Mấy tuần rồi lão Quang cứ đi ra đi vào, hết theo dõi thời tiết lại cầm điện thoại lọ mọ nhắn tin về việc tổ chức họp lớp cựu sinh viên. Vợ lão cũng thấy lạ. Xưa nay ngoài thú vui gặp gỡ hội bạn cùng lớp vỡ lòng ra thì lão chồng chưa bao giờ quan tâm đến việc họp lớp nào khác. Vậy mà bây giờ lão cứ đứng ngồi không yên. Có lúc lão còn lẩm bẩm “không họp lớp cũng về”.

Sự nôn nao của lão Quang làm cho vợ lão phải dò hỏi:
– Lần về họp lớp này có điều gì làm ông khó nghĩ phải không?
– Bà thì cứ hay suy diễn. Có gì mà tui phải khó nghĩ chứ.
Vợ lão mỉm cười:
– Thế ông quên mất là tui đã đi guốc mộc trong bụng ông gần 50 năm rồi à?
– Ờ… ờ thì cũng có chút chuyện…
– Chuyện gì? Lại bất đồng với mấy ông bạn xưa à?
Lão Quang ậm ờ:
– Tui thì có bất đồng với ai. Đây là một câu chuyện… của đá. Một lời hứa… bị tui cố tình lãng quên…
– Một câu chuyện của… đá? Một lời hứa của ông? Càng nghe ông nói tui càng không hiểu gì cả. Có bao giờ ông nói năng tinh tinh vậy đâu. Ông còn dấu tui điều gì phải không?
Lão Quang nói chậm rãi:
– Chuyện xảy ra từ 43 năm trước. Có thể bà chưa kịp nhớ ra nhưng với tui thì đó là món nợ cứ canh cánh trong lòng. Không trả không được bà ạ.
***
43 năm trước, Trường Đại học Sư phạm Vinh tổ chức các đoàn sinh viên thực tập cuối khoá. Trong khi nhà trường đang sắp xếp sinh viên vào từng đoàn thực tập thì Quang – một sinh viên khoá 19, đã lẳng lặng lên gặp cán bộ văn phòng khoa để thuyết phục bằng được việc cho Quang và Minh cùng về thực tập tại trường cấp 3 Lam Sơn tại thị xã Thanh Hoá. Đoàn thực tập bố trí cho sinh viên ở nhờ trong các hộ dân gần trường. Quang và Đào Lâm được phân vào ở nhà cụ Ân. Đậu Lan, Vi Hồng, Hà Thuyết và mấy anh em khác đều được bố trí ở gần quanh đó. Còn Minh với Nhã thì ở cùng trong một hộ dân chuyên bán hàng cháo trắng. Phía trước nhà có bãi cỏ xanh mướt đẹp như công viên. Nhìn chếch sang bên kia đường là sân vận động Lam Sơn có bờ tường cao vút, quyét vôi loang lổ bao quanh.
Khi vào nhận nhà ở, anh Tình con trai cụ Ân nói nhỏ với Quang:
– Hai anh em nghỉ ở cái giường ngoài phòng khách nhé. Trong nhà có ông cụ hơi khó tính nhưng đừng ngại.
Đây không phải là lần đầu ở trọ trong nhà dân với lại khi nhận thấy vợ chồng anh chủ nhà rất hiền lành nên hai đứa cũng đỡ lo ngại. Đặt tạm túi hành lí vào góc giường Quang cùng Đào Lâm mon men bước sang gian phòng có mấy thùng carton đựng phong bì đang gấp dở để làm quen với cụ Ân.
– Dạ, cháu chào cụ ạ.
Cụ Ân đang miệt mài ngồi gấp phong bì liền dừng tay, đẩy cái mắt kính lên nhìn hai đứa mấy giây, nhìn xong rồi cụ chỉ “ờ” một tiếng rồi lại cúi xuống tiếp tục gấp phong bì.
Đào Lâm lễ phép thưa:
– Dạ, để cháu phụ gấp phong bì giúp cụ ạ.
Cụ Ân lại dừng tay, đẩy cái mắt kính lên nhìn mấy giây rồi nói:
– Tưởng gấp phong bì là dễ à? Hai anh đi ra để tôi còn làm cho kịp giao hàng.
***
Khi được tiếp xúc với các gia đình, sinh viên trong đoàn thực tập sư phạm đều khá bất ngờ và thán phục về sự siêng năng chịu khó của người dân thị xã Thanh Hoá. Nhà nào cũng tìm cách tăng thu nhập bằng các nghề thủ công như làm mũ nón, vẽ guốc, gấp phong bì, sửa xe, đóng gạch, làm chổi lông gà… Họ rất cần mẫn, hầu như chẳng thấy ai ngồi không cả. Hoá ra chỉ có đoàn sinh viên thực tập là rảnh rỗi nhất. Nhiệm vụ của đoàn sinh viên thực tập gồm tập soạn giáo án; tập dạy trên lớp; tập quản lý học sinh; tập họp hành chuyên môn; tập làm quen với môi trường học đường… Nói chung là tập làm thầy. Chỉ có mỗi việc khi đến bữa thì không phải tập ăn mà ăn thật. Và đó cũng là việc mất nhiều thời gian công sức nhất của đoàn thực tập. Cứ tới giờ cơm, cả đoàn sinh viên lại rồng rắn nối nhau cuốc bộ đến khách sạn Lam Sơn cách chỗ ở khoảng 3 cây số. Ăn xong đi về tới nhà đã đói. Mỗi ngày đều đặn cuốc bộ hơn 12 cây số cho 4 lượt đi và về.
Nghĩ cũng lạ. Mấy năm học ở trường sư phạm, sinh viên chỉ quen ngồi chồm hổm, ăn trong nồi, uống trong thùng. Thậm chí cánh con trai mỗi đứa chỉ có một cái thìa, khi ăn cứ vậy mà xúc. Đến lúc đi thực tập thì ngày hai bận chễm chệ ngồi khách sạn, bát đũa bàn ghế mướt mát sướng như mơ. Kể cả cán bộ thị xã cũng đã có mấy ai được vào ăn uống liên tục tại khách sạn Lam Sơn? Oai đến thế là cùng! Nhưng trên đời này chẳng có cái oai nào là miễn phí cả. Được oai lúc ngồi ăn thì ít ra cũng phải hành xác cuốc bộ cho toè chân nát dép. Kỳ thực của cái sự oai bất ngờ ngoài dự kiến này là do đoàn thực tập không tìm được địa điểm đặt bếp ăn tập thể. Lỡ rồi nên trường sư phạm đành phải bấm bụng chi thêm tiền để thuê khách sạn nấu hộ. Bàn ghế, bát đũa, không gian sang trọng là của khách sạn. Chỉ có thức ăn trên bàn thì vẫn đúng theo tiêu chuẩn sinh viên. Một sự sang trọng bất đắc dĩ kéo dài 3 tháng cùng với kỷ lục đi bộ hơn ngàn cây số cũng đủ để đoàn sinh viên thực tập phải nhớ suốt đời.
Vào một buổi sáng sớm trời se lạnh, Quang dậy đánh răng rửa mặt ở khoảng sân sau nhà thì bất ngờ nhìn thấy một chùm đào bích nở muộn. Màu hoa hồng đậm, cánh kép ôm lấy những giọt sương li ti toát lên vẻ đẹp thanh khiết. Quang cất tiếng:
– Cụ ơi, hoa đào nở đẹp quá!
Cụ Ân xỏ dép bước ra, đẩy cái mắt kính lên nhìn mấy giây rồi gật gù:
– Đúng là đào bích cánh kép! Anh có thấy giống hoa này đặc biệt không?
– Dạ, đặc biệt lắm ạ!
– Anh nói rõ xem nào.
– Dạ, cháu thấy lớp cánh kép đều đặn, không xoè hẳn ra mà cứ chúm chím e ấp duyên dáng, màu hồng đậm mà tươi sáng, nhìn cánh hoa mướt như có tơ có tuyết ấy ạ.
Cụ Ân lại đẩy cái mắt kính lên nhìn Quang mấy giây rồi tiếp tục câu chuyện:
– Sinh viên mà biết thưởng đào như thế là quý lắm. Tôi kể cho anh nghe, cây đào này tôi đưa từ trên Cẩm Thuỷ về đây nuôi được ba năm rồi đấy. Dịp Tết nó ngậm nụ, giờ mới chịu nở. Chắc là anh có duyên với nó đấy. À mà anh mạng gì nhỉ?
– Dạ, ông nội nói cháu mạng mộc ạ.
– Thì ra là vậy! Anh chưa biết đấy thôi, cái giống đào quý này lạ lắm. Nở hoa lần đầu là cứ phải có người hợp duyên tương sinh xuất hiện thì mới chịu khoe sắc. Đào bích mang tính hoả, đúng là mộc sinh hoả.
Cụ càng nói càng hăng. Cái vẻ lừ đừ nghiêm nghị biến mất hẳn. Quang chỉ hiểu láng máng nhưng thấy cụ vui quá nên cũng hỏi đùa:
– Dạ thưa cụ, nếu cây đào không gặp cháu thì chẳng lẽ nó không chịu nở?
– Đúng rồi. Không nở là không nở! Nó sẽ ngậm cho đến khi nụ khô luôn đó. Người nhầm chứ cây không nhầm đâu. Phúc phận anh tốt lắm.
Bất giác Quang rùng mình, không biết vì buổi sáng gió lạnh hay vì câu chuyện duyên nợ với hoa đào.
Sau sự kiện cây đào bích đơm hoa khai nhụy lần đầu tiên, khoảng cách lạnh lùng giữa cụ Ân với Quang không còn nữa. Mỗi lần nói chuyện cụ đã bỏ qua thao tác đẩy cái mắt kính lên nhìn mấy giây. Và cũng từ đó cụ Ân sinh ra thói quen căn giờ pha trà để chờ Quang về đối trà đàm đạo. Vợ chồng anh Tình thấy cụ ngày càng vui vẻ hơn nên rất mừng. Có lần anh Tình nói nhỏ với Quang:
– Cụ vẫn làm ra bộ không cần ai nhưng cứ đến giờ là cụ lại ngồi ngó ra trông chú về đấy. Anh chị cảm ơn chú nhé.
– Dạ, em thấy cụ tình cảm lắm chứ không phải khó tính đâu ạ.
Đến ngày cuối tuần, Quang được về sớm. Vừa về đến cửa thì đã thấy cụ Ân ngồi chờ sẵn. Hai tay ôm cái bọc vải đỏ, mặt rạng ngời, cụ khoe:
– Có người bà con vừa mang pho tượng Phật từ trên Thạch Thành về tặng tôi.
Hai tay cụ run run mở lớp vải đỏ, mẫu thạch nhũ lộ ra trông giống hệt như pho tượng Phật. Quang nâng lên chiêm ngưỡng rồi nói với cụ:
– Nhũ đá thì thiên hình vạn trạng nhưng có hình dáng tượng Phật kiết già toạ sen bắt ấn thế này là cực kỳ quý hiếm.
Cụ Ân cười mãn nguyện:
– Có quý thì người ta mới mang về biếu tôi chứ.
– Dạ, đúng vậy. Pho tượng này có nguồn gốc từ Thạch Thành nên cháu bỗng nghĩ ra một vế đối cụ ạ.
– Vế đối? Anh cũng biết đối? Anh thử đọc ra xem nào?
– Dạ vế đối là: “Đá Thạch Thành nên hình tượng Phật”.
– Thạch là đá, thành là nên. Đá Thạch Thành nên hình tượng Phật. Hay quá! Quý hoá quá!
Lẩm nhẩm đọc đi đọc lại rồi cụ như bừng tỉnh:
– Ôi sơ ý quá, ta để trà nguội mất rồi.
Hôm sau, kết thúc buổi buổi lao động cùng học sinh, Quang về đến nhà thì cụ Ân đã chờ sẵn, hớn hở chỉ vào cái bàn nhỏ phủ tấm vải đỏ kê giữa nhà. Trên bàn là pho tượng Phật thạch nhũ. Một mảnh giấy màu hồng đặt bên cạnh ghi nắn nót: “Đá Thạch Thành nên hình tượng Phật”. Đây là vế đối của thầy giáo Trần Quang về pho tượng Phật này. Xin mời quý vị văn hay chữ tốt đối lại.
Quang thật sự bất ngờ, cứ tưởng nói mấy câu cho vui miệng, không ngờ cụ Ân lại trân trọng nâng lên thành câu chuyện đối đáp văn chương. Tuy nhiên Quang cũng rất vui vì hai tiếng thầy giáo này như một sự phong tặng thật đáng trân quý.
Nâng li trà thơm lừng, nhấp giọng rồi cụ Ân bỗng đột ngột chuyển hướng:
– Anh chọn bạn giỏi lắm!
– Dạ… ý cụ là…
– Ý tôi là nói về cô giáo Minh ấy. Chỉ nhìn thoáng qua là biết, tôi chưa bao giờ nhìn nhầm người đâu.
– Dạ, cháu với Minh là bạn học chung trường chung lớp từ thời cấp 3 đến giờ ạ.
– Ồ… thanh mai trúc mã quý lắm.
Quang thầm khen cụ. Thực ra Minh cũng chỉ mới ghé qua mấy lần để gặp Quang và chào hỏi cụ vài câu xã giao chứ chưa lúc nào trò chuyện. Cứ ngỡ là cụ chỉ biết làm cái việc gấp phong bì thuê và quan tâm đến mấy cây cảnh lặt vặt, không ngờ cụ còn tinh tường thấu hiểu mọi việc xung quanh. Chẳng có gì qua mắt được cụ.

Trong đoàn thực tập chỉ mỗi Quang có chiếc xe đạp cà tàng nên ngoài việc đến bữa đèo nhau đi ăn ra thì cứ rảnh là Quang rủ Minh đi chơi. Hôm thì đạp xe qua cầu Hàm Rồng, ngồi trên cầu ngắm dòng sông Mã cuộn chảy rồi hai đứa nghêu ngao mấy câu thơ Tản Đà “Ai xui ta nhớ Hàm Rồng”. Hôm lại đạp xe theo những cánh đồng lúa đang thì con gái rập rờn mướt mắt. Vừa đạp xe Quang vừa đọc thơ Xuân Diệu: “Em ngồi ríu rít ở sau xe. Em nói, lòng anh mãi lắng nghe…”.
Mấy chỗ loanh quanh đã đi hết, Quang bèn hỏi anh Tình chủ nhà:
– Từ đây đến Sầm Sơn có xa không anh?
– Cũng không xa lắm.
– Đi xe đạp được không ạ?
– Được. Anh cũng đạp xe đi Sầm Sơn mấy lần rồi mà.
Đối với Quang phần việc thăm dò chuẩn bị như thế là đủ. Sáng sớm hôm sau Quang phóng xe qua chỗ Minh. Nghe tiếng xe lạch cạch, Minh mở cửa ra hỏi nhỏ:
– Lại đi nữa à?
– Ừ đi nữa.
– Đi đâu?
– Sầm Sơn nhé.
– Xa không?
– Đi thì biết.
Thế là hai đứa leo lên chiếc xe đạp cà tàng thẳng tiến về hướng Sầm Sơn. Chẳng thể nhớ ra được quảng đường xa hay gần vì Quang và Minh cứ mãi mê ríu rít đủ chuyện trên trời dưới đất. Đạp xe không thấy mệt nhưng giữa đường Quang đổi chỗ cho Minh để ngồi sau. Ngồi sau mới được mơ màng luồn những ngón tay vào suối tóc mượt mà, được áp mặt vào bờ vai mềm mại, được giang tay ôm gọn vòng eo ấm áp, được hít hà mùi hương con gái.
Hai đứa đạp xe thêm một lúc nữa thì bãi biển Sầm Sơn bất ngờ hiện ra. Một vùng trời biển hoang sơ khoáng đạt vô cùng. Các triền cát đều trồng phi lao, cây đã cao quá đầu người. Quang đẩy chiếc xe vào vạt cây, mấy cành phi lao non tơ mượt mà cọ vào má mơn man nhồn nhột. Trên nền cát lá phi lao rụng xuống tạo thành một tấm thảm xôm xốp trải rộng mênh mang. Nhìn ra khơi xa có cảm giác mặt biển cao vồng lên căng tràn một màu xanh thẩm. Những cánh buồm nâu nhởn nhơ chấp chới như cánh bướm, vài con tàu màu trắng đang lừ đừ trên nền xanh của biển. Bên bờ biển phẳng lì có nhóm ngư dân cứ mãi miết gồng mình xoăn tay kéo mẻ lưới rùng. Dọc theo mắt lưới đã lấp loáng ánh bạc của cá.
Hai đứa cầm tay nhau chạy ào xuống biển. Quang chỉ tay ra Mũi Kẻ Cổ Rùa, nơi có hòn đá sống trâu nhấp nhô khi thuỷ triều xuống thấp:
– Minh có biết câu chuyện về hòn đá sống trâu đó không?
– Giờ Minh mới lần đầu tiên đến đây thì làm sao biết được chuyện gì.
– Chuyện về cái ông Tản Đà đệ nhất ngông ấy. Có lần lão ta buộc ngang lưng ve rượu và lưỡi dao rồi bơi một mạch ra cái hòn đá xa tít mù ấy làm mọi người sợ chết khiếp.
– Thế lão ngông ấy bơi ra đó làm gì?
– Lão bơi ra để nhậu một mình, khỏi phải nghe mụ vợ cằn nhằn. Dùng mũi dao cạy mấy con hàu rồi lão ngửa cổ tu rượu ừng ực, miệng nhai chóp chép món hàu sống vừa ngọt vừa đậm đà hương biển.
– Eo ơi kinh quá!
– Nghe nói lão ngông ấy còn tiếc ngẩn vì quên mất bịch muối tiêu chanh nên hơi nhạt miệng.
– Này, có bịa không đấy?
– Ai dám bịa với người yêu! Kể theo giai thoại của cụ Nguyễn Tuân đấy.
– Ồ thế là bịa từ gốc rồi nhé.
Tiếng cười giòn tan trên mấy con sóng bạc đầu, Quang khoác vai Minh đi dọc bờ biển. Bỗng Minh thấy cái vỏ ốc biển khá lớn. Nhặt vỏ ốc rồi áp thử bên tai, Minh reo lên:
– Ôi tiếng sóng biển, có cả tiếng rì rào của gió nữa. Quang nghe xem này.
Quang cầm vỏ ốc để bên tai, mỉm cười nhìn Minh:
– Nghe cả giọng nói thì thầm nữa.
– Có cả giọng nói thì thầm? Thật không đó?
– Thật, nghe rõ mà. Đấy lại thì thầm “em yêu anh lắm”!
Biết bị Quang lừa, Minh vừa khoát nước vào người Quang vừa cười khúc khích: “Cho chừa cái tật chuyên lừa người khác”!
Dọc theo bờ biển, xen kẻ giữa những bãi cát vàng trải rộng là mấy bãi đá tự nhiên với vô số đá hòn, đá tảng được sóng gió đẽo gọt nhào nặn qua hàng trăm triệu năm, tạo nên muôn vàn hình dáng kỳ thú. Khi đàn sóng lừng lững ùa vào thì cả bãi đá như những chàng trai đồng loạt ưỡn ngực đón nhận. Sóng tung mình lên đá, hoá thành vô số bông hoa sóng trắng xoá. Tia nắng xuyên vào tấm màn bụi nước làm hiện lên chiếc cầu vồng bảy sắc thấp thoáng kỳ ảo. Tiếng sóng làn khàn hoà với tiếng vỗ thậm thịch từ vách đá phối thành bản nhạc trầm hùng bất tận của biển cả. Đắm mình trong cảnh tượng thiên nhiên rợn ngợp, Quang và Minh cùng suy ngẫm về cuộc đời và tình yêu. Sóng chỉ hoá thành tràng hoa rực sáng khi gặp được bờ vai của đá. Đá chỉ có ý nghĩa khi trở thành trụ đỡ cho sóng trổ hoa. Không có ngọn sóng và vách đá thì biển cả chẳng còn nỗi niềm sâu lắng. Con người cũng chỉ trưởng thành khi biết yêu và dám đón nhận thử thách. Không có tình yêu thì con người sẽ trở thành loài vô lí nhất thế gian.
Đối với con người thì dường như đá núi sinh ra là để đánh thức bản lĩnh và giúp con người chiêm nghiệm tìm kiếm sự bình yên trong cuộc sống xô bồ nhiễu loạn. Quang tin rằng, giữa bờ đại dương và vách đá núi Trường Lệ luôn tồn tại một con đường vô hình nào đó chỉ dành cho những ai có duyên nợ và dám bước lên để được chạm tới sự kỳ bí của một vùng Sầm Sơn linh thiêng. Không thể cưỡng lại được sức hút từ biển trời và sự thôi thúc mời gọi nơi bãi đá kỳ vĩ, Quang lại nắm chặt tay Minh tìm cách bước lên con đường như chưa hề có dấu chân người để cùng chinh phục cho thoả nỗi hiếu kỳ của tuổi trẻ. Cả hai đứa khi còn ở quê vốn là dân đi rừng rất thành thạo nên việc leo trèo bờ đá chỉ là chuyện bình thường. Leo đến gần chỗ có những khối đá mang hình thù kỳ thú nhất, Quang bất chợt nhìn thấy hòn đá lạ, trông giống như một hài nhi đang ngủ vùi. Quang và Minh định bước tiếp nhưng có cảm giác ai đó níu bàn chân lại. Quang lùi mấy bước, hòn đá hài nhi vẫn nằm im lìm. Một ý nghĩ loé lên trong đầu Quang, hay là nhặt hòn đá lạ này về cho cụ Ân làm tiểu cảnh dưới gốc cây bích đào? Quang liền cúi xuống bê hòn đá hài nhi lên. Hòn đá âm ấm như có hơi người. Leo qua mấy khối đá nữa thì Minh bỗng chỉ tay về phía trước rồi thốt lên:
– Ôi, hai khối đá kia sao trông giống hai hình người thế!
Quang nhìn theo cũng phải công nhận:
– Ừ, giống thật! Một hòn giống như người đàn ông còn hòn kia thì rất giống phụ nữ có mái tóc xoã xuống.
Hai đứa tiến lại gần hơn, bất giác cảm thấy rất khác lạ. Quang buột miệng:
– Trông giống như một cặp đôi yêu nhau rồi hoá đá.
– Không, có vẻ giống vợ chồng hơn. Hai vợ chồng đá đang ngóng trông điều gì đó thì phải.
Nghe Minh nói cũng có lí, sẵn có hòn đá hài nhi trên tay, Quang đặt vào giữa hai khối đá hình người. Thật bất ngờ, hòn đá hài nhi nằm gọn lỏn, vừa vặn như trời sinh ra vậy. Ngắm lại càng thấy đúng là giống hai vợ chồng và đứa con thơ. Một lúc sau Quang định gỡ hòn đá hài nhi ra để mang về nhưng dường như có vòng tay vô hình đang ôm chặt, giữ lại không làm sao nhấc ra được. Thấy vậy, Minh vỗ nhẹ vào hòn đá hài nhi rồi nói với Quang:
– Vạn vật đều có linh hồn. Có lẽ trời đất run rủi cho chúng mình tìm được đứa con thất lạc về cho vợ chồng người đá. Dường như đá vẫn còn lưu luyến duyên nợ với kiếp người.
Quang xúc động quỳ xuống, xoa đầu hòn đá hài nhi rồi thì thầm với vợ chồng người đá:
– Hoá đá rồi mà cha mẹ vẫn chờ con! Hôm nay gia đình của đá đã đoàn tụ rồi nhé. Nước mắt của đá sẽ không còn phải chảy dài trên mái núi Trường Lệ nữa.
Trước khi rời gia đình đá núi, Minh nhẹ nhàng để cái vỏ ốc vào lòng hòn đá hài nhi, giống như người ta trao món đồ chơi cho đứa trẻ.
Hôm đó Quang và Minh trở về đến thị xã khoảng 4 giờ chiều. Quang kể với cụ Ân về câu chuyện hòn đá hài nhi và vợ chồng người đá. Nghe xong cụ lặng người, thần sắc bỗng thay đổi giống như một tiên ông giáng thế. Mấy phút sau cụ mới cất tiếng:
– Trường Lệ – nước mắt chảy dài. Con còn nhớ đường lên chỗ người đá nữa không?
Quang khá bất ngờ vì cách xưng hô khác lạ của cụ Ân nhưng vẫn trả lời như phản xạ:
– Dạ, không có đường, cháu cùng với Minh chỉ đi theo cảm nhận và hình như có sự dẫn dắt thì phải. Khá cheo leo nhưng lại dễ đi cụ ạ.
– Nghe ta dặn đây, con hãy giữ kín chuyện này. Đúng ngày này sau 36 tuần trăng, con hãy trở về đây và tìm đến chỗ gia đình người đá. Nếu gia đình người đá vẫn còn tại vị thì đó là sự hiển linh của trời đất để cứu nhân độ thế. Núi đá Trường Lệ sẽ không còn nước mắt chảy dài mà là nơi dành cho cư dân thập phương đến cầu phúc cầu tự. Ta phải gắng sống để chờ đến ngày đó.
Nghe cụ Ân nói dù Quang chưa kịp hiểu hết nhưng vẫn gật đầu lia lịa:
– Dạ con hứa sẽ làm theo lời cụ. Đúng ngày này của 3 năm sau con sẽ trở về đây ạ.
Quang nhìn lên tờ lịch trên vách tường và chỉ nhớ hôm ấy là ngày 2.3.1982.
Kết thúc đợt thực tập, sinh viên trở về trường ôn thi tốt nghiệp. Sau tốt nghiệp, những giáo viên trẻ “tung cánh muôn phương”. Tuy nhiên cuộc sống khốn khó của những năm 80 như một con quái vật tàn ác. Nó ăn mòn cuộc sống. Nó nhấn chìm nghề giáo vào nỗi lo cơm áo. Bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu lời hứa đã trôi tuột vào quên lãng.
Tại thành phố biển phương Nam xa lạ, Quang và Minh lập nghiệp với “hai bàn tay trắng” chỉ biết dựa vào sức mạnh của tình yêu chân ái để cùng nhau ngụp lặn, chống chọi với muôn vàn khó khăn. Và từ tình yêu chân ái đó vợ chồng Quang Minh được đón nhận niềm hạnh phúc kỳ diệu nhất cuộc đời: con trai đầu lòng chào đời đúng ngày 2.3.1985. Có đứa con bé bỏng, niềm vui mừng hạnh phúc luôn tràn ngập căn phòng trong khu tập thể giáo viên. Niềm hạnh phúc trở thành động lực để hai vợ chồng cùng chèo chống vượt qua mọi sóng gió.
Ngẫm lại, ngày mồng 2 tháng 3 phải chăng đó là ngày định mệnh hay chỉ là sự trùng hợp? 3 năm trước vào ngày này Quang và Minh tìm được hòn đá hài nhi về cho vợ chồng người đá và cũng là ngày mà Quang đã đóng đinh lời hứa sẽ trở về. Tuy nhiên tất cả những biến cố, điều kiện hoàn cảnh mà vợ chồng Quang phải trải qua đã trở thành nguồn lý sự hoàn hảo để tự bào chữa, tự biện minh cho sự lãng quên lời hứa.
***
Cuộc đời trôi nhanh như một giấc mơ với đủ thứ hỉ nộ ái ố. Đến hôm nay, sau 43 năm ra trường, lớp sinh viên trẻ trung thuở ấy giờ đã ngấp nghé tuổi “thất thập”. Một số bạn bè cùng trang lứa đã lặng lẽ trở thành người thiên cổ thì anh chị em mới có dịp bàn nhau trở về hội ngộ tại Sầm Sơn, nơi có ngọn núi Trường Lệ ghi dấu biết bao chuyện của người, chuyện của đá và những thiên tình sử bên bờ đại dương. Âu đó cũng là cơ duyên mời gọi từ một vùng đất giàu linh khí của xứ Thanh huyền thoại.
Lão Quang nhớ lại lời hẹn ước với cụ Ân: “Sau 3 năm nữa con sẽ trở về đây ạ” mà lòng dạ càng xốn xang. Lão Quang cứ tự dằn vặt trách cứ, tại sao suốt 43 năm qua mình lại trở thành người vô tâm, thất hứa? Rồi lão lầm rầm tạ lỗi: “Cụ Ân ơi! Chắc là cụ đã từng ráng sống để chờ cho được 3 năm, rồi 4 năm, 5 năm… Cụ chờ đợi trong sự lãng quên mất hút của cháu. Giờ đây, cháu chỉ biết nguyện cầu cho hương linh của cụ được siêu thoát, yên lòng ở chốn vĩnh hằng và tha thứ cho sự bội bạc lãng quên của cháu. Vợ chồng cháu cùng các bạn đang chuẩn bị trở về theo lời cụ dặn, trở về với câu chuyện của đá.
Tháng 10.2025
TRẦN VINH

















