“Cái gì càng tối càng sáng?” Hắn hỏi tôi, giọng trầm đục giữa khoảng khuya bao phủ con tàu. Trước mắt chúng tôi là đại dương trải rộng mênh mông, từng con sóng bạc lăn tăn dưới ánh sao khi mờ khi tỏ.
Đó là một đêm đầu hạ, gió biển thổi nhẹ mang theo hương vị mặn mòi riêng có. Những du khách trên tàu, phần đa là việt kiều đã bước qua tuổi thanh xuân. Họ đứng lặng trên boong, ánh mắt đăm chiêu hướng về phía xa. Nhiều người ở đây trở về quê hương sau bao năm ly biệt, ước muốn tìm lại những hình bóng cũ kỹ tưởng chừng chỉ còn trong ký ức.

Tôi nhìn hắn, ánh mắt đầy hoài nghi trước câu hỏi có phần kỳ lạ. Nhưng hắn chỉ khẽ mỉm cười, đôi mắt ánh lên chút gì đó vừa bí ẩn, lại thoáng đượm buồn. Câu hỏi ấy, giữa không gian tĩnh lặng của biển đêm, dường như không chỉ dành cho tôi mà còn như một lời tự vấn, chứa đựng niềm băn khoăn chưa có lời giải của hắn. Ở đâu đó vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, trong tấm gương phản chiếu dòng thời gian, có phải bóng tối và ánh sáng cùng được sinh ra một nơi, một lúc?
Trở lại với câu hỏi của hắn: “Cái gì càng tối càng sáng”. Tôi nhất thời không trả lời được. Sáng và tối, nếu suy cho cùng, chẳng phải chỉ là hai phạm trù đối lập mà con người định danh. Biết đâu, ở một chiều không gian khác, nơi tư duy chúng ta không thể chạm tới, người ta gọi bóng đen là SÁNG và ánh nắng là TỐI? Tất cả những khái niệm, ngôn từ khởi nguyên ấy, chẳng phải đều là sản phẩm của con người hay sao? Và nếu thật sự có một đấng siêu nhiên trên cao, một chủ thể nắm quyền sắp xếp trật tự của vũ trụ, thì chắc hẳn “Ngài” có thể chỉ trong chớp mắt đảo ngược mọi thứ: biến ánh sáng thành bóng tối, biến đúng thành sai, biến thực thành hư?
Hắn, người đưa ra câu hỏi đó, chẳng phải kẻ tầm thường. Trên một số nền tảng truyền thông xã hội hắn được gọi là “Siêu tâm linh Tiến Nghi,” một danh xưng nửa vời giữa kính nể và mỉa mai. Hắn nổi tiếng với những lời tiên tri ba thực bảy hư, từng xem số mệnh cho không ít nhân vật có tiếng trong và ngoài nước. Tuy thế đi kèm với danh xưng ấy cũng là sự hoài nghi. “Hắn có phải tay đại bịp không?” Những người bạn đồng hành của tôi trên chuyến tàu cứ thầm thì như thế mỗi lần nhác thấy bóng hắn, họ đã vô thức gieo vào tôi chút tò mò ngấm ngầm, rồi biến thành sự hiếu thắng muốn khám phá lúc nào không hay.
Dạo đó tôi còn trẻ, luôn khát khao chứng minh bản thân kèm cả sự tò mò muốn lật tẩy làm rõ những điều mù mờ chưa sáng tỏ pha chút bí ẩn luôn trào dâng trong tôi. Và có lẽ cũng bởi vậy, tôi quyết định tiếp cận hắn. Hắn khá hòa nhã nhẹ nhàng, đó là cảm nhận ban đầu của tôi khi trò chuyện. Về vấn đề tâm linh, hắn nói đó là thứ được cuộc sống mang đến ngoài chủ ý. Tuy nhiên đó là món quà hay tội nợ thì hắn không dám chắc.
Người có năng lượng tâm linh thực sự, họ không giống những người thuần tuý theo khoa học huyền bí như chúng tôi, có nghĩa là đọc sách ngộ ra phương pháp tính toán của cổ nhân, từ đó đưa ra sự dự trắc ứng dụng vào đời sống. Những người có năng lượng tâm linh, phần đông chẳng cần theo lý thuyết nào, họ dựa vào trực giác tự nhiên mà có. Phương pháp đoán mệnh của hắn là ai muốn “xem” phải để hắn chạm tay vào huyệt bách hội trên đỉnh đầu, cùng lúc đó nghĩ về câu hỏi mà hắn sẽ đưa ra.
Người luyện dưỡng sinh đều biết, huyệt bách hội là một trong những cửa nạp khí quan trọng của con người, có tác dụng mở và thâu nhận những trường năng lượng từ bên ngoài vào trong cơ thể. Dưới góc độ khoa học, nếu có thể dẫn một yếu tố “khí công” vào “đây” sẽ làm cho nhận thức của người bị tác động thay đổi, kiểu như thôi miên vậy. Có khác một bên đánh vào điểm mù của trí tưởng, một bên lợi dụng sự luân chuyển của kinh mạch để tương tác trực tiếp tới hệ thần kinh. Lý thuyết là vậy, nhưng để đạt được trình độ đó không hề giản đơn. Từ nhỏ tôi đã luyện khí công nên việc kiểm soát nhịp sinh học bản thân khá ổn định. Tôi chấp nhận phương pháp của hắn, dù cũng có đôi chút xao động. Vì rõ ràng, những biến số giữa cuộc đời này hoàn toàn có thể xảy ra.
Hắn nhẹ nhàng đặt tay lên đỉnh huyệt bách hội của tôi, những ngón tay lạnh như mạch nước ngầm nơi thâm sơn cùng cốc. Tôi nhắm mắt, cảm được từng làn gió bên ngoài đang dần đi qua cơ thể. Tâm trí tôi tựa dòng sông tĩnh lặng, cố gắng tìm đến trạng thái cân bằng, nhưng đột nhiên, mặt nước ấy gợn sóng lăn tăn rồi lan rộng, thảng thốt theo nhịp cảm xúc của tôi.
Một đôi rồng hiện lên nơi tưởng thức, sống động đến mức từng lớp vảy lóe sáng, lấp lánh ánh bạc với màu sắc lung linh vi diệu. Hơi thở tôi chững lại, mắt bật mở, và đối diện tôi là đôi mắt hắn, cái nhìn đơn điệu nhưng ẩn chứa sự bất ổn kỳ lạ.
Hắn trầm ngâm trong khoảnh khắc, rồi lắc đầu và bảo rằng chẳng “đọc” được gì ở tôi. Còn tôi, chẳng do dự kể cho hắn nghe về đôi rồng trong tầm nhìn nội tại ấy. Hình ảnh đó không chỉ là một biểu tượng, mà còn là tiếng gọi của dòng máu giống nòi, của bản sắc dân tộc. Tôi nói về dải đất hình chữ S, về niềm tự hào con rồng cháu tiên, như một lời nhắn gửi tới những người xa xứ rằng gốc rễ quê hương luôn là điều vô cùng thiêng liêng.
Nhưng rồi, khi tia nhìn của hắn trở nên u ám hơn, tôi nhận ra rằng đôi rồng kia mang một ý nghĩa khác với hắn. Một bí mật, một ký ức khó phai nhòa. Ở đó ranh giới giữa thực và mộng, giữa lý trí và cảm thức rất khó phân định. Đó là câu chuyện về một phần đời đã qua của hắn.
Hắn mắc chứng ám ảnh khoảng hẹp có nước từ khi còn nhỏ. Mỗi lần đối diện với bờ ao hay gốc cây ven hồ vào buổi tối, hắn luôn tưởng tượng đến những sinh vật quái dị ẩn náu, chực chờ bứt khỏi mặt nước, lao đến và nuốt chửng hắn chỉ trong chớp mắt.
Khi lớn lên, nỗi sợ ấy không hề giảm bớt mà càng thêm đong đầy, như lớp sương mù tai quái ngày một lan dày tâm trí mỗi lần hắn nghĩ về vùng nước tối. Rồi hắn yêu và thật oái oăm, nhà người ấy nằm ngay trong làng ven hồ Tây. Theo lời hắn, đường dẫn vào làng có hai con rồng đá khổng lồ, đặt theo thế lưỡng long chầu nguyệt ngự ngay trên mặt nước sát mép hồ. Đôi rồng uốn lượn, đồ sộ và đầy vẻ uy nghi ấy khiến hắn rùng mình mỗi khi đi qua, như thể chúng không phải thứ vô tri mà chính là những sinh vật hiện hữu để nuốt trọn sự can đảm của hắn, rồi nhấn chìm xuống đáy nước ngập tràn nỗi hoang mang, sợ hãi.
Hắn hỏi tôi, “Cậu có nhớ hai con rồng đó ở hồ Tây không?” Nhưng thú thực, tôi chẳng thể nào hình dung ra nổi. Hồ Tây mang trong mình biết bao truyền thuyết đi kèm thần tích, mỗi góc hồ đều phảng phất bóng dáng một câu chuyện truyền kỳ, nhưng về hai con rồng này, lúc được lắng nghe tôi chẳng rõ chúng có tồn tại thật hay không?
Hắn tiếp đà câu chuyện, chậm rãi mà mang theo đầy đủ những cung bậc cảm xúc. Mỗi lần đưa bạn gái về nhà trong đêm, hắn không chỉ thấy tim đập loạn nhịp do hồi hộp bởi tình yêu thuở mới lớn, mà còn vì nỗi sợ hãi kia. Hình ảnh đôi rồng sừng sững hai bên đường luôn khiến hắn bất an. Hắn thường cố lấp đầy quãng đường ấy bằng những câu chuyện vụn vặt để quên đi sự hiện diện của chúng, nhưng dù nói gì, hắn cũng không thể khỏa lấp bóng đen ám thị bản thân. Và bởi vậy sau khi đưa bạn gái về đến nhà, hắn luôn chọn lối đi khác dù vòng vèo hơn để ra khỏi làng, chứ không dám quay lại chỗ có đôi rồng án ngữ.
Tuy vậy cho đến ngày nọ, khi đường vòng ấy bị chặn bởi công trình xây dựng, hắn không còn lựa chọn nào khác, đành phải quay lại con đường đó một mình.
Đứng trước bóng tối sâu hút nơi hai con rồng ngự trị, hắn hít thở thật sâu, cố gắng trấn an bản thân. “Nhắm mắt, giữ thẳng tay lái, và đếm từ 1 đến 30,” hắn tự nhủ. Hắn siết tay lái đến mức các khớp tay tê cứng, rồi vít ga. Từng con số vang lên trong đầu hắn theo nhịp rơi chậm chạp, mỗi lần như thế ý thức của hắn như lại tiến gần hơn tới nỗi kinh hoàng. Khi hắn đếm đến mười, một cơn gió lạnh thốc ngang, kéo theo âm thanh giống như tiếng rít ghê rợn quất qua từng tế bào cảm xúc.

Đến mười lăm, hắn cảm giác có thứ gì đó lướt qua trước mặt, tựa chiếc bóng khổng lồ chẳng rõ hình thù. Hắn nhắm mắt chặt hơn, môi run rẩy mấp máy vô thức như nguyện cầu trong tuyệt vọng. Đến hai mươi tám, âm thanh lạ bỗng dội lên như tiếng gầm, rúng động không gian xung quanh. Hắn bật mở mắt trong hoảng loạn, chỉ để nhận ra mình đã ở một nơi khác. Trước mặt hắn, chẳng phải con đường ven hồ, thay vào đó là đại lộ Lạc Long Quân, sáng rực ánh đèn nhưng hoàn toàn chẳng có bóng người.
Hắn phanh xe gấp, thở dốc, cố định thần giữa con đường rộng rãi mà vắng tanh lạnh ngắt. “Làm sao mình tới đây được trong vài giây ngắn ngủi?” Hắn tự nhủ rồi nhìn quanh, nhưng đúng là hắn đang có mặt ở đường lớn bên ngoài thật sự. Khi kể với tôi hắn vẫn băn khoăn rằng, phải chăng đêm ấy âm thanh khiến hắn tỉnh thức kia chính là tiếng gầm của đôi rồng, và dường như hắn đã đi xuyên không đến một thế giới khác?
Nhưng mọi chuyện không dừng ở đó. Mấy ngày sau, khi đi qua con đường dẫn vào nhà người yêu, hắn bàng hoàng nhận ra đôi rồng đá khổng lồ đã hoàn toàn biến mất. Hắn cố nhìn kỹ từng chi tiết quanh đấy để tìm kiếm dấu tích, nhưng mọi thứ như tan biến vào hư không. Cảnh vật vẫn như cũ, nhưng sự trống trải ở vị trí đôi rồng để lại là một hiện thực khiến hắn thêm hồ nghi, khó hiểu và tất nhiên đầy hoang mang.
Hắn cố vận dụng lý trí để giải thích, cái khó là hắn chưa từng kể về nỗi sợ đôi rồng cho bất kỳ ai, kể cả người yêu hay bạn bè thân thiết. Vậy nên hắn ngại nếu phải đi hỏi mọi người. Hắn thử cố nghĩ theo hướng có thể tất cả chỉ là ảo giác, rằng những gì hắn nhìn thấy trước đây không hề tồn tại. Nhưng dù lý trí cố gắng trấn an, tâm can hắn vẫn không ngừng quặn thắt rồi xoắn vào nhau, như cuộn chỉ rối tinh không thể gỡ. Hắn bắt đầu cảm thấy mọi thứ xung quanh dường như chỉ là màn kịch hoàn hảo được dựng lên nhằm mục đích bao bọc lấy hắn, che đi ánh sáng sự thật.
Dần dà trong mắt hắn, bố mẹ, người yêu, bạn bè… tất cả tựa như những hình nhân sống động, đang diễn vai giả trân sống sượng. Họ cười nói, hỏi han, nhưng đôi mắt thỉnh thoảng lại ánh lên sự thương hại không thể che giấu. Hắn luôn nghĩ rằng một ngày nào đó họ rồi cũng sẽ thình lình biến mất như đôi rồng kia. Lúc đó với hắn sẽ thật khủng khiếp.
Và hắn lựa chọn cách để tự bản thân biến mất trước, hắn quyết định rời bỏ tất cả, sang nước ngoài bắt đầu lại. Bên những con người xa lạ, hắn thấy lòng nhẹ nhõm hơn. Tấm mạng nhện vô hình từng giăng kín tâm trí hắn như được nới lỏng một chút. Rồi cũng từ đấy, hắn phát hiện ra một khả năng lạ kỳ: hắn có thể “đọc” được những điều ẩn sâu trong lòng người khác.
Mọi người dần tìm đến hắn để xin lời khuyên. Hắn chỉ cần ngồi đối diện, đặt tay lên đỉnh đầu họ, tập trung quán tưởng, sẽ có một giọng nói trong đầu mách bảo, tiếp đó hắn đưa ra những chỉ dẫn khiến người cần xem kinh ngạc, hoan hỉ, lo sợ hay thỏa mãn. Chẳng mấy chốc, hắn trở thành một người hành nghề tâm linh đoán số mệnh được trả công hậu hĩnh.
Dù cuộc sống có vẻ bình yên hơn, hắn vẫn không thể buông bỏ được ký ức về đôi rồng đá. Hình ảnh chúng, nanh vuốt, chiếc miệng cùng đôi mắt mở to vẫn lởn vởn trong những giấc mơ của hắn nơi xứ người. Hàng ngàn lần hắn vẫn cứ tự hỏi: “Liệu đôi rồng ấy có tồn tại thật hay chỉ là một ảo giác, một phép thử của số phận” Và khi tôi nhắc đến đôi rồng trong cuộc trò chuyện trên boong tàu, hắn thực sự bất ngờ để rồi ngay sau đó sự dồn nén cảm xúc trong hắn được buông xả.
Tôi nhìn hắn, trong ánh nhợt nhạt của tinh tú trên nền trời đen thẫm đang tan chảy dần vào mặt biển khơi thăm thẳm, người đàn ông trước mặt tôi có vẻ vẫn chưa hết xúc động. Tôi bỗng buột miệng hỏi: “Giữa biển khơi vô định thế này, anh có sợ đôi rồng đó lại xuất hiện không?” Hắn trầm ngâm một lúc, cắn nhẹ môi với chút day dứt phân vân. Rồi hắn lắc đầu, nụ cười nhẹ nhàng mang tâm thế an yên: “Nói ra được với bạn, nên tôi không còn sợ nữa, nhẹ nhõm lắm.”
Hắn giơ nắm tay lên cao, như thể đang giữ chặt một vật vô hình nào đấy, rồi bất ngờ xòe lòng bàn tay làm động tác quẳng cái gì đó ra xa. Hành động ấy, tuy có phần kỳ cục, lại mang đến cảm giác thanh thản với tôi. Ngay thời điểm đó, giữa tiếng sóng biển ậm ừ lao xao, tôi chợt nghe thấy một âm thanh rất nhỏ vang lên từ xa: “Bõm”. Không biết là thực hay ảo. Dù thế nào tôi vẫn hi vọng rằng thanh âm ấy sẽ thay lời vĩnh biệt cuối cùng với nỗi lo sợ đã đeo bám hắn suốt nhiều năm.
Bầu trời đêm chợt giãn ra và bật nở những chùm sao, các đốm sáng nhỏ bé lấp lánh trong khoảng không bao la, như đang soi rọi lên hai con người giữa lòng biển khơi. Rõ ràng, trước sự vô hạn của tự nhiên, chúng ta thật nhỏ bé, nhưng cũng chính sự nhỏ bé đó đã chứng minh sự tồn tại và mang đến cho con người sức mạnh để vượt qua những nỗi sợ hãi.
Những ngày lênh đênh trên biển không internet khiến tôi chẳng thể tra cứu điều gì, vì thế khi trở về đất liền, việc đầu tiên tôi làm là tìm hiểu về đôi rồng mà hắn đã kể. Đúng là có một đôi rồng đá được tạo tác vào năm 2012, nằm tại ngã ba Lạc Long Quân – Vệ Hồ. Nhưng điều làm tôi sửng sốt là câu chuyện của hắn diễn ra vào khoảng những năm 1998 hoặc 1999 (tính theo năm sinh và độ tuổi của hắn lúc còn ở trong nước), khi đôi rồng đó chưa được tạo tác và đặt ở vị trí đấy. Nếu hắn không nói dối, thì điều duy nhất có thể lý giải là hắn đã thấy được một thực tại chưa xảy ra.
Tôi đã đến tận nơi để ngắm đôi rồng. Chúng rất uy nghi và phù hợp với cảnh quan Hồ Tây. Điểm ấn tượng là khi vầng dương hay khuôn nguyệt trồi lên thì đều ở giữa vị trí đôi rồng chầu về. Trong nắng sớm, giữa chiều tà hay vào khoảng đêm với ánh đèn rực rỡ màu sắc trên hồ, đôi rồng ấy đã trở thành một mảnh ghép sinh động, tạo nên sức sống riêng có cho khu vực quanh đó.
Mấy năm sau tôi nhận được tin tức về hắn qua người bạn cùng từng có mặt trên chuyến tàu. Hắn đã quay trở về Việt Nam và mở một nhà hàng lấy tên Song Long ở miền Tây sông nước. Dường như hắn đã thật sự vượt qua nỗi ám ảnh của mình và thậm chí còn biến nó thành một phần của cuộc đời mới.
Tò mò, tôi tìm xem thông tin trên trang cá nhân của hắn. Trong các video gần nhất, hắn vẫn nói về những triết lý đạo đời bằng chất giọng trầm ấm chậm rãi cùng hình dung thiện lành. Rồi ở đoạn cuối một video, hắn có đọc một bài thơ, mà theo hắn dẫn giải là biến tấu từ thi phẩm của tác giả hắn yêu thích:
Nhân thế muôn điều nhập nhòe quá
Chập chờn mông lung lạc nhịp đời
Tiếng vọng khuya xa lòng bỗng lặng
Ngước mắt lên trời, sáng một ngôi
Có lẽ chính đêm tối một mình ở con đường ra khỏi làng ven hồ Tây năm ấy, hay khoảnh khắc lênh đênh giữa đại dương bao la cùng tôi ngày đó, đã giúp hắn tìm thấy ánh sáng dẫn lối. Cái “càng tối càng sáng” như hắn đã hỏi tôi, không chỉ là vì sao trên bầu trời, mà là hồi quang của sự thức tỉnh, chứa đựng sức mạnh vượt qua nỗi ám ảnh để bước tiếp.
VŨ LIÊM

















