Truyện ngắn Trần Bảo Định: Chóp Chài nỗi nhớ

“Theo anh về Miệt Thứ

Gió chướng mùa sang nhớ chụp đìa!”

(TBĐ)

1.

VHSG- Trăng miệt vườn lay lắt nhịp buồn câu ca vọng cổ.

Má Tư trở mình và đi rỏn ra sàn nước bến rạch cặp mé hiên nhà. Hai Rằng Chài thức dậy và cắc cớ bước rón rén theo sau lưng má.

Sương khuya phủ mờ bến rạch.

Đột nhiên, chim khách kêu ba tiếng một. Má Tư, nhại giọng chim chích chòe lửa kêu tiếng một ba hồi.

Lặng lẽ, xuồng trườn nhẹ mặt nước và mũi xuồng chạm cây cầu nước.

“Ba về!”.

Trong lòng reo lên nhưng Hai Rằng Chài kềm chế không bật thành tiếng.

Nhà văn Trần Bảo Định

Dưới ánh trăng quê không đủ sáng tỏ mặt người, nơi gốc cây rơm ngày cũ Chín Cò ôm Tư Cải vào lòng và hình như, Tư Cải khóc! Chín Cò vuốt nước mắt Tư Cải, trời khuya lành lạnh không gian.

“Con Hai, ngủ hay thức mình?”.

“Chắc là con nó ngủ!”.

“Mình! Mình cho tui gặp mặt con!”.

Tư Cải, dợm bước vô nhà.

“Con nè, ba!”.

Từ sau đêm cha con trùng phùng, Hai Rằng Chài không còn dịp gặp lại người cha yêu dấu!

Chiến tranh đã chôn vùi vĩnh viễn tình phụ tử.

Ráo hoảnh nước mắt, má Tư câm nín và thường khi kể cho con gái nghe chuyện về người cha không can dự cuộc chiến và chấp nhận chết mất xác, chẳng rõ đàng nào đã giết!?

– Quê nội con ở chưn núi Chóp Chài .

– Sao gọi là núi Chóp Chài, má?”.

Thắc mắc, Hai Rằng Chài hỏi.

– Má chưa thấy núi, dù đó là quê chồng. Lúc sinh thời, mỗi lần nhớ quê, ba của con hay chèo xuồng ra sông và nắm chóp chài, rãi chài mặt nước bắt cá.

Nói xong, má Tư cười ngụ ý.

– Má ơi! Đến bao giờ, con mới được về quê ba thắp nén hương nhận dòng họ nội?

– Khi tàn rồi cuộc chiến!

Má Tư tặc lưỡi:

– Chiến tranh, thân thất lạc và lòng người thì ly tán cả ruột rà máu thịt. Không biết ngày sau ngưng tranh ngừng chiến, người có vui mà bỏ qua hay vẫn xâu xé hận thù?

Rồi, má nói thêm:

– Chóp Chài, quê cha đất tổ của con từng là bãi chiến trường giằng co bởi hai thế lực thề chẳng đội trời chung giữa Tây Sơn – Nguyễn Ánh và hiện tại, đang là nơi tối – sáng trong cuộc chiến đẫm máu này…

Má Tư thở dài.

Sắp hết ngày, trời giăng sương trên cánh rừng tràm trụi lá trơ cành vì chất độc thuốc khai hoang.

– Làm sao, má có thể về thăm quê chồng và con, có thể về thăm quê nội?

Bùi ngùi, má Tư thì thầm trong tiếc thương:

“Ba con, chết không thấy xác và không lưu lại di ảnh để phụng thờ!”.

Hai Rằng Chài khóc thút thít.

– Có gì phải khóc, con?

Bất chợt, lời lẽ dì rắn rỏi:

– Con gái của má! Đừng khóc những gì đã qua. Cười lên con, bởi bao chuyện đời đang chờ con ở phía trước!

Chậm rãi, má Tư nhắc:

– Chuyện đời phải vậy thì việc người vậy, phải đứng lên không yếu hèn trước nghịch cảnh và đau thương!

Và, má Tư lặp lại những gì chồng hay kể về nơi chôn nhau cắt rún:

“Sông núi hun đúc hồn thiêng, thế đất Long Qui tạo thành địa linh nhân kiệt. Long đây chính là sông Đà Rằng, đầu gối thượng nguồn rừng núi Trường Sơn và đuôi, gác ngang làng Phước Hậu để giao cùng núi Chóp Chài vốn cốt Qui Sơn trườn mình trấn giữ Biển Đông…”.

Những điều má Tư nói khiến Hai Rằng Chài vững tin và hy vọng ngày mai rồi trời sẽ xán lạn!

Buổi trưa, rừng lá tràm xanh ngát bình yên.

Người Miệt Thứ, thời đạn bom họ hiểu rằng sau bình yên là cái chết bất ngờ không định trước; sau màu xanh lá, là cái xám ngắt của đói nghèo và đau khổ. Nhưng, họ không thể bỏ nơi này tới nơi khác bởi với họ, đã kiệt sức và đường cùng. Miệt Thứ, tận cuối cõi đất trải từ An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận liên kết thành U Minh Thượng chạy dọc theo triền sông Cái Lớn chảy tuốt luốt tới vịnh Rạch Giá và là nơi chốn lưu dân dừng bước khai khẩn để hậu hiền khai cơ.

Miệt Thứ, nơi này “ngoài vòng cương tỏa” và nếu có “vòng cương tỏa” thì đó là thứ vòng cương tỏa nghĩa khí giang hồ “trượng nghĩa khinh tài”, chim trời cá nước người bắt được người ăn. Mỗi con người Miệt Thứ, khi trọn Thứ và cũng có lúc Thứ Rưởi… Họ sống, là quyển sách đầy ắp chuyện đời sống động và họ chết, dưới nấm mộ có biết bao điều lịch sử đời người được ghi và chưa kịp ghi.

Chuyện đời, má Tư có lắm chuyện đời không thể nào quên.

– Má! Duyên cớ sao ba gặp má?

– Cái con này! Y hệt thằng cha nó, hỏi chi mà cứ hỏi vần đeo!

Mắng yêu con gái nhưng rồi, cũng là dịp để má bươi lại chuyện đời đã mốc meo theo năm tháng dưới lớp bụi thời gian.

***

Chín Cò, thứ Bảy trong gia đình nghèo khó và đông con. Tuổi thơ anh gắn liền với những đàn cò đáp đồng trên cánh đồng lúa xanh rì vây bọc chưn núi Chóp Chài và có lẽ vì vậy, ba má anh đặt tên con là Cò. Mười lăm tuổi, anh gởi lại tuổi niên thiếu nhờ cánh đồng quê hương cất giữ, chỉ mang theo tiếng chuông chùa ngân nga trong sương khói chiều tà những ngôi cổ tự lưng chừng núi và hình ảnh “Trăng tắm ao sen” (Liên trì dục nguyệt) mỗi Rằm theo má lên chùa lễ Phật… làm hành trang cùng ba xuôi Nam.

Sài Gòn “đèn ngọn xanh ngọn đỏ”, nhưng với phận nghèo lạc xứ như Chín Cò và hàng ngày ba anh khuân vác từ ghe chài chở lúa gạo miền Tây lên bến Bình Đông nhập kho, thì chỉ biết ăn thầm ngủ bụi nơi xó gác trọ.

Thương tình, bà Sáu Cơm Tấm thường hay giúp đỡ cha con Chín Cò: khi bới cơm nhiều, lúc gắp thêm thức ăn mỗi bữa cơm và những lần, cha con Chín Cò yếu đau thắt ngặt thì bà cho ăn chịu. Riêng Chín Cò thì cô Tư Cải, thường lén má, vét cơm cháy rắc mỡ hành dành cho Chín Cò mang theo ăn dặm lúc xuống ghe phụ bốc vác hoặc mót lúa gạo rơi rớt. Để ý, bà Sáu thấy nhưng không rầy con, vì tụi nhỏ biết tương thân tương ái.

Ngại ngùng, đôi lần lánh mặt má con bà Sáu Cơm Tấm, cha con Chín Cò ăn cơm chỗ khác. Lóng ngóng, bà Sáu biểu cô Tư Cải đi tìm chạy kiếm cho bằng được.

– Lá rách đùm lá nát! Cha con thằng Cò ngại chi mà ngại, ngùng chi mà ngùng!

Dòng đời như nước lớn ròng, lặng lẽ trôi.

Thực dân Pháp đối mặt và điêu đứng trước phong trào Việt Minh.

Bến Bình Đông, tàu ghe chở lúa gạo miền Tây về Sài Gòn thưa dần và việc làm ăn của lao động nghèo bám bến, khó khăn càng khó khăn hơn. Cha con Chín Cò bỏ bến, nương theo Tám Đủ – bạn ghe chài chành lúa – dạt về miền Tây sông Hậu và nghe đâu, tận miệt Thứ.

Thương bạn, Tám Đủ vốn cố cựu dân Miệt Thứ, cái miệt mà “Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”. Sách vở viết đó là vùng Lâm Sác hay Thập Câu, dân thượng hạ điền khố rách áo ôm thì gọi là Miệt Thứ.

Hôm tiễn cha con Chín Cò ra đi, bà Sáu xôi nồi cơm nếp bự chảng với con gà luộc vàng ươm. Bà nói:

– Cha con thằng Chín, mang theo dọc đường để có cái ăn khi đói!

Lúc cha con Chín Cò sắp bước xuống ghe, bà Sáu lưỡng lự nhưng rồi dứt khoát cởi chiếc nhẫn vàng đang đeo ngón tay, dúi vô tay ba của Chín Cò:

– Cầm lấy, phòng khi thắt ngặt, bất trắc.

Và, chẳng đợi cha con Chín Cò có đồng ý hay không. Bà nói luôn:

– Lúc nào, mần ăn khắm khá thì trả lại tui!

***

“An cư lạc nghiệp”!

Tám Đủ nói vậy và vì nói vậy, Tám Đủ quyết giúp bạn bằng được việc an cư. Hết chèo xuồng qua rạch Chà Và giả, Chà Và thiệt… tới Xẻo Ngát, Xẻo Vẹt… cũng chưa nơi nào chọn được chỗ an cư. Thời may, có người anh em bạn Tám Đủ hồi nẳm cùng gác kèo ong lấy mật mách nước:

– Ở Bến Bạ, có nền nhà cao ráo và bỏ trống. Chắc là, an cư được!

Miệng nói, tay làm. Người anh em bạn Tám Đủ dẫn nhau đi thực địa.

Rụt rè, ba của Chín Cò e ngại:

– Biết chủ nền nhà ở đâu mà xin đất ở đậu?

Người anh em bạn Tám Đủ nói:

– Nền nhà có chủ như không, vì chủ chẳng thể quay về!

Thắc mắc, ba của Chín Cò hỏi: “Tại sao?”, thì người anh em bạn Tám Đủ bồi hồi nói:

– Chủ nền nhà là một nho sĩ yêu nước và bị Tây thực dân bỏ tù biệt xứ cũng vì lòng yêu nước đó!

Tỏ vẻ rành chuyện, người anh em bạn Tám Đủ nói tiếp:

– Tây thực dân buộc người nho sĩ yêu nước mỗi nơi đến chỉ được lưu trú năm năm và sau năm năm, thì phải dời đi nơi khác. Vợ người nho sĩ yêu nước cả đời mong mỏi được sống yên một chỗ nhưng rồi điều mong mỏi ấy, tới chết bà cũng không có được!

Bùi ngùi, ba của Chín Cò nhìn bãi biền ráng chiều nắng quái.

2.

– Mèng đéc ơi! Dữ hôn, mười cái Tết rồi… Bây mới trở về bến cũ!

Mừng vui lẫn như trách móc. Lụm cụm, bà Sáu Cơm Tấm muốn bước tới choàng tay ôm Chín Cò nhưng tuổi cao sức yếu, không thể. Quýnh quáng, Tư Cải đứng chết trâng, nhìn chằm chằm người bạn nhỏ ngày cũ nay đã là chàng thanh niên cường tráng.

– Dạ! Thưa bà Sáu! Cha con cháu thật có lỗi!

Ngoài bến Bình Đông, chiều buông!

Lơ thơ mấy chiếc ghe chài trống hoác neo đậu trong cảnh đìu hiu tiếc nuối buổi xưa nhộn nhịp trên bến dưới thuyền.

– Tư! Bây đâu rồi Tư?

– Dạ! Má, con nè!

Bẽn lẽn, Tư Cải duỗi duỗi ngón chưn cái lên mặt đất nền nhà.

– Xuống bếp hấp lại cơm và hâm thức ăn cho anh Chín của con dằn bụng kẻo đói.

Bà quay sang Chín Cò:

– Để đồ đạc đó đi cháu!

Tình thiệt, bà Sáu thiệt tình nói:

– Có gì ăn nấy, nha cháu!

Nhá nhem, đường phố lên đèn.

– Cô Tư! Tui phụ cô một tay.

– Ý chết! Má thấy, mà rầy!

Lui cui, Tư Cải vửa thổi lửa vừa thấp giọng:

– Anh Chín ra bến sông tắm, nghỉ ngơi rồi ăn cơm.

Lửa bén củi bùng cháy, đôi má Tư Cải ửng hồng và Chín Cò thì quay lưng không nỡ.

Đêm tâm sự của những người xa cách mười năm trộn lẫn tiếng rao hàng rong lừng khừng, buồn hiu hắt.

– Ngần đó năm, cha con cháu sống ra sao?

Bà Sáu hỏi.

Chín Cò kể không sót một chi tiết nào về sống và động mà cha con của anh đã trải qua nơi Miệt Thứ. Chốn ấy, người vẫn còn nặng lòng xứ sở và biết lấy nghĩa đối nhau; đời vẫn không nhẹ dạ cả tin những điều nhân danh mỹ miều tốt đẹp và biết phân biệt trắng đen, tránh lạc đường lầm lối. Rồi, Chín Cò chậm rãi kể tiếp:

“An cư tạm xong, cha con cháu sống bằng nghề chụp đìa bắt cá”…

Nghe tới bắt cá, Tư Cải trong bụng bắt ham:

– Chụp đìa, là chụp sao anh Chín?

– Cái con nhỏ này! Anh Chín bây được trớn thả dọc, bây lại thọc ngang mất trớn!

– Dạ! Không sao bà Sáu!

Tỉ mỉ, Chín Cò nói cặn kẽ:

– Hồi chưn ướt chưn ráo mới tới Miệt Thứ, cha con cháu tát đìa bắt cá bằng gàu sòng, gàu dai và có lúc bằng thúng hoặc thùng thiết. Thấy vậy, bác Tám Đủ, người anh em bạn của bác Tám cùng bà con chòm xóm Bến Bạ, bày vẽ và chỉ dẫn tỉ mỉ cách chụp đìa bắt cá.

Tằng hắng, Chín Cò nói tiếp:

– Chụp đìa là cách ken lưới…

Nôn nóng, Tư Cải nhảy vô đốc họng Chín Cò:

– Ken lưới, là ken sao anh Chín?

Lườm mắt, bà Sáu ngó con gái:

– Ken lưới, là lấy tấm lưới rộng hơn mặt đìa và phủ lưới kín mặt đìa. Sau đó, hạ lưới từ từ xuống lòng đìa, tới lúc còn cách đáy đìa áng chừng nửa thước nước thì dừng lại…

– Dừng lại chi, anh Chín?

Chín Cò không muốn Tư Cải bị bà Sáu cằn nhằn, anh hấp tấp nói một hơi:

– Dừng lại để ghim viền lưới vô thành đìa…

– Lấy gì ghim viền lưới, anh Chín?

– Buổi đầu bỡ ngỡ, tui bứt sậy bẻ gập lại ghim viền lưới và đôi khi bị sút. Về sau, học lóm người tại chỗ, tui lấy tre nhỏ ghim viền lưới chắc ăn như bắp. Và như vậy, toàn bộ cá trong đìa đều nằm gọn dưới mặt lưới…

– Anh Chín! Cá nằm gọn phía dưới mặt lưới thì mần sao bắt?

Tư Cải bụm miệng cười:

– Bộ anh nói giỡn sao, anh Chín?

Nghe Tư Cải hỏi có lý, bà Sáu cười theo con gái.

Căn nhà trở nên vui, dù trời khuya khoắt.

– Con cá như con người đều phải thở để sống. Do đó, cá ngợp thở thì cá ngoi lên mặt nước và khi ngoi lên mặt nước, cá đụng mặt lưới nên buộc chúng men theo thành đìa tìm chỗ hở chui lên mặt lưới. Đợi tất cả cá dưới mặt lưới lên trên mặt lưới, tui ghim lưới thứ hai dày hơn lưới trước nhằm ngăn không để cá có cơ hội chui trở lại đáy đìa…

– Ngộ hén, má!

Tư Cải ngạc nhiên.

– Bấy giờ, tui chỉ có việc kéo hai mí viền lưới trên bờ đìa và kéo lưới tới đầu đìa gom cá, bắt cá!

– Lạ đó, má! Con mới nghe lần đầu.

Hớn hở, Tư Cải nghe chuyện chụp đìa thú vị.

– Hay là, mai kia mốt nọ má gả con về Miệt Thứ để con thấm và ngấm mà hiểu thêm nhiều chuyện lạ nơi xứ sở đầm lầy!

Vuốt tóc con gái, ánh đèn đường hắt sáng qua vùng tối căn nhà. Giãy nảy, Tư Cải nũng nịu:

– Thôi, má ơi!

Chợt có tiếng ai đó ru con giọng buồn ngái ngủ:

“Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”

(Ca dao)

***

– Dạ! Thưa bà Sáu!…

– Nán chơi ít bữa nữa rồi hãy về, cháu!

Bà Sáu muốn cầm chưn Chín Cò ở lại bến Bình Đông.

– Dạ! Thưa bà Sáu! Cháu về cho kịp con nước và sẵn ghe xuôi U Minh Thượng.

Bùi ngùi, anh nói tiếp:

– Tuần sau, giỗ đầu ba của cháu!

Ngân ngấn mắt, bà Sáu giấu cảm xúc buồn rơi lệ. Bà nghĩ:

“Mới đó mà đã mười năm! Mười năm, biết bao chuyện đời chuyện người đổi dời và còn mất. Tội nghiệp thằng Chín, đến Miệt Thứ cha còn và giờ thì, con còn cha mất. Bà ngẫm không ra: sao trời cay nghiệt với người biết chết và chết thế nào đáng chết; ngược lại, sao trời dễ dãi với bọn lưu manh biết sống hèn và sống hạ thế nào để được ăn, được nói, được gói, được mở…? Câu chuyện cái chết về ba của Chín Cò do Chín Cò kể lại khiến tâm trí bà Sáu cứ lẩn thẩn buồn thương, tiếc nhớ!

Không buồn thương, tiếc nhớ sao được khi ba của Chín Cò vì nghĩa lớn đã hy sinh mạng sống cho những người đáng sống và cần sống cứu nước cứu dân. Một ngày tháng ba, sau chiến tranh Đông Dương (1970), đại đội trinh sát thuộc trung đoàn 33, sư đoàn 21 nhảy dù xuống căn cứ vùng Miệt Thứ (An Biên). Trước cảnh ngộ thập tử nhứt sinh của những người lãnh đạo cuộc kháng chiến, ba của Chín Cò cùng đồng đội liều mình thế thân gánh vác tai họa đã sử dụng “Lý đại đào cương” (Mận chết thay đào), điều và dẫn dụ đối phương sang hướng khác. Ba của Chín Cò, và tất cả đồng đôi đều chết trên cánh đồng lầy đầy lau sậy!”.

– Dạ! Thưa bà Sáu! Cháu có điều muốn thưa với bà, trước lúc cháu trở lại Miệt Thứ.

– Thì, cháu cứ nói!

Thoáng nghĩ, bà nghi nhưng không ngại:

“Hay là,… Hay là, chuyện cháu với con Tư!?”.

– Dạ! Thưa bà Sáu!…

Giựt mình, bà Sáu nói theo quán nghĩ:

– Thì, cháu cứ mạnh mẽ nói những gì trong lòng muốn nói!

– Chẳng giấu gì bà, sau ngày tạm an cư, ba cháu theo anh em trong xóm Bến Bạ gia nhập bộ đội như là trả món nợ ân tình của người Miệt Thứ đối với ba cháu buổi đầu hôm sớm mai. Và, ba cháu, dặn dò cháu chuyển gởi lại chiếc nhẫn vàng mà năm đó, lúc ba cháu ra đi, bà dúi nhẫn vào tay…

Buồn xo, không gian im lìm.

– Lẽ ra, cháu quay lại bến Bình Đông từ lâu nhưng rồi ba chết, cháu tang khó ba năm nên không dám gặp ai. Giờ mãn khó và sắp giỗ đầu, cháu xin bà nhận lại chếc nhẫn mà bà giúp ba cháu “phòng khi thắt ngặt, bất trắc”!

Tư Cải khóc, bà Sáu mắt đỏ hoe.

– Chín! Mình người nhà, cháu cất giữ như là kỷ vật của người cùng khổ thời bom đạn.

Rồi, bà giục:

– Cất đi cháu!

– Không! Không được, thưa bà!

Nài qua nỉ lại, sợ trễ ghe xuôi Miệt Thứ, Chín Cò xin bà Sáu cho phép Tư Cải cất giữ chiếc nhẫn nghĩa tình. Cực chẳng đã, bà thuận ý nhưng với điều kiện là sau giỗ, Chín Cò phải trở lại Bến Bình Đông vì bà có chuyện hệ trọng muốn nói với Chín Cò.

– Dạ! Thưa bà! Cháu sẽ trở lại.

Xách hương quả của má gởi cúng giỗ, Tư Cải bịn rịn đưa Chín Cò ra bến ghe về xứ.

“Miệt Thứ, ở phương nào, má?”.

“Xa lắm, con!”.

“Mà con hỏi làm chi?”.

Bà Sáu vặn vẹo, Tư Cải nín khe.

Nghi hoặc, bà Sáu muốn nói nhưng không nói.

“Hay là, con nó phải lòng… !?”.

Đắn đo và thầm nghĩ, bà vừa lo vừa vui khi nhận ra con gái bước vào ngưỡng xuân thì – cái ngưỡng nao nao và rạo rực khi chạm phải “người dưng khác họ đem lòng nhớ thương”.

Thường khi, thời gian trôi qua mau, rất mau. Bây giờ, Tư Cải có cảm giác tiếng thời gian gõ sao mà gõ chậm, rất chậm! Và, Tư Cải, không sao mà không nhớ câu hò nửa như đùa, nửa như thật của Chín Cò lúc hai đứa xuống bến tắm sông.

“Người ta bắt cá trong đìa

Còn tui muốn bắt em dìa mần dâu”!

(Ca dao)

Liếng thoắng, Tư Cải ứng tác đáp lại lời thiệt thiệt chơi chơi của Chín Cò:

“Em cười, cái đó còn lâu

Chưa tròn mười sáu mần dâu nỗi gì”?

(Ca dao)

Tư lự, Tư Cải hay ra bến sông ngồi ngóng trông từng chiếc ghe chài ngược nước từ Miệt Thứ về bến Bình Đông. Bà Sáu biết con gái đã phải lòng thằng Chín và bà, cũng trông thằng Chín quay lại.

– Sao lâu quá, anh Chín chưa về hả má?

– Thủng thẳng rồi nó về!

Như củng cố niềm tin, bà nói chắc cứng:

– Chín Cò đưa nhẫn con cất giữ, nghĩa là nó quay về!

Sông Sài Gòn lập đông, bến Bến Bình Đông se lạnh.

Chín Cò, quay về như đã hẹn. Và, anh cùng Tư Cải thuận tình:

“Thương nhau gặp khúc sông vơi

Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung”

(Ca dao)

Vậy là, bà Sáu Cơm Tấm cho phép Chín Cò nắm tay Tư Cải dắt xuống ghe chài về cái nơi “Xa lắm, con!”. Rồi, bà dặn con:

“Có chồng phải lụy theo chồng

Nắng mưa phải chịu, mặn nồng phải cam”

(Ca dao)

Ngày tàn đêm lụn Miệt Thứ, khói bom đạn mịt mờ đất chết.

Bến Bạ và cả vùng U Minh Thượng, trai tráng lần lượt rời nhà xa làng vào chiến khu.

An phận, vợ chồng Chín Cò những mong yên ổn sống nghề chụp lưới bắt cá tôm nuôi con, nhưng bất khả! Anh bơ vơ và lạc lõng giữa hai làn đạn: đàng ngoài, đàng trong và đàng nào thì anh, cũng là đối tượng hiềm nghi, có thể bị bắt hoặc bị giết.

Nhiều lần, Tư Cải gợi ý chồng vô chùa hay thánh thất hoặc tới cồn Phụng đạo Dừa… núp bóng màu áo tôn giáo, lây lất sống chờ buổi bình minh quê hương im tiếng súng. Dứt khoát, Chín Cò không chiều theo ý vợ dù rằng, anh rất thương vợ và con gái. Anh nói:

– Sống hay chết, tự mình chọn cách chết hay sống. Thà trốn và tránh cả hai đàng, chớ tui không thể mượn áo tu hành che thân phàm tục.

Chụp đìa, cá tôm nhiều vô số kể và chẳng biết bán cho ai, Chín Cò biểu vợ rọng cá tôm bằng cái ao đất đào trước sân nhà. Ngày, đàng ngoài tới bắt ăn. Đêm, đàng trong về có cái ăn chống đói. Với Chín Cò, thiện hay ác, bạn hay thù… đều phải ăn và cái ăn đôi khi giúp người ngộ ra mà thương cảm nhau nếu cái ăn đó biết đủ, không xuất phát từ động cơ tranh cướp.

– Vậy, miếng ăn là ông Trời sao, mình!

Cắc cớ, Tư Cải hỏi.

Chín Cò nhấn mạnh:

– Đúng vậy, mình! Hồi còn sống, ba dạy tui: “Dân dĩ thực vi Thiên”.

– Nghĩa là sao, ba?

– Nghĩa là, Dân coi miếng ăn là ông Trời!

Hiểu sâu ẩn ý chồng, Tư Cải làm theo những gì chồng muốn.

Thầm nghĩ, Tư Cải hy vọng:

“Hai đàng, đàng nào cũng ăn cá tôm từ sự nhọc nhằn đổ mồ hôi sôi nước mắt của chồng thì hẳn là họ bớt nghi kỵ mà bỏ qua, tha chết cho chồng!”.

Thuốc khai hoang chà đi xát lại, rừng tràm trơ trụi lá.

Chiến tranh!

Chiến tranh săm từng bờ sông vạt rừng; soi từng gốc sậy bụi lau… và anh, như con thú bị săn mồi trốn chui tránh nhủi, xàng tới xê lui… bởi anh, không muốn dính líu chiến tranh. Chín Cò thường nói với vợ:

– Ba chết thảm, tui đau từng đoạn ruột và buồn nát tâm can. Nhưng, không vì đau buồn mà tui nuôi hận trả thù. Tui không muốn giết người!

Tâm nguyện Chín Cò là một ngày nào đó, anh và vợ con mang nắm tro tàn cốt rụi của ba trở về cố hương: nửa rắc sông Đà Rằng, nửa rải núi Chóp Chài!

Chín Cò khóc!

Những hạt nước mắt chồng thấm vai vợ trên chiếc xuồng con đêm tối chẳng thấy bến bờ.

***

Miệt Thứ, cuối mưa đầu nắng.

Hố bom lâu ngày thành đìa và đìa, se mặt nước hanh hao báo hiệu mùa gió chướng đồng khô.

Hai Rằng Chài, quần vo sát háng, ngồi chò hỏ xỉa thuốc rê nhai trầu, lắng nghe từng tiếng cá ngớp, đớp mồi để nhận biết phân loại cá và đánh giá lượng cá trong đìa nhiều hay ít. Hai Rằng Chài, chăm bẵm ngó miệng đìa – cái miệng đìa do người dưới đất bất kể chết sửa lại sau khi kẻ trên trời lạnh lùng chụp bom xuống.

– Sao Hai? Bây thấy đìa cạn hay đìa sâu?

Chẳng đợi Hai Rằng Chài trả lời, má Tư Cải nhắc luôn:

– Cạn mần, sâu ngưng!

– Má nói vậy, chớ đã có cạn thì phải có sâu, nỡ đâu bỏ sâu lấy cạn?

Hai Rằng Chài – như cái tên gọi thành danh – học hỏi chụp đìa từ người chồng xấu số truyền lại: đìa cạn nhiều cá trê, cá lóc… đìa sâu thì lắm cá bổi, cá rô, cá thác lác… Và rồi, trải qua tháng năm kinh nghiệm chụp đìa nên Hai Rằng Chài chỉ liếc sơ mặt nước, ngó tăm cá hoặc thọt chưn xuống nước hay ôm thành đìa, áp tai lắng nghe tiếng cá thở… thì Hai Rằng Chài, biết chắc mẻm chất và lượng cá có mặt trong đìa.

Mẹ góa con mồ côi, má con Tư Cải sống đắp đổi qua ngày bằng cái nghề cha truyền con nối chụp đìa giữa thời chiến. Hiểu tánh con gái, má Tư Cải cười.

Hòa bình!

Rừng mọc chồi xanh và người tụ về nơi đất dữ hóa lành.

Nhớ và làm theo tâm nguyện chồng là dù cách trở hay khó khăn, thì nhứt định cũng phải mang nắm tro tàn của cha chồng quay lại cố hương. Má Tư bật khóc khi rắc nắm tro tàn thân xác cha chồng trở về các bụi trên sông Đà Rằng, trên núi Chóp Chài và má bùi ngùi: ngày rời quê, cha cùng con; ngày về quê, cha về còn con ở phương trời nào?

“Núi Chóp Chài nó cao lắm bấy,

Trông hủy trông hoài chẳng thấy người thương”

(Ca dao)

– Má! Má ơi! Núi non, ruộng đồng, biển cả… Quê nội con, đẹp và hùng vĩ quá!

Rực rỡ đôi mắt thiếu nữ miền đầm lầy Miệt Thứ sáng ánh điều thú vị trước cảnh thiên nhiên như bức tranh sơn thủy hữu tình. Má Tư lây niềm vui của con nhưng má trầm ngâm và lo lắng.

– Má! Sao đang vui hóa ra đăm chiêu? Hay là,…

Tưởng má buồn vì chưa tìm được thân xác ba đưa về xứ cùng ông nội, Hai Rằng Chài an ủi má:

– Rồi, cũng có ngày má con mình và bà con Bến Bạ sẽ tìm thấy ba!

Tựa vai con, má Tư trìu mến hỏi:

– Con biết vì sao ba của con đặt tên con là Rằng Chài không?

Chẳng đợi con trả lời, má Tư nói luôn:

– Rằng Chài là tên sông Đà Rằng và tên núi Chóp Chài. Con nhớ lấy và sống xứng với tên sông tên núi nơi quê cha đất tổ!

– Dạ!

– Lúc sinh tiền, ba con thương sông nhớ núi. Nhớ thương sông núi khôn nguôi!

Tiếng đại hồng chung dội núi vang sông.

Má Tư thủ thỉ bên tai Rằng Chài:

“Con thấy đó, dáng núi giống chóp của chài, nghề hạ bạc má con mình sống. Lúc má đã là vợ của ba, ba của con thường diễn tả quê chồng để má hình dung thế núi ngó như con rùa thò cổ ngắm giang sơn cẩm tú mà thiên hạ thường gọi Qui Sơn hay hòn Cổ Rùa! Ba của con còn nói ví như, sông Đà Rằng là rồng uốn lượn qua cánh đồng tràn sóng lúa thì núi Chóp Chài có khác chi rùa đem trường thọ và tài lộc giao long hợp quy tạo địa linh nhân kiệt đất Tuy Hòa. Hơn nữa, biển rộng sông Đà Rằng dài thậm thượt, núi Chóp Chài chẳng dính gì với dãy Trường Sơn – nó độc khởi giữa cánh đồng ruộng lúa bạt ngàn, biểu tượng như cây bẹo báo hiệu cho những đứa con ly hương khi trở về từ xa nhìn thấy biết là sắp tới nhà! Nhưng,…”.

– Nhưng, sao má?

– Nhưng, cổ rùa bị chặt và phá lấy đá thời chiến lẫn thời bình thì đâu còn thế Long-Quy kết thành khí thiêng sông núi!

Rồi, má Tư tặc lưỡi:

– May thay còn lại cái Chóp Chài!

– Là sao, má?

Sương núi như mây bảng lảng chiều duyên hải.

Má Tư không nói là sao, má chỉ nói:

– Mong người đời nay và mai sau, đừng vì bả lợi vinh mà vãi chài buông chóp!

TRẦN BẢO ĐỊNH

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *