Làng tôi làng anh/ Cùng giống nhau nhỉ/ Có lũy tre xanh/ Trên lũy tre xanh/ Có chim vàng anh/ Có con sáo sậu/ Nó hót thanh thanh/ Sau lũy tre xanh/ Có người cày cấy/ Nuôi tôi và anh.
Cũng chẳng thể nhớ mình thuộc nhịp thơ này từ thuở nào. Nhớ đã đúng chưa? Ai viết thế nhỉ? Ai viết mà mỗi khi nhịp thơ rung lên lại khiến ta quay quắt nhớ làng.

Làng là danh từ chỉ một vùng đất nông thôn, những người sống trong vùng đất ấy là nông dân. Làng là máu thịt người Việt mình! Thế thì, làng đã đi vào những tác phẩm văn học Việt thế nào? Đã đúng tầm vóc chưa? Tôi nghĩ rằng sẽ rất nhiều người có chung tâm trạng đó. Với tôi, Trước hết tôi xin thưa rằng một tác phẩm văn học hay viết về làng, trước hết phải mang đậm nét nông thôn Việt Nam, chỉ có ở Việt Nam. Tôi muốn nói rằng tác phẩm đó dù có trôi dạt bất cứ đâu, khi đọc, người ta cũng nhận ngay được rằng đây là Việt Nam; đây là nông thôn Việt Nam. Tôi cho rằng đấy mới là sự thành công của tác phẩm. Đấy mới là sự đóng góp đích thực của văn hóa Việt Nam vào văn hóa nhân loại. Viết văn là một công việc rất khó, cực kỳ khó. Người viết có khi cả đời đã hiến hết mình cho con chữ, nhưng kết quả nhiều khi vẫn chỉ là con số không tròn trĩnh, có ở trong nghiệp này mới thấm được sự cay cực tận cùng của nó. Chẳng thế mà cụ Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, tác giả của Cung Oán Ngâm Khúc từng ngậm ngùi:
Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào
Miếng đời nghẹn mãi biết làm sao
Muốn kêu một tiếng cho to lắm
Rằng ối giời ơi nó thế nào?
Tôi tâm đắc và cảm thông với cụ! Đúng là khạc không ra! Nuốt không vào! Đúng là phải ngửa mặt… ối giời. Nhưng, đây phải chăng lại là lời răn của cụ cho những ai theo nghiệp văn chương? Phải chăng cụ dạy rằng phải ở trong tâm trạng ấy, cảm xúc ấy, phải khạc không ra, nuốt không vào thì mới được cầm bút viết. Tôi nghĩ thế! Khó đến thế thì viết làm sao đây? Một câu hỏi muôn thuở cho những người làm văn chương. Làm thế nào để có tác phẩm hay? Viết về làng, về những người nông dân làm sao cho hay được? Hình như mọi lời đáp về vấn đề này đều mông lung, huyền hoặc. Ai đáp sao thì người ấy biết thế. Và, để đến được cái đích cuối cùng là có tác phẩm hay thì đúng là khó như tìm đường lên giời. Vậy nên tôi cho rằng mỗi người viết có mỗi cách đi. Tôi ấy à, cũng chẳng biết nói thế nào, nhưng tôi chợt nhớ rằng mình có một sở thích. Đấy là thích mò mẫm trong các tác phẩm đã thành công, và các tác giả đã thành danh xem người ta viết thế nào. Mò thế có lẽ cũng chỉ để mong tìm lấy một lối nhỏ, trong muôn nẻo đường đi đến thành công của văn học. Nhìn kìa, nhìn nàng bá tước tiểu thư Natasa trong cái đêm nhận lời nghỉ lại nhà ông chú ở làng Mikhilôvka, trong tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình của đại văn hào L.TônxTôi.
“Natasa cởi chiếc khăn choàng trên vai, chạy đến trước mặt ông chú, chống tay cạnh sườn và nhính hai vai lên rồi lấy điệu đứng đợi.
Không biết cái cô bá tước tiểu thư kia, vốn được một người đàn bà Pháp lưu vong dạy dỗ, làm thế nào mà hấp thụ được cái phong vị Nga ấy, không biết nàng lấy đâu ra những dáng điệu ấy, những dáng điệu mà những bước khăn san đáng lẽ lấn át từ lâu? Dù sao phong cách của nàng đúng là cái phong cách mà ông chú mong đợi, cái phong cách không sao bắt chước được, không sao phân tích nổi, cái phong cách thuần túy của dân tộc Nga”.
Thế đấy! Chỉ là cởi chiếc khăn choàng trên vai, chống tay cạnh sườn và nhính hai vai lên rồi lấy điệu đứng đợi của nàng Natasa, mà người đọc thấy ngay đây là một cô gái Nga; cái phong cách không sao bắt chước được, không sao phân tích nổi, cái phong cách thuần túy của dân tộc Nga. Thế thì phải nói rằng tâm hồn Natasa đã được hưởng cái gien di truyền văn hóa Nga. Hồn cốt văn hóa Nga đã tự lặn vào đại văn hào L.TônxTôi để có một Natasa thuần Nga, không thể lẫn. Trong nền văn học Việt Nam, đã nhà văn nào làm được điều tương tự thế trong tác phẩm của mình? Chia sẻ này tôi muốn nói rằng tôi rất coi trọng các chi tiết trong tác phẩm. Phải biết chọn lọc chi tiết, đặt chi tiết vào đúng vị trí của nó trong tác phẩm. Có khi chỉ cần một chi tiết hay lại tạo nên tác phẩm. Có những trường hợp đọc hết một tác phẩm, ta lại chỉ nhớ về có mỗi một chi tiết. Tôi nghĩ thế, chả biết có phải không?
Làng – Nước. Có Làng mới có nước! Đây là điều không phải bàn cãi trong quá trình hình thành và phát triển đất nước. Bản sắc văn hóa mỗi làng, góp phần hình thành văn hóa đất nước. Làng là danh từ chỉ một vùng đất nông thôn, những người sống trong vùng đất ấy là nông dân. Như vậy phải chăng văn hóa dân tộc Việt khởi nguồn từ văn hóa làng, từ văn hóa của những người nông dân thuần túy. Tôi cho rằng mỗi nhà văn cũng nên lưu tâm đến vấn đề này. Nói thế thì làng chính là cái nôi của văn hóa Việt, tác phẩm văn học Việt cũng từ cái nôi ấy mà ra. Ta nên nhìn lại quá trình hình thành và phát triển văn hóa dân tộc, để kiểm chứng một cách khoa học vấn đề này. Tôi đặt thế, để muốn giãi bày rằng trên đất nước ta thì làng, những người nông dân là một trong những đề tài lớn, trải ra, cốt tử trong tác phẩm văn học của các nhà văn. Làng Việt thì đã hình thành từ hàng ngàn năm trước, và không ngừng biến đổi, phát triển. Nó biến đổi ra sao? Phát triển thế nào? Những người nông dân, chủ thể của vùng đất ấy ngụp lặn, trồi sụt ra sao, hồn cốt văn hóa làng còn lại được mấy phần… đây là một vấn đề lớn, không thể không quan tâm.

Cuộc sống không ngừng biến đổi, lẽ tất nhiên làng, và người nông dân cũng không thể không nằm trong quy luật ấy. Có những thói quen đã hình thành và tồn tại hàng ngàn năm của người nông dân, lại mất đi một cách chóng vánh trong sự phát triển của tiện ích. Trong một tác phẩm, có nhà văn viết rằng: “Những hồi chuông của buổi lễ sáng bên nhà thờ làng Tám vọng sang, đã thay tiếng gà gáy báo thức cho người xóm trên, và, cho cả cái làng Khương Trung nữa”. Rõ ra một thói quen tồn tại hàng ngàn năm của người nông dân dậy theo tiếng gà gáy đã bị đẩy lùi, mất đi. Nhưng tôi cho rằng thói quen không nằm trong hồn cốt, thói quen chỉ là một nếp sinh hoạt nào đó được lặp lại nhiều lần trong quá trình sống, nên nó mới nhanh chóng bị mất đi bởi sự phát triển của tiện ích. Còn những giá trị đã nằm trong hồn cốt thì không dễ gì đổi được. Kêu làng, kêu nước chẳng hạn. Mỗi khi gặp bất trắc người nông dân thường la lên: Ối làng nước ơi! Cái “ối làng nước ơi” chắc chắn đã nằm sẵn trong hồn cốt họ. Còn tại sao mà nói nó nằm sẵn trong hồn cốt họ thì có lẽ phải mượn lời ông chú của Natasa, trong tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình của đại văn hào L.TônxTôi: “không phân tích nổi”, “không bắt chước nổi”, nghĩa rằng nó tự nhiên có thế, không thế không được. Hãy để mắt đến cô Lê Thị Hiền, trong vụ gây mất trật tự trong sân bay Tân Sơn Nhất hồi giữa năm 2019 thì cũng rõ điều này. “Ối làng nước ơi, cứu tôi với, nó đánh tôi” là những câu đầu tiên cô gào lên, khi cho rằng mình bị đối xử tệ bạc, bị oan ức, bị đánh. Cô đại úy công an quê Thanh Hóa, nhưng sống ở Hà Nội đã lâu mà vẫn la câu “ối làng nước ơi” của người xưa đấy thôi. Thế thì, cái “ối làng nước ơi” đã nằm sẵn trong cô ấy, đúng dịp thì la lên thôi, nó đã thành một phản xạ tự nhiên. Đề cập vấn đề này tôi muốn nói rằng chúng ta không việc gì phải lo lắng quá, những gì đã lặn vào hồn cốt người Việt thì mãi mãi tồn tại. Chỉ người Việt mới có, đấy là văn hóa Việt. Vì vậy ta nên bình bĩnh, xem xét một cách tỷ mỷ, thấu đáo, khoa học về sự vận động và phát triển văn hóa làng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nông dân là đại đa số dân tộc, vấn đề nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc, là người bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất”. Thế đấy, nông dân là những người bị bóc lột nhiều nhất, cùng khổ nhất. Điều này thì tôi thấy đúng với mọi thời, kể cả cái thời được coi là hiện đại chúng ta đang sống. Ừ nhỉ, Sớm đông ấy sương tràn như sữa đục trên một cánh đồng màu, tôi mê mẩn trong những luống su hào, bắp cải… tấm tắc rằng sao mà đẹp thế, tốt thế, nông dân vùng này chăm chỉ thế… Tốt thế, đẹp thế, chăm chỉ thế nhưng bán tất cả những cái “thế” như ông nói của cánh đồng này, cũng chả bằng tôi làm vài ngày. Một ông quan chức cấp huyên bạn tôi, đã lạnh lùng nói với tôi thế đấy. Tôi nghĩ ông này nói thật, vì ông là bạn nối khố của tôi. Chỉ có bạn nối khố mới thật với nhau đến thế! Khiếp thật, bán cả một cánh đồng màu tươi tốt đến dường kia, mà chả bằng vài ngày thu nhập của một quan chức cấp huyện. Không thể thờ ơ với sự cùng khổ của người nông dân! Phải đứng về phía họ, viết về họ. Tôi cho rằng trong nền văn học Việt Nam, thì các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945 đã làm rất hay điều này. Tại sao những nhà văn như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… lại có những trang văn hay đến thế về làng, về người nông dân? Có lẽ trước hết đây là những trang văn viết rất thật về sinh hoạt, cuộc sống của nông dân trong giai đoạn ấy. Những nhà văn đã lặn vào, đồng cảm, phải chăng họ đã đạt đến độ đây là nỗi đau của chính mình? Có lẽ phải đạt đến độ ấy, mới viết được những trang văn hay đến thế. Thực thì tôi thấy đề tài làng, nông dân luôn là một đề tài mở, với những chất liệu ngồn ngồn, hừng hực mới; quan trọng là tâm cảm thực của nhà văn với “mảnh đất” ấy. Anh tiếp cận đề tài trong tâm cảm nào, sẽ cho ra những sản phẩm tương đồng như thế. Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã từng nói: “Các ông bảo tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, còn tôi và các nhà văn như tôi chủ trương nhà văn là cuộc đời”. Chủ trương nhà văn là cuộc đời thì Vũ Trọng Phụng có Giông Tố, Số Đỏ, Vỡ Đê, Làm Đĩ… những tác phẩm nằm ở vị trí nào trong nền văn học Việt Nam, đạt đến độ nào trong tâm cảm của độc giả thì chúng ta đều biết. “Nhà văn phải luôn mở hồn ra để đón những vang động của cuộc đời”. Nhà văn Nam Cao đã viết thế trong truyện ngắn Đời Thừa. Mở hồn để đón những vang động, những vang động rất thường, rất đời. Hãy xem nhà văn viết cái đoạn Chị cu Thiêm chửi chồng trong chuyện ngắn Thôi Đi Về:
… Chị quăng đội rau vào nhà một chị em gần đấy, rồi ù té chạy một thôi về nhà. Về đến sân, chị đứng lại, hồng hộc thở, mặt không còn một hột máu. Anh cu Thiêm đang đào một con giun để gài bẫy hét, ngẩng đầu, trố đôi mắt ngạc nhiên nhìn vợ. Chị chỉ vào mặt anh mà hổn hển:
– Mày chết đi!… mày chết đi!… mày chết đi cho rồi!…
Cũng chỉ tại cái nhà anh cu Thiêm bán của chị cái khung cửi, khi nghĩ rằng năm nay làng không có sợi. Nhà văn rất tài tình để Chị cu Thiêm bộc lộ đầy đủ sự chân thực của cuộc sống cơ cực, và kìa, một nét chấm phá cái nền văn hóa tiểu nông làng xã Việt Nam đã hiện ra. Nó tự nhiên thế, sẵn có thế, nó cũng giống cái sẵn có trong hồn cốt nàng Natasa của đại văn hào L.TônxTôi.
Có lẽ cũng nên đề cập chút đến những trang văn viết về làng, về người nông dân tiếp sau giai đoạn 1930 – 1945. Những Cái Sân Gạch, Vụ Lúa Chiêm, Buổi Sáng… và rất nhiều tác phẩm viết về nông thôn, về người nông dân mà nhiều thế hệ học sinh, trong đó có tôi đã được học, được phân tích rất kỹ dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Nhưng nói thật, sau đó thì tôi chẳng thể nhớ họ viết gì, nói gì. Tại sao vậy? Tôi nghĩ đây cũng là vấn đề đáng ngẫm ngợi cho những người mang trọng trách cầm bút.
Làng Việt đang truân truyên, trồi sụt trong sự biến động của xã hội. Người nông dân là chủ thể của cuộc biến động này. Rất nhiều biến động, rất nhiều số phận… tiếp cận mảng đề tài nhiều chuyện này thế nào để có được tác phẩm hay, tôi nghĩ đây là một cuộc vật lộn chữ nghĩa thực sự của mỗi nhà văn.
NGUYỄN KHƯƠNG TRUNG

















