Truyện ngắn Từ Phạm Hồng Hiên: Dừng lại bến sông

1-

VHSG- Hài cốt dưới nấm mộ hoang còn lại trong khu vườn nhà tôi, rồi thì thân nhân của người quá cố ở tận Quảng Ngãi cũng lần mò tìm đến và bốc đi. Đã hơn nửa thế kỷ rồi, những đứa trẻ sinh ra vào thời đó giờ đã lên hàng lão. Thực hư thế nào quả không dễ tường minh, bởi chính tôi là người gần gũi nhất mà cũng còn ấm a ấm ớ. Nhưng rồi lại nghĩ, ai mà chẳng cần sự an ủi và bằng lặng cho tâm hồn. Thì thôi, nếu như có sự nhầm lẫn nào đó, bao nhiêu lỗi lầm tôi xin nhận hết về phần mình.

Nhà văn Từ Phạm Hồng Hiên

Người nhà kẻ xấu số tìm đến xã Sơn Phú của tôi, lân la dò hỏi chỉ với một bằng chứng duy nhất là lá thư viết tay đã phủ màu thời gian, với nội dung vỏn vẹn:

Kiến Hòa: ngày 12 tháng 10 năm 1964

“Con hiện đang ở xã Sơn Phú, quận Giồng Trôm, tỉnh Kiến Hòa.”

Con

Phạm Hữu

Bên quán cháo lòng bà Tám Thiện ngay đầu chợ xã, người ta xúm đen xúm đỏ quanh một bà lão, hai người phụ nữ và ba người đàn ông cùng đi trên chiếc Inova 7 chỗ, với nhiều sự cảm thông chia sẻ hơn là hằn thù oán hận. Bởi họ là thân nhân của người lính Cộng hòa, và chắc hẳn anh ta đã từng gieo rắc thương đau cho không ít gia đình người dân ở quanh đây. Nhưng cũ xưa quá rồi, ai hơi đâu oán hờn làm gì nữa.

-Sao trễ quá vậy? Gia đình mình không thể đi tìm sớm hơn được sao?

-Nghèo khó quá, tiền bạc đâu mà đi cậu. Lại nữa, chúng tôi rất sợ bởi chú  tôi là lính Cộng hòa…

Giọng bà con miền ngoài nói thật khó nghe-không, phải nói là nghe được, nhưng… không hiểu gì cả! Tôi phải bảo chị phụ nữ lặp đi lặp lại đến ba lần mới hiểu hết ý nghĩa câu nói của chị.

-Sao không liên hệ với những nhà ngoại cảm hỗ trợ, ngộ nhỡ như  không gặp được tôi thì sao?

-Chúng tôi không dám làm phiền đến họ! Bởi, như đã nói với anh…Trong khi đó, họ thì lại…

Thật may mắn cho những người bạn miền Trung, bởi hồi còn sống ba tôi vẫn từng nói về lai lịch của hai nấm mộ hoang trong khu vườn nhà. Thật ra ba tôi nào có biết gì đâu. Mọi thông tin liên quan tới chúng, đều do người bạn mới quen sau này của ba kể lại, từ khi gia đình tôi hồi cư về đây.

Nhà tôi tọa lạc trong khu vườn dừa cặp dòng Hàm Luông. Giờ gọi vườn chớ mấy năm sau Đồng khởi, cả nhà tôi tản cư lên Sài Gòn và chẳng bao lâu sau nó biến thành vạt rừng hoang. Nghe nói, bộ đội và du kích địa phương vẫn thường trú đóng trong ấy và dùng bến nước kề bên để liên lạc qua lại phía cù lao Ốc, cù lao Long Thành… Hồi còn sống ba tôi vẫn hay nhắc nhớ, đến đời của tôi nữa  tại quê xứ này là đúng năm thế hệ, tất nhiên đến mấy đứa con tôi sau này nữa là thế hệ thứ sáu. Cụ sơ đặt tên con nghe thật ngộ nghĩnh, khác người. Bốn người con của mình, ông đặt lần lượt là Dừng Lại Bến Sông. Cụ cố của tôi là người cuối cùng-Năm Sông hay Hương sư Sông cũng là một. Giờ thì khang trang trù phú, chớ mấy năm sau chiến tranh vẫn còn xơ xác điêu tàn bom đạn. Sau ngày đất nước thống nhất ba tôi đùm túm dắt cả nhà hồi cư. Chiến tranh dai dẳng, bà con xóm làng xiêu lạc mỗi người một phương. Ngày về, ba tôi lấy làm lạ khi thấy ngay ở đầu Xẽo Trâm cuối khu vườn nhà xuất hiện hai nấm mộ đất. Dò hỏi chòm xóm xung quanh cũng chẳng ai tỏ tường, mỗi người “hư cấu” một kiểu. Cho đến ngày kia, có ông lão câu tôm cập xuồng ghé vào nhà tôi xin nước ngọt để trữ dưới xuồng…

2-

Không ai biết tên thật của ông là gì, mọi người quen gọi là ông Năm Câu. Con gọi đây là bác Năm nhen- Có lần, nhân ngày nghỉ học ở nhà, ba tôi nói với tôi như vậy, khi có ông lão cùng với con chó Cò từ bến sông bước lên nhà xin nước mưa để dùng.

Về nhân thân cùa bác, chắc có lẽ vài ba người trong tiểu đoàn chủ lực 56 của tỉnh mới rành. Ba tôi nói. Bác người bên Minh Đức, từng một thời nóp với giáo đi theo tiếng-gọi-mùa-thu. Sau Đồng khởi, có lẽ vì buồn bã trước tình cảnh éo le của mình, bác Năm quyết định xuống xuồng câu sống cuộc đời sông nước rày đây mai đó.

Thời loạn lạc nhiễu nhương mà con, ai hay phận nấy. Thế nên vì sao bác không đi tập kết, vì sao bác ở lại và để làm gì, chỉ mình bác biết mà thôi. Nhưng người biết rõ tiểu đoàn 56 chủ lực của tỉnh hiện đóng ở đâu dọc đôi bờ Hàm Luông này trong những năm tháng ấy chính là bác.

Bác vui mừng, khi người con trai của bác được cài vào lính nghĩa quân quận Hương Mỹ để hoạt động binh vận chưa được bao lâu, thì gia biến xảy ra. Bác ngậm ngùi đưa tiễn con đến nơi an nghỉ cuối cùng, với tấm áo quan phủ lá cờ hình quẻ ly cùng lời hứa hẹn về những đồng tiền tử tuất. Do liên lạc nhầm lẫn, kẻ âm lịch người dương lịch nên mới xảy ra chuyện oan trái. Vào đêm tối trời rủi ro ấy, anh đã hi sinh do bị cối tám hai nã cấp tập vào đồn Hương Mỹ, trong khi anh vẫn đang còn ở trong đó! Thật đáng thương cho cha con bác, bên trong người con chưa kịp hành động gì thì bên ngoài, người trực tiếp tổ chức cho anh cũng đã sớm hi sinh. Bác mang nặng niềm riêng và tuổi già của mình bước vào cuộc phiêu bồng sông nước từ dạo đó, với mong mỏi được gặp những cựu binh ít ỏi năm xưa còn lại và tìm cách phân minh, giải oan cho đứa con bất hạnh.

Thì ra trái đất vẫn tròn, bác mừng rỡ khi tình cờ gặp lại Sáu Huấn, đứa em kết nghĩa hồi chín năm kháng chiến, giờ là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 56. Bác trình bày hoàn cảnh éo le của mình. Câu chuyện đứt ruột được ghi nhận, và Sáu Huấn hứa với bác Năm sớm muộn gì các đầu mối sẽ được lần ra để minh oan cho người con. Riêng nguyện vọng cuối cùng của bác không được tiểu đoàn chấp thuận vì tuổi tác.

-Anh Năm cứ tiếp tục việc câu kéo của mình như xưa rày vầy đi. Nghịch cảnh gia đình, tuổi tác và công việc của anh trên khúc sông này sẽ giúp cho anh em tụi em nhiều việc không kém phần quan trọng đâu.

Từ đó trở đi, bác Năm như trẻ lại và càng gắn bó nhiều hơn trên quãng sông này. Bộ đội chủ lực lẫn du kích địa phương mặc nhiên xem bác là cán bộ mật giao tuyệt vời của mình, để rồi từ đó liệu đường tiến thủ.

Có một đận, từ vùng giải phóng Cái Mít-Thạnh Phú Đông, bác phải bơi xuồng đi tiền trạm ngược lên tận Sơn Phú ngày mấy bận để thu thập tin tức. Đó là một trong những đợt bác phải đi xa và lâu đến như vậy để phục vụ công tác cho tiểu đoàn…Một ngày sau trận chiến thắng Sơn Phú, tiểu đoàn 56 nhanh chóng bí mật rút về mật khu Thạnh Phong, tiếp tục tuyển quân và vào đợt huấn luyện mới. Cỏ cây sông nước chưa kịp gột rửa và thay tấm áo mới, thì không lâu sau đó tiểu đoàn 41 Biệt động quân và đám lính Bảo an trên tỉnh lỵ tràn xuống càn quét…Và chính lần này bác Năm đã gặp người lính Cộng hòa đào ngũ.

Chúng đến để tìm diệt tiểu đoàn 56 chủ lực, nhưng hóa ra như đánh vào ngôi thành trống. Suốt mấy ngày trời, trước sự chủ động quấy nhiễu thoắt ẩn thoắt hiện của du kích địa phương, chúng chỉ tổ làm tiêu phí đạn dược và làm trò cười cho cây cỏ chim muông.

Du kích ở đây bác thuộc mặt, thuộc tên từng đứa. Cho nên trước thi hài với áo xống chẳng khác gì của những người nông dân sau cuộc càn quét bốn ngày ấy, bác không khó để nhận ra anh ta là ai. Bác đã tự tay an táng cho anh ta, cạnh nấm mộ của người chiến sĩ giải phóng, mà khi rút đi, tiểu đoàn 56 hôm trước đã không kịp lấy xác.Và bác nói với ba rằng ngôi mộ bên trái là của người lính Cộng hòa đào ngũ, cùng với ba khẩu súng đã được bó chung lại. Còn việc anh ta có ý định về với cách mạng hay không thì chỉ có trời đất biết. Hôm bàn giao ba khẩu Garand cho đội du kích bác Năm nói vậy. Và với điều kiện được trang bị tân tiến đến chừng đó, thì rất có thể  đây là người của đám Biệt động quân.

3-

Lỡ mang danh là người lính Cộng hòa, nên từ lúc hồi cư về quê cũ ba tôi rất buồn và mang đầy tâm trạng. Suốt ngày chỉ cặm cụi khai hoang phục hóa vườn tược, để chuẩn bị đối phó nạn đói đang lăm le uy hiếp và thỉnh thoảng đọc mấy cuốn sách triết học mà ông đã cố giấu lại được. Người bạn tâm giao duy nhất của ba tôi thời đoạn ấy chính là bác Năm Câu. Kẻ trên bờ, người dưới sông, nhưng cứ vài ba ngày  tôi lại thấy hai người rủ rỉ rù rì chuyện trò bên xị rượu đế ở góc vườn.

Nếm trải cay đắng nhiều rồi, nên giờ đây ba tôi rất ngại giao tiếp với mọi người. Ví như giữa ông với người đồng nghiệp cũ bị sa thải năm nào, vì đổ bể vụ gian lận một hai điểm gì đó trong khóa thi tú tài, cho con của tay quận trưởng quận Ba-Sài Gòn. Đang lông bông đàn đúm chơi bời chưa biết sẽ làm gì, bỗng đâu ông ta gặp luồng gió mát. Ông ta chụp vội cái nón tai bèo anh hùng lên, để những mong mình cũng sẽ sớm trở thành anh hùng. Là đồng nghiệp với nhau, nhưng ông ta bỗng lạnh lùng và xa lạ với ba tôi như chưa từng quen biết.

Tôi là giáo sư Đinh Văn Hùng dạy triết ở trường Chu Văn An đây, bạn không nhớ tôi sao?

Ba tôi có ác hiểm với ai bao giờ đâu. Hàng ngày ông vẫn dạy tụi học trò nghiêm ngắn đó thôi. Nỡ lòng nào ông ta lại đi nặng lời, ngược đãi cho thêm tội tình. “Giáo sư biệt phái” là cái danh xưng dữ dằn ngoài ý muốn người ta gán cho các thầy và bị buộc phải mặc áo nhà binh, chớ nghề nghiệp chuyên môn của ba là dạy học kia mà. Năm khi mười họa, thấy những người mặt trắng thư sinh giống ba, lóng cóng đeo quân trang quân dụng vào những dịp nào đó, thật chẳng khác gì con cá đang chết dở trên cạn! Đi chiến dịch gì mà bộ dạng như vô công sở, chẳng khói lửa sa trường, áo quần cũng không bám chút sình lầy bụi bặm, nói chi tới khét mùi thuốc súng hay thề nguyền lấy da ngựa bọc thây. Loại lính này nghe bom rơi đạn nổ, bỏ chạy cũng chưa chắc biết đường mà chạy! Hù dọa đám con nít lem luốc đang khóc nhè thì may ra. Học trò của ba, có đứa bỏ trường xuống rừng theo cách mạng  làm sao ông biết được, hay có đợt cả đám bị lùa vô lính ba cũng đành nghẹn ngào bất lực. Để rồi sau đó lặng buồn, mỗi khi nhìn xuống những dãy bàn học vắng bóng những đứa học trò một thuở mình yêu thương.

Vậy mà…Một ông giáo, có thể chia “cháo phổi” của mình ra, cùng lúc cho năm bảy chục thậm chí là một trăm đứa học trò, chớ tài ba gì có thể giải quyết hai việc cùng một thời điểm ở hai nơi khác nhau! Thi kinh thư kinh, Kant, Hegel hay Bách gia Chư tử…tất cả đều là mớ giấy lộn lăng nhăng, sặc mùi phản động. Chất hết lên xe!Không thể chịu đựng nổi những phiền toái vô lý, lúc nào cũng luôn bủa vây từ người láng giềng cũng là đồng nghiệp cũ đem đến ; ba tôi đành bán đi căn nhà mặt tiền gần chợ Rạch Ông, sau bao nhiêu năm dành dụm chắc mót với giá năm cây vàng rồi dắt díu cả nhà về quê.

Về ngôi- mộ- bên- trái có lần nghe ba kể, do còn nhỏ tuổi, phần lại vô tâm nên tôi cũng chẳng màng. Từ tai bên này ghé qua tai bên kia, rồi dội trở lại lởn vởn trong cái gáo sền sệt như bụm cháo heo ấy, nó âm thầm quay vòng vòng suốt hàng chục năm trời, như đang trong chế độ chờ của cái máy tính! Cho mãi đến sau này,  khi có chủ trương qui tập hài cốt liệt sĩ, tôi đành giấu biệt đi sự lưỡng lự bất cập của mình. Ỷ lại vào nguồn cội đất đai của dòng họ và tỏ ra rành rẽ, tôi cả quyết với những người làm nhiệm vụ, một trong hai ngôi mộ kia chính là của anh chiến sĩ giải phóng quân. Còn bên trái đối với bác Năm từ dưới sông đi lên, hay bên trái của ba từ trên bờ đi xuống, tôi biết thực chứng với ai đây, khi từ lâu bác Năm Câu đã biệt mù bóng chim tăm cá. Người tiểu đoàn trưởng năm nào, trước ngổn ngang một núi công vụ, cho đến lúc về hưu bỗng giật mình hốt hoảng khi vụt nhớ lại ông anh, cũng là người ơn cũ. Ông đã lặn lội ngược xuôi đi hỏi mọi người khắp đôi bờ… Ai cũng biết, hoặc nghe nói về ông Năm Câu, nhưng hỏi giờ ông ở đâu thì họ chịu.

Còn ba tôi, hơn một năm sau khi bác Năm Câu biệt tích, sáng hôm ấy ông ôm đất đắp nền nhà cứ tưởng đâu đã thoát chết, khi bất ngờ tảng đất trước bụng nứt toác ra lồ lộ đầu viên đạn vàng khè cỡ cái trứng gà, chỉ thẳng lên như tố cáo ông là tên phản động đội lốt trí thức! Chiều đó sau khi trấn tỉnh lại, một lần nữa ba lại nhẹ nhàng nâng tảng đất lên như hồi ban sáng đã âu yếm đặt nó xuống. Âu yếm như bồng đứa con cưng của mình đưa nó xuống xuồng…Và chính nó đã kết án tử ba bằng âm thanh chát chúa ai oán, xé lòng ngay trên dòng Hàm Luông. Nước giữa dòng chiều hôm ấy, nào ai biết nó đang trong hay đang đục.

5-

Đến tuổi quân dịch, để tạo vỏ bọc hợp pháp kiên cố và nhất là để được ở lại vùng mình quen thuộc, chú Phạm Phương yêu cầu tôi đăng vào binh chủng Biệt động quân, vốn chỉ hoạt động chủ yếu trên chiến trường miền Trung.  Khi xong khóa học ở Đồng Đế và tiếp theo là khóa sình lầy nữa ở Huấn khu Dục Mỹ, tôi trở ra với cái lon trung sĩ. Nhưng thật bất ngờ và rủi ro, thay vì được tự chọn đơn vị như thông lệ xưa nay, thì lần này tôi bị bổ sung về tiểu đoàn 41 Biệt động quân mới thành lập, đang tham chiến tại tỉnh lỵ Kiến Hòa. Cầm tấm sự vụ lệnh với bảy ngày phép trong tay, tôi quày quả quay về Quảng Ngãi trước khi đi Kiến Hòa trình diện. Với chừng ấy thời gian tôi vẫn chưa thể liên lạc với chú Phạm Phương được, trong khi ngày đi thì đã cận kề. Nhưng từ lâu, tôi được biết ở đó là cái nôi của phong trào cách mạng nên cũng khá an tâm. Vấn đề là địa điểm và thời cơ nào thuận lợi để tôi thoát ra vùng giải phóng mà thôi.

Và tôi không phải chờ đợi lâu sau khi về Kiến Hòa được chừng mười ngày. Có tin từ  bên ban ba hành quân rò rỉ, tiểu đoàn sẽ  hành quân tiễu trừ Việt cộng tại  các vùng trọng điểm quận Giồng Trôm: Nhơn Thạnh, Phước Long hoặc Sơn Phú…tùy thuộc vào tin tức tình báo. Lần này tiểu đoàn 41 Biệt động quân sẽ phối hợp với Bảo an tỉnh và Nghĩa quân Giồng Trôm, tiến hành cuộc tảo thanh tiểu đoàn chủ lực 56 của Việt cộng, mà mới nửa tháng trước, tại Sơn Phú nó nện thằng  3/10 sư đoàn Bảy bộ binh một trận xiểng niểng. Khả năng tiểu đoàn 41 trở lại Sơn Phú phục thù là rất lớn.

Cũng may, do căn cứ tiểu đoàn cách bưu điện tỉnh lỵ chỉ vài chục bước chân, nên tôi đã kịp ghi vội vài dòng gởi về cho gia đình. Hi vọng sớm muộn gì thông tin về tôi cũng đến được với chú Phạm Phương…: Kiến Hòa ngày 12 tháng 10…

Do trực giác và phần nào đó ở tin mật bị phát tán, nên tôi nghĩ sáng mai tiểu đoàn sẽ rút quân, kết thúc cuộc hành quân vô bổ và tốn kém này từ những tin vịt của quân báo. Ngay từ hôm mới xuống đây tôi đã có ý quan sát khá kỹ bờ sông. Ở đó không có lực lượng hải quân, lại được che chắn bởi vô số dừa nước, bần, mắm, dây leo và lùm bụi. Thế nên, ngay đêm đó tôi đã chủ động hoán đổi phiên gác với người lính khác, để vào ba giờ sáng quyết định hành động. Một mình và chỉ duy nhất một mình tôi mà thôi…

Dù đã dò xét khá kỹ địa hình và đường đi nước bước, nhưng do đêm tối tôi  cứ liên tục bị vấp ngã bởi hầm hố và gò đống mấp mô. Cuối cùng bị rơi đánh huỵch xuống con rạch, đầu bị va đập vào vật gì đó và ngất đi. Chừng mở mắt ra tôi nghe thấy-hay nghe thấy rồi mới khiến tôi mở mắt ra cũng không rõ nữa- tiếng một con chó đang kêu ư ư gừ gừ trên bờ. Bấy giờ trời đã tang tảng sáng. Tôi vừa gom buộc mấy khẩu Garand cho gọn lại vừa cố định thần, tự nhủ thôi chết mẹ rồi, đám quân khuyển nó đã phát hiện ra mình! Nhưng rồi cũng rất nhanh, tôi đã giải thích được sự vô lý ấy. Nếu đúng là đám quân khuyển chắc chắn chúng sẽ sa sả tri hô lên, thậm chí hùm hổ nhào xuống xé xác tôi ra chớ làm gì có cái thứ quân được huấn luyện hao tốn không biết bao nhiêu là cơm canh mà lại nhu mì hiền hậu vậy. Nghĩ vậy, nên tôi làm gan “tróc tróc” mấy tiếng và khẽ nói vói lên bờ mấy câu thân thiện, rồi chờ đợi phản ứng của con vật. Không ngờ nghe mấy lời chiêu dụ vậy mà con chó Cò nhảy xuống. Tôi có hơi thoáng giật mình, nhưng rồi kịp bình tỉnh trở lại, nhổ nhanh búng nước miếng vô lòng bàn tay, rồi đưa về phía dưới càm của con vật để làm quen, khi thấy nó ngập ngừng ve vẩy cái đuôi. Lúc này nó mới thực sự lộ rõ sự mừng rỡ.

Trời ơi, mày ở đâu mà chạy theo tao chi cho cực vầy nè. Tôi vuốt đầu nó. Muốn theo bảo vệ ông hả con? Cũng được thôi, nhưng mày ăn mặc kiểu này thật không phù hợp chút nào. Ngụy trang nghe con? Nó ư ử đồng ý. Nói là làm, tôi vốc mấy nắm bùn non trây trét lên khắp mình con vật. Hai vành tai nó đầy bọ chét, tôi bắt cho mấy con rồi hai thầy trò nhanh chóng lần theo mé rạch trở lui, khi tôi phát hiện không xa phía bờ bên kia có tiếng bọn lính đang xì xầm tiếp tục cuộc lùng sục.

– Cuối cùng mất cả thảy mấy khẩu?

– Tính luôn cây của nó nữa là ba.

– Mẹ…Cái thằng thiệt gan trời! Từ hôm mới về, thấy bộ dạng nó tao đã hơi nghi nghi.

Chúng tôi lại dừng lại để tiếp tục nghe ngóng. Chừng như cũng hiểu rõ sự nguy hiểm đang rình rập, con Cò im thin thít quay qua nhìn tôi. Con Cò mà lại đen.Tôi buồn cười với ý nghĩ ấy và thấy thương con vật hơn. Tôi đút thêm cho nó miếng thịt hộp… Đâu mà đâm đầu theo ông chi cho khổ vậy con! Tôi xoa đầu nó, thầm hỏi nếu tao ngộ với đám bẹc-giê mày có dám liều mình hôn…Nhưng con Cò không chết vì đám quân khuyển tưởng tượng. Xế chiều, mấy loạt súng hú họa bất ngờ xuyên thủng rừng lá, và nó đã bỏ tôi ra đi sau một ngày ngắn ngủi bạn bè.

Tôi mai táng bạn tôi thật không xứng với tư cách của một con người, quá vội vàng và qua loa! Trong tình thế khẩn trương như thế này, không thể nào chu đáo hơn được, tôi chỉ kịp an ủi và xin hứa với nó rằng từ rày về sau sẽ không bao giờ có nó trên bàn ăn của tôi nữa. Chừng ngó lên, thấy mặt trời đã rụng xuống ở đàng xa. Những ngọn dừa phía bên kia sông đang rũ buồn rướm máu, như báo trước hồi kết của cuộc săn lùng, vây bắt bất thành và những điều tệ hại nhất trong chiến tranh sẽ đưa tới. Cùng lúc, tôi bỗng như bất động trước vầng hào quang rực rỡ, không rõ từ đâu ập xuống rồi vụt vỡ bùng ra như vô cùng vô tận, hút tôi lên và ném vào một cái hố đen sâu thăm thẳm với tốc độ kinh hồn.

6-

Nhóm sáu người miền Trung không giấu được sự mừng rỡ, khi thấy mọi người đang vây quanh nhất loạt chỉ về phía tôi, đúng lúc tôi cũng vì hiếu kỳ mà bị đùn đẩy trôi vào để hóng chuyện. Chính vườn nhà anh này có một nấm mộ hoang của người lính Cộng Hòa-Gần như tất cả đồng thanh nói.

– Biết bao nhiêu lính Cộng hòa, có chắc hôn đó mấy cha nội?

– Chuyện tào lao! Lính Cộng hòa trong này ai chết cũng được chôn cất tử tế, tiền tử lãnh đủ, không thiếu một xu. Làm gì có chuyện xiêu mồ lạc mả như ngoài kia mấy cha ơi!

Xã Sơn Phú của tôi, theo như tôi biết, thì đây là nấm mộ hoang duy nhất của lính Cộng hòa-Còn như có thêm ở đâu nữa, thì rất cần xét tới…lòng tham của con người! Không chỉ quạ diều mới cảm nhận được sự thơm tho béo bở của xác động vật bị thối rữa để bu vào rút rỉa. Nhưng để kiểm tra lần nữa cho chắc chắn, tôi hỏi người xấu số đi lính gì.

– Hắn đi theo bọn Biệt động quân.

– Hả…hả…?

– Là lính Biệt động quân.

– Hả… hả…à…à tôi hiểu rồi. Là lính Biệt động quân phải không?

Có đôi lời xì xầm không đúng của vài người, rằng Biệt động quân làm gì có mặt ở Bến Tre. Ở đây, trước kia chỉ toàn lính sư đoàn Bảy, sư đoàn Chín bộ binh không hà…Tôi im lặng, tảng lờ để mặc cho mọi người bình phẩm, và hứng khởi dắt nhóm người đi về nhà mình phía bờ sông…

Giờ thì tôi không còn giấu đi sự lưỡng lự như lần trước đây nữa, khi tồn tại trong vườn nhà hai nấm mộ hoang. Bên trái từ bãi sông đi lên hay bên trái từ trên bờ đi xuống của bất kỳ ai, với tôi bây giờ không còn quan trọng nữa. Việc của tôi như thế coi như đã xong.

Nhưng ba đêm liền, sau khi hài cốt trong ngôi mộ còn lại được bốc đi, là ba giấc mơ kỳ lạ nhất trong đời đến với tôi. Ở tuổi không còn trẻ nữa, những giấc mơ hỗn độn không theo trật tự nào, thỉnh thoảng vẫn hay đến, nhưng tới sáng ra tôi không tài nào nhớ lại được. Vậy mà cả ba đêm liên tục, dường như có một oan hồn khe khẽ đến bên tôi. Lời như mê như ngủ, nhưng rõ ràng là giọng trần tình của một chàng tuổi trẻ. Và rồi, như trình tự những chương hồi mạch lạc của một pho tiểu thuyết sử thi anh hùng dần được hiển lộ…Tôn giáo, tín ngưỡng tôi vốn chỉ bàng quan xem  đó là những thú tiêu khiển của con người, thì còn nói gì đến chuyện tin vào mê tín dị đoan hay lời mách bảo nào đó của những âm hồn. Nhưng sau lần này, tôi thấy cần phải dọn dẹp thao rửa lại phần tâm linh của mình. Trên thân thể đẫm máu của người con trai, anh ta tức tưởi khóc và nói với tôi rằng người còn lại mới xứng đáng về nằm tại nghĩa trang liệt sĩ để được nhang khói thờ phụng; chớ còn như anh, nào đã kịp đóng góp được gì đâu!

Bên trái từ bãi sông đi lên hay bên trái từ trên bờ đi xuống, bây giờ với tôi không còn quan trọng nữa. Bởi nếu đúng như những gì linh báo, thì cả hai đều đáng để được tôn thờ, dẫu cho có nhầm lẫn từ sự lơ đễnh, vô tâm khi xưa và cả chủ quan võ đoán sau này của tôi đi chăng nữa. Bất giác tôi vụt nhớ tới cụ sơ. Hẳn không phải ngẫu nhiên cụ đặt Dừng Lại Bến Sông vào tên bốn người con, mà có lẽ với một mong mỏi cao vời nào đó. Dừng lại để chúng sáng mắt sáng lòng khôn ngoan ra, biết ngẫm ngợi về những bãi bờ hiu hắt hoang vu chăng? Chớ nào chỉ để cho riêng tôi, cơm no bò cỡi ở ngay cái bến Cây Trâm sung túc và trù phú như thế này, rồi muốn nói hươu nói vượn sao cũng được.

Cái Cối tháng 9.2019

TỪ PHẠM HỒNG HIÊN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *