hòa mở tiệc khao quân, định dẫn quân về ngay Long Biên để hợp quân với Lý Bí, đồng thời dâng trống đồng, tôn Lý Bí làm minh chủ. Quân sư Cát Vận bàn:

“Hợp quân không bằng hợp cõi. Nay giặc Lương và bọn tay sai đóng ở thành Châu Cầu không khác gì rắn mất đầu, như cá nằm trong rọ. Nay ta kéo quân đến lấy thành tất sẽ dễ như trở bàn tay, rồi thẳng đường tiến ra Long Biên, đi tới đâu quét sạch giặc tới đó. Thế là cả một dải phía Nam sạch bóng quỷ dữ. Khi ấy sẽ hội quân với Lý Bí, tôn Lý Bí lên ngôi vua. Đó là việc của một bậc thượng tướng đấy.”

Phùng Thanh Hòa nghe bàn mừng lắm. Liền sai may một lá cờ lớn, ở giữa thêu hai chữ: “Sát Quỷ”, rồi chọn ngày xuất quân. Đêm hôm ấy nằm ngủ trong trướng, Phùng tướng quân mơ thấy một cụ già mắt sáng như điện, râu trắng như cước, tiếng vang như chuông, chính là trưởng lão họ Lê ngày trước, cũng chính là thành hoàng làng Giếng hiện giờ. Vị thành hoàng dâng lời chúc mừng, rồi căn dặn chuyến này phải bắt bằng được tên Nguyễn Nộm, để trị cái tội ngày trước đối với làng Giếng. Phùng tướng quân kính cẩn ghi lòng tạc dạ.

Trước lúc xuất quân, Phùng tướng quân và quân sư Cát Vận sai mổ trâu làm lễ tế cờ ở đình làng. Quân vừa kéo đi, bỗng thấy một con chó Đốm từ trong hậu cung chạy ra, đi lẫn vào trong quân, một lúc thì không thấy đâu nữa, mọi người ai cũng lấy làm lạ.

Quả như quân sư Cát Vận đã trù liệu. Quân của Phùng Thanh Hòa bất ngờ kéo tới, vây chặt thành Châu Cầu. Thái thú Tiêu Đức và bọn giặc Lương ở trong thành vốn đã hèn nhát, giờ thêm khiếp đảm thì không còn bụng dạ nào chống đỡ nữa. Chỉ chưa đầy nửa ngày thành đã bị vỡ, quân của Phùng Thanh Hòa ồ ạt kéo vào, bắt gọn Tiêu Đức và bọn quan binh nhà Lương, không sót mống nào.

Sau khi chém Tiêu Đức, Phùng Thanh Hòa giật mình nhớ lại lời dặn của thành hoàng họ Lê, lập tức sai người đến lục soát dinh thự của Nguyễn Nộm. Y đã lặn đâu mất tăm.

Phùng Thanh Hòa nghe báo liền đích thân tới phủ Nguyễn Nộm xem xét. Phủ Nguyễn Nộm tòa ngang dãy dọc, như cung điện của những hạng vua chúa. Lộn đi lộn lại vòng vèo, qua hàng chục lần cửa ngách, tới một căn phòng rộng thì bỗng phát hiện có mùi khó ngửi. Một vật lạ nằm trên nền nhà, phía cuối gian phòng. Phùng tướng quân tiến lại xem xét, thì ra chính là miếng da bò, trên có mấy chữ thủ bút của Nguyễn Nộm ngày trước, không hiểu sao lại xuất hiện ở đây. Phùng tướng quân nhíu mày nhìn kỹ, thấy bên dưới miếng da có dấu hiệu của một nắp hầm. Trong bụng chợt hiểu ra, liền gọi quân sĩ vào cậy lên, quả nhiên bên dưới là một cái hầm ngầm.

Nguyễn Nộm đang rúm ró trốn ở dưới hầm. Xung quanh y là cả một kho vàng bạc, châu báu… Lại có một chiếc hòm làm bằng đá ngọc bích, mở ra bên trong có bộ hài cốt. Hài cốt của bố Nguyễn Nộm, y chưa kịp đem về táng ở cánh đồng làng Giếng.

Phùng tướng quân lập tức thiết lập pháp trường, xử cái tội tay sai của Nguyễn Nộm, tịch thu hết vàng bạc, châu báu, lại đem những đồ cướp trong dân gian trả về cho chủ cũ, quẳng hài cốt cha nó ra ngoài đồng nội. Đem đầu Nguyễn Nộm về tế thành hoàng họ Lê, rồi cùng với quân sư Cát Vận, thẳng đường kéo quân ra Long Biên.

Bấy giờ Lý Bí đã làm chủ thành Long Biên, thêm lực lượng của Phùng Thanh Hòa thì mừng lắm. Họ Phùng dâng bảo khí trống đồng. Tiếng trống ngày càng giục giã, hào kiệt khắp nơi càng ngày càng kéo về tụ nghĩa. Một dải giang sơn đã sạch bóng giặc, Phùng Thanh Hòa cùng các tướng tôn Lý Bí lên ngôi vua, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân…

Vua Nam Việt Đế đặt ra trăm quan, phong Phùng Thanh Hòa làm Hữu tướng quân, cùng với Tả tướng quân là Triệu Quang Phục coi giữ việc chinh phạt. Một hôm, có người đánh cá ở Cồn Vành, chỗ cửa sông Hồng đổ ra biển đem tới dâng một vật lạ. Vật ấy cao gần bốn thước, chu vi bảy thước, tuyền một màu trắng đục, nom như có hình người ngồi ở bên trong, cứng như kim cương, dao chém không vào, búa đập không vỡ, ban đêm phát ra ánh sáng, đến mức ngồi gần có thể đọc sách được.

Nam Việt Đế lấy làm quái dị, nhân lúc triều hội, bèn đem vật ấy xuống hỏi các quan. Các quan cũng không ai biết đó là vật gì. Hữu tướng quân Phùng Thanh Hòa bèn đứng ra tâu:

“Quân sư của thần là Cát Vận, một người có kiến thức thông cả tam giới, có thể trả lời được.”

Nam Việt Đế liền cho triệu Cát Vận tới. Cát Vận xem xét kĩ một lát, rồi tâu rằng có biết vật này, song xin khất đến hôm sau sẽ trả lời tường tận. Vua đồng ý rồi bãi triều.

Nguyên Cát Vận nhìn vật ấy thì nhận ra ngay, bên trong đó quả có người ngồi, người ấy chẳng phải ai xa lạ, chính là Yểm Mục tiên ông, vị đạo hữu của mình ngày trước. Yểm Mục tiên ông ngày ấy đã không chịu dừng mây, cớ sao nay lại bị giam trong tảng băng kim cương này? Cát Vận muốn tìm hiểu cho rõ ngọn ngành đã, rồi mới tâu lại cho Nam Việt Đế biết.

Tối hôm ấy Cát Vận nhập vào một cái định có tên là “túc vương trí tam muội”, biết Yểm Mục tiên ông nhục thân thì ở đây, song báo thân thì hiện đang ở trên cung trời Dạ Ma. Liền chuyển sang “phi nhân giới tam muội”, xuất hồn lên thẳng cung trời Dạ Ma, tìm mãi đến “Du hí địa” mới gặp Yểm Mục tiên ông ở đó. Hỏi nguyên cớ, Yểm Mục tiên ông trả lời:

“Tôi tiếc ngày ấy đã không theo ông nhập thế, nên ngày nay mới ra nông nỗi này…”

Cát Vận, cũng tức là Vô Tình tiên ông ngày trước nghe nói càng kinh ngạc. Vặn hỏi mãi Yểm Mục tiên ông mới chịu kể:

“Lúc bấy giờ không hiểu sao đường mây của tôi bỗng ngoặt sang phía Đông, tới cửa biển thì va phải tấm lưới, tuy vô hình mà chắc như thép, không tài nào thoát ra được, liền rơi ngay xuống biển, tấm lưới lập tức biến thành khối băng kim cương, giam giữ tôi từ đó đến nay…”

Vô Tình tiên ông nghe đến đây, đoán ngay ra việc này có liên quan đến Long vương Hồng hà, vì nơi Yểm Mục tiên ông rơi xuống là Cồn Vành, đúng chỗ cửa sông Hồng đổ ra biển. Yểm Mục tiên ông cũng hiểu ý nghĩ đó. Câu chuyện tiếp theo giữa hai vị diễn ra ở trong định, cũng chỉ kéo dài trong vòng một niệm. Đầu đuôi như sau:

Nguyên ngày trước, ở hội Hưng Linh Tụ, ngoài bảo khí trống đồng, Long vương Hồng hà còn được Đức Vô Vị chân nhân bí mật giao cho một món bảo khí nữa, đó là một tấm lưới. Long vương thấy vậy ngạc nhiên, nghĩ mình là một chủ thần sông, thì chỉ cần gọi một tiếng, thủy tộc nào cũng phải có mặt, can gì phải dùng đến lưới? Đức Vô Vị chân nhân biết ý, liền cười mà bảo:

“Lưới này không giăng ở dưới sông, mà giăng ở trên trời”.

Long vương thắc mắc:

“Bẩm, giăng lưới trên trời để bắt chim hay sao?”.

Đức Vô Vị chân nhân trả lời:

“Không phải để bắt chim, mà để bắt… tiên”.

Lúc bấy giờ, Long vương cũng nhất thời chưa hiểu ý của Đức Vô Vị chân nhân. Mãi đến khi nghe Phùng Thanh Hòa gióng trống, liền thấy có một luồng tiên khí vụt vụt trôi trên đỉnh sông Hồng, mới chợt hiểu ra ý của Đức Vô Vị chân nhân ngày trước, bèn đem tấm lưới ra, từ dưới cung Thủy tinh phóng lên, trúng ngay vào Yểm Mục tiên ông…

Yểm Mục tiên ông than thở:

“Tôi chỉ vì thích cưỡi trên mây gió, không chịu nhập thế nên đã đắc tội với với Đức Ngài. Nay dẫu được sinh vào cung trời này, thì cũng là do phước báo từ đời trước. Hết phước sẽ bị đọa vào loài thủy tộc, hàng trăm kiếp mới được trở lại làm người…”

Vô Tình tiên ông an ủi:

“Đức của Ngài Vô Vị chân nhân thật lớn lao thay, chúng ta dẫu có là phi hành tiên, thì cũng chả bao giờ ra khỏi được Pháp thân của Ngài. Ngài vì coi giữ phương luân, hun đúc hào khí nên mới phải làm như thế. Ông sau này nếu có phải đầu thai làm loài thủy tộc, thì cũng nên chọn loài nào có kiếp sống ngắn ngủi, thì trăm kiếp cũng chẳng lâu la gì…”

Hôm sau Cát Vận vào triều, tâu lại đầu đuôi mọi việc cho Vua và cả triều đình biết. Ai nghe cũng lắc đầu lè lưỡi. Nam Việt Đế nghe xong, liền ra lệnh cử hành trọng thể lễ tạ ơn Đức Ngài Vô Vị chân nhân, tôn Ngài là Tản Viên Sơn Thánh, lại xuống chiếu cho thiên hạ, lệnh khắp nơi phải lập đền thờ…

Thế còn tảng thạch băng kim cương kia? Cát Vận tâu với Nam Việt Đế, rằng tảng băng ấy không gì phá nổi, song tới khi nào ban đêm không phát ra ánh sáng nữa, thì gõ nhẹ cũng vỡ vụn mà thôi. Nam Việt Đế bèn sai đem cất vào trong cung, đặt tên là Thạch Quang Băng, coi như một vật quý của triều đình.

Thạch Quang Băng trải mấy triều đại, mấy cuộc giặc giã, binh lửa mà vẫn không hề suy suyển. Mãi năm trăm năm sau, vào đời vua Lý Nhân tông, một hôm thị vệ vào báo, ánh sáng của Thạch Quang Băng đã lịm tắt. Vua Nhân tông sai ngay sứ đến chùa Láng, triệu sư trụ trì là Từ Đạo Hạnh vào hỏi. Sư Từ Đạo Hạnh vào cung, nhìn tảng băng tối thui, thì biết phước báo của Yểm Mục tiên ông trên cung trời Dạ Ma đã hết, liền lấy búa gõ nhẹ một cái, tảng băng liền vỡ vụn, lộ ra một bộ hài cốt. Từ Đạo Hạnh khuyên nhà vua nên cho đem về táng ở một ngọn núi nhỏ thuộc Sài Sơn. Vua Nhân tông nghe theo, táng xong đặt tên ngọn núi ấy là Yểm Mục sơn. Về sau, sư Từ Đạo Hạnh trong một lần đi đò qua sông Hồng, thấy dân tụ tập ở ven bờ, bảo nhau vớt con vờ về rang làm thức ăn, sư bảo trong số những con vờ đó có Yểm Mục tiên ông ngày trước đấy. Trăm kiếp con vờ thì bất quá cũng chỉ trăm tuần mà thôi.

Hữu tướng quân Phùng Thanh Hòa đóng ở thành Ô Diên, được Nam Việt Đế sai đi bình định các quận phía Nam, cùng Cát Vận lập được nhiều công lao. Sau trở về Thạch Thất, lập lên một làng gọi là Phùng Xá. Khi chết cũng đắc quả linh thần, đến nỗi làm kinh động đến Tăng Trường thiên vương, được Tăng Trường thiên vương phong làm thành hoàng. Quân sư Cát Vận báo cho làng Phùng Xá biết điều đó, rồi trở lên núi Tản Viên cầu Đức Vô Vị chân nhân, được Đức Ngài thu làm đệ tử, bèn bỏ tên Cát Vận, trở lại đạo hiệu Vô Tình, xưng là lão nhân.

PHẠM LƯU VŨ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *