Tôi bị ám ảnh bởi địa danh B’Lao từ rất lâu trước khi đặt chân đến miền đất này.
B’Lao trở đi trở lại trong những lá thư Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh, sau này được tập hợp trong Thư tình gửi một người. Khi đọc những lá thư ấy, tôi chưa từng đến Bảo Lộc. Tôi chưa biết núi Đại Bình ở đâu, chưa hình dung những con dốc đất đỏ của miền cao nguyên, chưa biết một buổi chiều mây xuống thấp trên phố núi sẽ mang dáng vẻ như thế nào. Vậy mà qua những trang thư, trong tôi đã thành hình một B’Lao có núi, có mây, có sương lạnh, có những con đường dốc, những buổi chiều và những đêm cao nguyên hun hút. Một miền đất xa xôi, bảng lảng, vừa thực vừa như được sinh ra từ chính tâm trạng của người viết thư.
Nhưng điều khiến B’Lao ám ảnh tôi không chỉ là phong cảnh. Bởi núi, mây hay sương lạnh thì nhiều miền đất khác cũng có. Điều đặc biệt là khi đi qua tâm hồn Trịnh Công Sơn, phong cảnh ấy dường như đã mang một đời sống khác. Núi không còn chỉ là núi. Mây không còn chỉ là mây. Sương lạnh không còn chỉ là thời tiết của cao nguyên. Cảnh vật đã thấm vào nỗi cô độc, nhớ nhung, những dự cảm chia lìa và cảm giác mong manh về kiếp người của chàng trai trẻ. Trịnh sống giữa phong cảnh B’Lao, rồi B’Lao dường như cũng bắt đầu sống trong Trịnh. Phong cảnh đã được nội tâm hóa. Có lẽ vì thế mà tôi đã đến B’Lao từ trước khi thực sự đến B’Lao. Tôi đến bằng những lá thư của Trịnh.

Và nhiều năm sau, khi thực sự đặt chân đến Bảo Lộc, tôi lại muốn đi tìm miền đất từng hiện lên trong trí tưởng tượng của mình. Tôi muốn biết B’Lao của Trịnh Công Sơn còn lại những gì sau hơn sáu mươi năm. Ngôi trường ông từng dạy còn không? Căn nhà ông từng thuê cùng bè bạn ở đâu? Con đường mà từ ô cửa căn phòng trọ, chàng trai trẻ từng nhìn ra mỗi ngày giờ mang dáng vẻ thế nào? Tiếng chuông nhà thờ của phố núi có còn ngân trên thành phố? Và Đại Bình, ngọn núi từng ở trong tầm mắt Trịnh, hôm nay nhìn xuống Bảo Lộc ra sao?
Nhưng cuộc tìm kiếm ấy đưa tôi đến một điều có phần nghịch lý: càng cố tìm B’Lao của Trịnh Công Sơn bằng những dấu tích vật chất, tôi càng nhận ra miền đất ấy đang lùi rất xa vào quá khứ.
Ngôi Trường Sơ học Bảo An không còn nữa. Chỉ con phố nơi ngôi trường từng hiện diện vẫn nằm đó giữa một Bảo Lộc đã đông đúc hơn rất nhiều. Căn nhà Trịnh từng thuê cùng những người bạn cũng không còn dấu tích đủ rõ để người đến sau có thể đứng trước một cánh cửa mà nói chắc rằng: đây chính là nơi ông từng sống. Tôi chỉ có thể lần theo những chỉ dẫn của người địa phương, tìm về khu vực trung tâm hành chính hôm nay, khoanh lại vùng đất quanh Ty Công chánh năm xưa và hình dung đâu đó trên trục đường chính này từng có căn phòng mà trong những đêm lạnh, một chàng trai ngoài hai mươi tuổi ngồi viết những lá thư dài gửi về cho người con gái ở xa.
Bảo Lộc hôm nay không còn là B’Lao “góc núi” của những năm sáu mươi. Phố xá đã mở rộng. Nhà cửa, hàng quán, xe cộ đã lấp đầy nhiều khoảng trống. Cái heo hút của một tỉnh lỵ cao nguyên ngày trước gần như không còn nữa. Người lữ khách hôm nay có thể đến Bảo Lộc trên những con đường rộng, ngồi giữa những quán cà phê sáng đèn và nhìn một phố đang chuyển động với nhịp sống của hiện tại.

Nhưng có những thứ thời gian dường như chưa mang đi hết. Sương vẫn xuống Bảo Lộc. Có những buổi sớm, sương tràn qua phố, phủ lên những mái nhà, những hàng cây và các sườn đồi một lớp mờ trắng. Có những buổi chiều, mây xuống rất thấp. Đại Bình lúc hiện lúc khuất. Nắng đang sáng bỗng bị một tầng mây che lại, rồi chỉ một lát sau, một khoảng trời khác lại bừng lên. Thành phố đông đúc của hôm nay bỗng chốc mềm đi trong sương và mây, mang một vẻ mơ hồ, bảng lảng. Trong những khoảnh khắc như thế, tôi bỗng cảm thấy Bảo Lộc hôm nay gần với B’Lao trong những lá thư Trịnh Công Sơn hơn bất cứ một địa chỉ cũ nào mà tôi cố công tìm kiếm. Những công trình do con người tạo ra có thể mất. Một ngôi trường có thể biến mất. Một căn nhà có thể bị thay thế. Những con đường có thể đổi tên, những khoảng đất trống có thể thành phố xá. Nhưng núi vẫn còn. Mây vẫn còn. Sương lạnh vẫn còn. Đại Bình vẫn ở đó. Và kỳ lạ thay, chính những gì còn lại ấy lại là những gì đã đi sâu nhất vào thế giới tinh thần Trịnh Công Sơn.
Tháng 8 năm 1964, Trịnh Công Sơn đến B’Lao. Ông vừa kết thúc khóa học 1962-1964 tại Trường Sư phạm Quy Nhơn và được điều về Ty Tiểu học Lâm Đồng. Tỉnh lỵ Lâm Đồng lúc ấy đặt tại B’Lao, vùng đất ngày nay là Bảo Lộc. Chàng giáo sinh 25 tuổi được bổ nhiệm làm trưởng giáo Trường Sơ học Bảo An. Đó là một ngôi trường nhỏ chỉ có ba lớp. “Trưởng giáo” là người phụ trách cao nhất của trường theo cách gọi đương thời, nhưng Trịnh vẫn trực tiếp đứng lớp, dạy lớp 3.
Thử tạm gạt khỏi trí nhớ hình ảnh Trịnh Công Sơn của những năm sau – người nhạc sĩ với một gia tài ca khúc đồ sộ, người nghệ sĩ ngồi bên ca sỹ Khánh Ly, người mà nhiều thế hệ thuộc những câu hát về tình yêu và thân phận – để hình dung một Trịnh Công Sơn khác. Hai mươi lăm tuổi. Một giáo sinh vừa ra trường. Một miền đất lạ. Một ngôi trường nhỏ giữa B’Lao. Và một lớp học đang chờ thầy giáo trẻ mỗi sáng. B’Lao những năm ấy còn thưa thớt. Trong những tư liệu và hồi ức còn lại, đó là miền đất của sương dày, lạnh, nắng bụi, mưa bùn. Trịnh cùng những người bạn thuê nhà của bà Trần Thị Phi, người làm việc ở Ty Công chánh. Nguyễn Thanh Ty, bạn học cùng khóa Sư phạm Quy Nhơn, cũng là người sống và dạy học với ông trong những năm B’Lao. Căn nhà trọ nằm gần Ty Công chánh, trên khu đất khi ấy còn khá khoáng đạt.
Có lẽ phải đặt Trịnh Công Sơn trở lại chính hoàn cảnh ấy mới hiểu được phần nào những lá thư ông viết trong những năm B’Lao. Ban ngày là trường học, học trò, phấn trắng. Rồi buổi chiều xuống. Thành phố nhỏ dần chìm vào sương và lạnh. Căn phòng trọ. Một ô cửa nhìn ra đường. Và ở rất xa miền cao nguyên ấy là Huế, là Dao Ánh, người con gái ông yêu. Khoảng cách giữa B’Lao và Huế khi ấy được nối bằng những lá thư. Lá thư đề ngày 2 tháng 9 năm 1964 cho thấy một B’Lao rất sớm trong đời sống của Trịnh: đồi núi chìm trong đêm mù sương, cái lạnh cao nguyên, ngọn nến giữa khuya và nỗi nhớ người con gái ở xa. Sang ngày hôm sau, ông đã thấy mình gần như “thuộc lòng vẻ buồn” của những buổi chiều nơi đây. Chỉ vài ngày ở một miền đất mới, phong cảnh đã bắt đầu đi vào tâm trạng.
Dao Ánh, bởi vậy, không chỉ là người nhận thư. Trong những năm B’Lao, nàng dường như trở thành một phương hướng tinh thần. Một nơi để nỗi nhớ tìm về. Một địa chỉ để cô độc có thể gọi tên. Dao Ánh đã cho nỗi cô độc B’Lao của Trịnh một địa chỉ. Và khi cô độc có một địa chỉ, nó bắt đầu hóa thành ngôn ngữ. Những lá thư cứ thế đi về giữa cao nguyên và Huế. Trong thư có những chuyện rất nhỏ của một ngày sống, có những chuyến đi, những người bạn, những cơn mưa, cái lạnh, những buổi sáng sương phủ. Nhưng càng đọc, người ta càng thấy thiên nhiên B’Lao dường như đang thấm dần vào cách Trịnh cảm nhận thế giới.
Một lá thư đầu tháng 12 năm 1964 cho biết trong những ngày gần như nằm vùi một mình ở B’Lao, giữa những buổi sáng sương mù và hoa cỏ tím, Trịnh đã viết xong bản nhạc Còn tuổi nào cho em. Đó là một chi tiết khiến tôi nghĩ rất lâu. Bởi từ một buổi sáng có sương, con người có thể chỉ nhìn thấy sương. Từ một bãi cỏ tím, người ta có thể chỉ nhìn thấy hoa cỏ. Nhưng trong một tâm hồn luôn nhạy cảm trước sự trôi đi của thời gian, sương có thể gợi sự mong manh, mây có thể gợi chia lìa, một gương mặt trẻ có thể khiến người ta nghĩ đến ngày tuổi trẻ ấy không còn. Có lẽ cái nhìn Trịnh Công Sơn đã vận động theo cách ấy.
Ông nhìn cái đang có mà dường như đã nghe thấy tiếng bước chân của cái sẽ mất. Nhìn tuổi trẻ mà đã nghĩ đến tuổi trẻ qua đi. Nhìn một người con gái mà đã dự cảm một ngày xa cách. Nhìn một buổi chiều mà đã thấy trong nó dấu vết của tàn phai. Bởi vậy, cái đẹp trong Trịnh rất hiếm khi đứng yên. Nó thường đẹp trong lúc đang trôi khỏi bàn tay con người. Dao Ánh trong những lá thư cũng vậy. Nàng ở xa. Chính khoảng cách khiến người con gái bằng xương bằng thịt dần được bao phủ bởi tưởng tượng. Một mái tóc, một bàn tay, một ánh mắt, một bước chân… qua nỗi nhớ của người ở xa trở nên mong manh hơn, đẹp hơn, và cũng dễ mất hơn. Tình yêu ấy làm tôi nghĩ đến một viên đá lạnh nằm trong lòng bàn tay. Ta biết nó có thật bởi ta cảm thấy cái lạnh của nó trên da thịt. Nhưng càng giữ, hơi ấm của chính bàn tay mình càng làm nó tan đi. Muốn cảm nhận sự hiện hữu của nó thì phải chấp nhận rằng nó đang mất. Mà buông tay để giữ nguyên nó, ta lại không còn được chạm vào. Có những vẻ đẹp không mất đi vì ta đã buông tay. Chúng mất đi ngay trong lúc ta còn đang nâng niu.
B’Lao giữ Trịnh ở một đầu của nỗi nhớ. Huế giữ Dao Ánh ở đầu kia. Và khoảng cách tưởng như nghiệt ngã ấy, trong một thời gian nào đó, lại giữ được nguyên vẹn hình bóng người con gái trong tâm tưởng người yêu. Nhưng thời gian thì không bao giờ đứng lại. Nếu B’Lao chỉ có tình yêu và sương lạnh, có lẽ B’Lao đã chỉ ở lại trong Trịnh như một miền của tình ca. Nhưng còn một B’Lao khác, sâu hơn, khó nhìn thấy hơn. Đó là B’Lao của những suy tưởng về thân phận. Tôi vẫn thường tự hỏi, trong những buổi chiều sương xuống rất sớm trên phố núi, khi lớp học đã tan, khi căn phòng trọ chỉ còn một chàng trai trẻ đối diện với chính mình, Trịnh Công Sơn đã nghĩ gì?
Sự cô độc có một quyền năng lạ lùng. Nó làm người ta buồn, nhưng cũng bắt người ta phải nhìn sâu vào bên trong. Khi những huyên náo bên ngoài lắng xuống, những câu hỏi tưởng như có thể lảng tránh giữa đám đông lại trở về: Con người sống để làm gì? Vì sao yêu thương luôn đi cùng mất mát? Vì sao cái đẹp vừa hiện hữu đã thấp thoáng bóng dáng tàn phai? Và cuối cùng, một kiếp người ngắn ngủi sẽ đi về đâu? Đó cũng là những năm tư tưởng hiện sinh có ảnh hưởng mạnh trong đời sống trí thức, văn nghệ ở các đô thị miền Nam. Những câu hỏi về hiện hữu, cô đơn, phi lý, sự hữu hạn và cái chết được thảo luận rộng rãi trong sách báo, giảng đường và đời sống tinh thần của một lớp người trẻ. Trịnh Công Sơn không đứng ngoài khí quyển tư tưởng ấy. Trong thư từ, ông từng nhắc tới Albert Camus, từng ví mình với Sisyphe – con người phải mãi đẩy tảng đá lên núi để rồi nhìn nó lăn xuống và lại bắt đầu.
Nhưng trong Trịnh, cảm thức hiện sinh ấy còn gặp một mạch nguồn khác: tinh thần Phật giáo và ý thức về vô thường. Một phía khiến con người ý thức sâu sắc về sự cô độc và hữu hạn của tồn tại. Một phía nhắc rằng mọi hình tướng đều biến đổi, có sinh thì có diệt, có gặp gỡ đã hàm chứa chia lìa. Hai dòng suy tưởng đến từ những chân trời khác nhau, nhưng khi đi vào Trịnh dường như cùng gặp nhau ở một câu hỏi: phận người là gì giữa một cuộc đời ngắn ngủi đến thế? Có lẽ vì vậy, trong thế giới Trịnh, con người vừa hiện hữu đã như đứng trước bóng dáng của hư vô.
Một tuổi xanh rồi sẽ qua. Một tình yêu rồi có thể mất. Một thân thể cuối cùng trở về với đất. Một cuộc gặp gỡ, ngay trong phút giây hạnh phúc nhất, đã mang sẵn khả năng của chia lìa. Nhưng Trịnh không dừng lại ở tuyệt vọng. Nếu chỉ có cảm thức về sự vô nghĩa và hữu hạn, thế giới Trịnh có lẽ đã tối hơn rất nhiều. Nhưng ở nơi cái nhìn hiện sinh gặp tinh thần Phật giáo, ý thức về khổ đau lại dẫn tới một điều khác: lòng thương. Con người nhỏ bé nên thương con người. Kiếp sống ngắn ngủi nên càng không đáng để hủy diệt nhau. Mọi thứ rồi sẽ mất nên một cuộc gặp gỡ càng đáng quý. Một người rồi cũng phải rời khỏi cuộc đời nên điều còn có thể làm cho nhau, trong khoảng thời gian rất ngắn được cùng hiện hữu, có lẽ chỉ là yêu thương.
Từ đây, tôi dường như hiểu thêm vì sao cái chết hiện diện nhiều trong thế giới Trịnh Công Sơn mà âm nhạc của ông không phải là một lời kêu gọi tuyệt vọng. Ông nói nhiều về mất mát nhưng lại thiết tha với sự sống. Ông nhìn thấy hư vô nhưng vẫn đau đáu về tình yêu. Ông nhận ra con người mong manh mà chính vì thế càng thương con người hơn. Đá, bụi, cỏ cây, giọt nước, một chiếc lá, một thân người… những vật thể nhỏ bé và bình thường về sau bước vào ca từ rồi bất chợt mang câu hỏi về sinh tử. Con người đến rồi đi. Còn rồi mất. Gặp rồi chia lìa. Một cuộc đời tưởng dài mà hóa ra chỉ như một lần ghé lại. Nếu cảm thức hiện sinh khiến con người ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của tồn tại, thì tinh thần Phật giáo đặt sự hữu hạn ấy trong lẽ vô thường. Và ở Trịnh, giữa hai bờ tư tưởng ấy có một cây cầu. Cây cầu ấy là tình thương.
Không phải B’Lao đã tạo ra tất cả những suy tưởng ấy. Trịnh mang đến đây những ám ảnh đã có trong mình, mang theo những gì ông đã đọc, đã học, đã hấp thụ từ gia đình, văn hóa Huế và đời sống trí thức đương thời. Sau B’Lao, những suy tưởng ấy còn tiếp tục biến đổi trong suốt mấy chục năm sáng tác. Nhưng B’Lao cho chúng một không gian để lắng xuống. Một nơi đủ xa để cô độc. Đủ buồn để suy tưởng. Đủ đẹp để yêu cuộc sống. Và cũng đủ gần chiến tranh để hiểu rằng cuộc sống có thể bị tước khỏi con người bất cứ lúc nào.
Có những tư tưởng người ta gặp trong sách. Nhưng phải đến một lúc nào đó của đời sống, chúng mới trở thành máu thịt. Tôi nghĩ B’Lao đã là một khoảng đời như thế đối với Trịnh Công Sơn. Ở đây, triết học không còn chỉ nằm trên những trang sách. Cái hữu hạn có gương mặt của một người bạn không trở về. Cô độc là một căn phòng sau buổi chiều xuống. Vô thường là một người con gái đang lớn lên từng ngày ở một nơi xa mà người yêu biết rằng mình không thể giữ mãi trong hình hài của ký ức. Còn khổ đau là một đất nước mà những người trẻ cùng thế hệ ông đang sống từng ngày giữa chiến tranh. Nguyễn Văn Ba, người bạn và đồng nghiệp từng thuê nhà cùng Trịnh ở B’Lao, đã chết vì trúng mìn trên một chuyến xe B’Lao – Sài Gòn. Những hồi ức về thời kỳ này kể rằng cái chết ấy khiến Trịnh đau đớn.
Tôi cứ nghĩ về căn phòng ấy. Những người trẻ từng ngồi với nhau, trò chuyện với nhau, cùng đi qua những tháng ngày tưởng như còn rất dài phía trước. Rồi bỗng nhiên một người không trở về. Trước đó, cái chết có thể là một câu hỏi. Từ lúc ấy, cái chết mang tên một người bạn. Có những biến cố không cần phải ồn ào để làm thay đổi một con người. Chúng chỉ để lại một khoảng trống. Nhưng từ khoảng trống ấy, thế giới không bao giờ còn giống như trước. Quốc lộ 20 cũng vì thế trở thành một đường nét đặc biệt trong những năm B’Lao. Con đường nối phố núi với Sài Gòn, với Đà Lạt, với bạn bè, với những cuộc gặp gỡ và một thế giới rộng hơn căn phòng của người thầy giáo trẻ. Trịnh đi lại trên tuyến đường này. Những chuyến đi đưa ông tới đời sống văn nghệ, tới những người sẽ bước vào hành trình nghệ thuật của mình. Một con đường từng mang rất nhiều khuôn mặt của tuổi trẻ. Nó đưa người ta đến với bạn bè. Đưa những bài hát từ một góc núi ra thành phố. Nhưng cũng chính con đường ấy mang theo tin về cái chết của một người bạn. Có những con đường không chỉ nối hai địa điểm. Chúng nối những phần khác nhau trong đời một con người.
Và bên ngoài những chuyến đi ấy, chiến tranh đang đến gần hơn.
Trịnh đến B’Lao vào tháng 8 năm 1964. Những năm 1965, 1966, 1967 là những năm chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bất trắc không còn là câu chuyện ở đâu xa. Nó hiện diện trên những con đường, trong những chuyến xe, trong số phận những người trẻ cùng thế hệ. Có lẽ khi ấy, câu hỏi về thân phận không còn là câu hỏi của riêng triết học. Con người bé nhỏ đến đâu trước chiến tranh? Một đời sống mong manh đến đâu trước một viên đạn, một trái mìn? Một người đang có mặt trong cuộc đời này có thể biến mất nhanh đến mức nào?Và nếu kiếp người đã ngắn ngủi, đã đầy bất trắc như thế, tại sao con người còn làm đau nhau?

Tôi nghĩ có một sợi dây rất sâu nối những suy tưởng về thân phận trong tình ca Trịnh Công Sơn với những ca khúc về chiến tranh. Ở tầng sâu nhất, cả hai cùng bắt đầu từ một nỗi ám ảnh: sự sống quá mong manh. Trong tình yêu, sự mong manh ấy là một người có thể rời xa một người. Trong kiếp người, đó là tuổi trẻ rồi sẽ tàn phai, thân xác rồi sẽ trở về với đất. Trong chiến tranh, sự mong manh ấy trở nên khốc liệt hơn: con người có thể bị tước mất chính sự sống của mình. Bởi vậy, Trịnh Công Sơn đi đến chiến tranh không hẳn từ tiếng súng. Ông đi đến chiến tranh từ thân phận. Ông nhìn chiến tranh trước hết bằng nỗi đau của một người thương con người. Có lẽ đó cũng là lý do trong những ca khúc về chiến tranh của Trịnh, ta thường gặp những con người bình thường hơn là những khái niệm lớn lao: người mẹ, người con, những người trẻ, những phận người phải lìa nhau, những thân xác nằm xuống, những ngôi nhà và những miền quê bị hủy hoại. Đất nước hiện lên không phải như một ý niệm trừu tượng. Đất nước là những con người đang đau.
Nhìn lại ba năm B’Lao, tôi không muốn chỉ đếm xem Trịnh Công Sơn đã viết bao nhiêu lá thư ở đây, sáng tác chính xác bao nhiêu bài hát tại đây. Những con số ấy cần thiết cho một khảo cứu, nhưng vẫn chưa đủ để trả lời câu hỏi B’Lao đã để lại điều gì trong gia tài nghệ thuật của ông. Điều quan trọng hơn nằm ở một sự chuyển hóa. Từ cảnh vật thành tâm cảnh. Từ cô độc thành suy tưởng. Từ tình yêu thành ý thức về mất mát. Từ mất mát thành cảm thức về vô thường. Từ một thân phận đến những thân phận. Và từ nỗi buồn riêng của một người đến nỗi đau về con người trong chiến tranh.
Ba năm B’Lao là những năm nỗi buồn riêng của Trịnh Công Sơn gặp nỗi đau chung của lịch sử. Cuộc gặp ấy rồi sẽ đi rất xa trong âm nhạc của ông. Nó đi tới những bài hát về thân phận, quê hương, chiến tranh và hòa bình. Và cuối cùng, dường như vẫn trở về với điều giản dị nhất: con người cần thương lấy con người. Năm 1967, Trịnh Công Sơn rời B’Lao. Không biết vào buổi sáng hay buổi chiều nào, trong một ngày nắng hay một ngày sương, người thầy giáo trẻ đã thu xếp những gì của mình để rời căn phòng trọ và ngôi trường nhỏ ở Bảo An. Những tư liệu còn lại không cho phép tôi phục dựng một cách chắc chắn khoảnh khắc ấy. Và có lẽ cũng không cần phải tưởng tượng thêm cho quá khứ những chi tiết mà quá khứ không để lại.
Chỉ biết rằng một quãng đời đã khép.
Bản danh sách khóa 20 của Trường Bộ binh Thủ Đức đã có tên Trịnh Công Sơn. Ông rời Trường Sơ học Bảo An, rời nghề dạy học ở B’Lao nhưng không vào quân trường. Một bước ngoặt đã xảy ra. Năm 1967 còn là một năm của những cuộc rời xa khác. Ngày 25 tháng 3 năm ấy, từ Huế, Trịnh Công Sơn viết lá thư khép lại mối tình với Dao Ánh. Một tình yêu được nâng niu qua những năm B’Lao cô độc cuối cùng cũng đi đến đoạn kết.
Tôi vẫn nghĩ có điều gì đó thật buồn trong sự gần nhau của những cuộc rời xa ấy.
Rời một người.
Rời một ngôi trường.
Rời một nghề nghiệp.
Rời một miền đất.
Một phần tuổi trẻ dường như cũng được để lại phía sau.
Dao Ánh rồi sẽ đi tiếp cuộc đời của Dao Ánh. Người nữ sinh trong trẻo của Huế sẽ lớn lên, bước vào một thế giới rộng hơn, trở thành một người phụ nữ với những lựa chọn và số phận riêng. Còn Dao Ánh trong tâm tưởng Trịnh dường như sẽ ở lại lâu hơn – như một hình bóng của tuổi trẻ, cái đẹp và những gì con người từng muốn giữ nhưng không thể giữ. Tình yêu ấy làm tôi lại nghĩ đến viên đá lạnh trong lòng bàn tay. Không phải đến lúc buông tay nó mới tan. Nó tan ngay trong bàn tay đang muốn giữ nó nhất. Có lẽ Trịnh đã nhìn thấy điều ấy rất sớm: cái đẹp không chỉ đẹp bởi nó đang có. Có khi cái đẹp trở nên đau đớn chính bởi trong khoảnh khắc ta nhận ra nó, ta đồng thời biết rằng nó sẽ không còn mãi. Và rồi người ta phải học cách sống với những gì không thể giữ. Đó cũng là vô thường.
Nhưng kỳ lạ thay, khi một cánh cửa khép lại, một cánh cửa khác trong đời Trịnh Công Sơn mở ra. Từ cuối những năm sáu mươi, sự kết hợp với Khánh Ly đưa tiếng hát và ca khúc Trịnh đến đông đảo công chúng, đặc biệt là giới trẻ, sinh viên. Người thầy giáo của một ngôi trường nhỏ ở B’Lao bước sang một đời sống khác.
Tôi không muốn biến năm 1967 thành một đường ranh quá gọn ghẽ. Đời người không bao giờ chuyển từ chương này sang chương khác rành rọt như khi ta lật một trang sách. Nhưng nhìn từ hơn nửa thế kỷ sau, thật khó không nhận ra ý nghĩa của thời điểm ấy. Người thanh niên đến B’Lao năm 1964 là một giáo sinh vừa tốt nghiệp, mang theo những bản nhạc đã viết, một đời sống nội tâm nhiều bất an và một tình yêu đang lớn dần trong những lá thư. Người rời B’Lao ba năm sau đã khác. Phía sau ông là một ngôi trường nhỏ. Một căn phòng trọ. Một người bạn đã chết. Những lá thư. Một mối tình đang đi đến đoạn cuối. Những buổi chiều sương xuống. Những chuyến xe trên Quốc lộ 20. Và những câu hỏi ngày một lớn hơn về sống, chết, chiến tranh, quê hương và phận người. Trịnh Công Sơn đến B’Lao vì một sự phân công nghề nghiệp. Nhưng khi rời B’Lao, ông gần như cũng rời luôn con đường nghề nghiệp mình đã được đào tạo để bước sâu hơn vào con đường mà lịch sử văn hóa về sau sẽ nhớ đến ông.
Ba năm B’Lao. Thật ngắn trong một đời người. Nhưng có những miền đất, con người chỉ đi qua vài năm mà phải mất cả phần đời còn lại để đi ra khỏi nó. Và cũng có những miền đất, một khi đã đi vào nghệ thuật, sẽ không còn được đo bằng thời gian người nghệ sĩ từng cư trú ở đó nữa.
Hơn sáu mươi năm sau, tôi đi tìm B’Lao. Tôi tìm một ngôi trường không còn. Tìm một căn nhà đã mất. Tìm Ty Công chánh năm xưa chỉ còn có thể khoanh lại trong ký ức địa phương và không gian đô thị đã đổi thay. Tôi đi trên những con đường mà Trịnh từng đi qua, nhưng không còn biết bước chân nào của mình có vô tình đặt đúng lên một dấu chân cũ. Có một nỗi buồn rất lạ khi đi tìm dấu tích của một người đã khuất. Ta biết người ấy từng ở đây. Từng thức dậy vào một buổi sáng. Từng mở một cánh cửa. Từng nhìn qua một ô cửa sổ. Từng đi trên một con đường. Từng trở về một căn phòng khi chiều xuống. Mọi điều đều đã xảy ra. Vậy mà khi tôi đến, gần như chẳng còn gì để chạm tay vào.
Bảo Lộc hôm nay đông đúc hơn rất nhiều. Những con đường đã ken nhà cửa. Khu trung tâm sáng sủa, nhộn nhịp. Xe cộ đi lại liên tục. Quán cà phê, cửa hiệu, những khu dân cư nối nhau mở rộng. Cái cảm giác của một “góc núi” xa xôi mà tôi từng tưởng tượng khi đọc những lá thư Trịnh gần như không còn.Tôi đã nghĩ: có lẽ mình đến quá muộn. Muộn hơn sáu mươi năm. Nhưng rồi sương xuống. Và mọi thứ bỗng thay đổi.
Sương tràn qua những dãy phố. Những căn nhà phía xa nhòa đi. Mây xuống thấp. Thành phố đang rõ ràng bỗng trở nên mơ hồ. Những đường nét của hiện tại mềm ra trong một lớp trắng bảng lảng. Tôi chợt hiểu có những dấu tích không thể tìm bằng một địa chỉ. Bởi một căn nhà có thể mất. Một ngôi trường có thể mất. Một người có thể đi khỏi thế gian. Nhưng sương vẫn xuống theo cách của sương. Mây vẫn đi theo cách của mây. Và núi Đại Bình vẫn ở đó.
Chiều nay, tôi lên núi Đại Bình.
Từ trên cao nhìn xuống, Bảo Lộc trải rộng dưới chân núi. Không còn là phố thị nhỏ mà Trịnh từng sống. Thành phố lan ra giữa những mảng xanh, những mái nhà, những con đường. Mây rất lớn. Nắng lúc hiện lúc mất. Có những khoảnh khắc ánh sáng tràn xuống thành phố rồi chỉ ít phút sau tất cả lại chìm trong bóng mây. Tôi đứng trên Đại Bình và bất giác nghĩ về một sự đảo chiều của cái nhìn. Hơn sáu mươi năm trước, từ B’Lao, Trịnh từng nhìn về phía Đại Bình. Hôm nay, từ Đại Bình, tôi nhìn xuống B’Lao.
Trịnh nhìn lên.
Tôi nhìn xuống.
Giữa hai cái nhìn là hơn sáu mươi năm.Một thành phố đã thay đổi. Một đời người đã đi hết. Và một gia tài âm nhạc vẫn còn. Tôi đã đến đây để tìm B’Lao của Trịnh Công Sơn. Nhưng đến lúc đứng trên Đại Bình, tôi hiểu rằng có lẽ mình sẽ không bao giờ tìm được B’Lao ấy nguyên vẹn ngoài đời. B’Lao của năm 1964 đã mất rồi. Nhưng có một B’Lao khác không mất. Nó nằm trong những lá thư gửi Dao Ánh. Nằm trong những buổi chiều, những đêm lạnh, những màn sương đã được một tâm hồn cô độc giữ lại bằng ngôn từ. Nằm trong những ca khúc mà cảnh vật không còn là cảnh vật, bởi đã đi qua một tâm hồn và mang theo nỗi buồn của tâm hồn ấy. Nằm trong cảm thức về tuổi trẻ đang qua, về tình yêu không thể giữ, về một kiếp người mong manh, về cái chết, chiến tranh, quê hương và khát vọng con người được thương yêu nhau. B’Lao đã đi từ địa lý vào tâm hồn Trịnh Công Sơn. Rồi từ tâm hồn Trịnh Công Sơn đi vào nghệ thuật. Và từ nghệ thuật, nó trở lại với những người chưa từng biết B’Lao. Như tôi của nhiều năm trước. Chưa từng đặt chân đến đây mà đã nhớ một miền đất mình chưa từng đến.
Chiều trên Đại Bình, mây vẫn trôi. Tôi nhìn xuống thành phố và nghĩ, thời gian thật kỳ lạ. Nó lấy đi gần như tất cả. Một căn nhà. Một ngôi trường. Một tuổi trẻ. Một tình yêu. Những người bạn. Cuối cùng, nó lấy cả một đời người. Nhưng thời gian cũng bất lực trước một vài thứ. Một bài hát. Một nỗi nhớ. Một miền đất đã được nghệ thuật hóa. Và tôi chợt nghĩ đến những lần mình tìm đến nhạc Trịnh. Thường là những lúc buồn. Những lúc cô đơn. Những lúc trong lòng có một điều gì đó không dễ gọi thành tên. Tôi nghe Trịnh không hẳn để tìm một niềm vui làm khuây khỏa nỗi buồn. Nhạc Trịnh cũng ít khi an ủi con người bằng cách nói rằng cuộc đời vốn nhẹ nhàng. Trái lại, ông thường dẫn ta đi sâu hơn vào chính điều đang khiến ta đau: sự cô độc, chia lìa, mất mát, tuổi trẻ qua đi, tình yêu không thể giữ, một kiếp người nhỏ bé giữa cõi đời rộng lớn. Vậy mà kỳ lạ, đi hết một bài hát buồn của Trịnh, nhiều khi lòng người lại nhẹ hơn. Có lẽ bởi nỗi buồn ấy rất trong. Nó không kéo con người chìm xuống. Nó giúp ta nhìn xuyên qua nỗi buồn để nhận ra một sự thật giản dị mà khó chấp nhận: đời sống vốn vô thường. Không có tuổi trẻ nào ở mãi. Không có cuộc gặp gỡ nào không hàm chứa khả năng chia xa. Không có một thân phận nào thoát khỏi khổ đau, mất mát và cái chết. Khi hiểu điều ấy, con người có lẽ không bớt đau. Nhưng ta có thể bình tĩnh hơn trước những gì đến và đi. Và cũng có thể sống trách nhiệm hơn. Trách nhiệm với những ngày mình đang có. Với người đang ở bên mình. Với một cuộc gặp gỡ còn chưa muộn. Với một lời yêu thương còn có thể nói. Với cả những con người xa lạ mà ta biết cũng chỉ đang mang một thân phận mong manh như chính mình.
Có lẽ đó là điều tôi nhận được sâu sắc nhất từ những chiêm nghiệm của Trịnh Công Sơn về phận người. Ông không giúp ta quên rằng cuộc đời có khổ đau. Ông giúp ta nhìn thẳng vào khổ đau mà không tuyệt vọng. Ông không phủ nhận hư vô, nhưng từ phía hư vô lại nhắc con người thiết tha hơn với sự sống. Ông nói nhiều về cái chết, để cuối cùng người nghe hiểu thêm giá trị của những ngày mình còn sống. Và ở điểm ấy, tôi lại nghĩ đến sự gặp gỡ kỳ lạ giữa cảm thức hiện sinh và tinh thần Phật giáo trong Trịnh: nhìn thấu sự mong manh của kiếp người không phải để buông xuôi trước cuộc đời, mà để biết thương cuộc đời hơn. Tôi bỗng hiểu vì sao sau bao nhiêu năm, mỗi khi buồn tôi vẫn tìm về những bài hát ấy. Có lẽ tôi không tìm đến Trịnh để được làm cho hết buồn. Tôi tìm đến Trịnh để học một cách sống cùng nỗi buồn. Sống với nó mà không cay đắng. Nhìn thấy mất mát mà không thôi yêu thương. Biết mọi thứ rồi sẽ qua mà vẫn trân trọng những gì đang có.
Trên Đại Bình, mây vẫn đi qua trước mắt tôi như đã từng đi qua bầu trời B’Lao hơn sáu mươi năm trước. Dưới kia, thành phố đã khác. Ngôi trường không còn. Căn nhà không còn. Những con người của một thuở B’Lao phần lớn cũng đã đi xa. Chỉ núi vẫn còn, sương vẫn xuống, mây vẫn trôi. Và những bài hát vẫn còn. Tôi đã đến Bảo Lộc để tìm B’Lao của Trịnh Công Sơn. Nhưng cuối cùng tôi hiểu rằng B’Lao ấy không còn nằm nguyên vẹn ở một địa chỉ nào để người đến sau có thể tìm thấy. Nó đã đi từ địa lý vào tâm hồn Trịnh Công Sơn. Từ tâm hồn Trịnh đi vào âm nhạc. Và từ âm nhạc, nó lại đi vào tâm hồn những người khác. Có cả tôi.
Hơn sáu mươi năm trước, giữa sương lạnh của một phố núi xa xôi, một người thanh niên đã lặng lẽ giữ lại bằng những lá thư và những bài hát những gì thời gian nhất định sẽ mang đi. Trịnh Công Sơn chỉ sống ở B’Lao gần ba năm. Nhưng B’Lao đã sống trong cõi Trịnh lâu hơn rất nhiều. Và qua Trịnh, một B’Lao của sương, của mây, của cô độc, tình yêu và những chiêm nghiệm về phận người vẫn còn tiếp tục sống trong lòng những người chưa từng biết B’Lao của ngày xưa.
Núi Đại Bình, chiều 15.9.2026
NGUYỄN THỊ VIỆT NGA
- Tản văn của Bùi Thanh Hà: Xuân về nhớ ngoại
- Thơ 1-2-3 Hoàng Hải Phương: Hun hút hố đen lương tâm chới với nghĩ về em
- Thơ 1-2-3 Trần Thanh Dũng: mùa hè dán lên chiều màu lửa
- Khương Thị Mến với mỹ cảm nữ tính trong thơ chiêm nghiệm
- Thơ 1-2-3 Trần Thanh Mai: Lắng tiếng khóc tình xưa trong lòng hồ Than Thở

















