Bút ký Trương Thị Thương Huyền: Chợ phiên giữa biển mây

Y Tý là xã vùng cao thuộc tỉnh Lào Cai vốn có một sức hấp dẫn lạ kỳ với người đam mê khám phá bởi những bản làng chênh vênh ở độ cao 2.000m so với mặt nước biển. Với địa hình hiểm trở và hình thái thời tiết riêng biệt của mình, Y Tý được mệnh danh là “mảnh đất của ngàn mây” hay “thiên đường mây”.

Lời hẹn trong gió hú

Như đôi má hồng lựng của cô gái Hà Nhì đen xuống chợ, đẹp đấy mà khó diễn tả đẹp thế nào, vì sao đẹp bởi khi đó chỉ thấy gặp là rộn ràng cảm xúc là thấy tim mình nhảy nhịp. Cũng như Y Tý, nơi này không chỉ hấp dẫn bởi sự hùng vĩ, bởi sự biến ảo kỳ lạ của mây, bởi cảnh đẹp hoang sơ của núi rừng đại ngàn với sắc màu hoa trái, Y Tý còn níu chân khách bằng hương vị nồng nàn của rượu thóc mầm Sim San, của gạo séng cù… cùng những nét văn hóa độc đáo của các dân tộc ít người như Mông, Dáy, Dao đang sinh sống tại các bản làng mang những cái tên khá đẹp như Hồng Ngài, Trung Chải, Nhìu Cồ San, Phan Cán Sử, Sim San, Lao Chải, Chỏm Thèn, Ngải Trồ, Tả Dền Thàng… Và sắc màu văn hóa độc đáo, phong phú có lẽ được tập trung nhiều nhất tại chợ phiên Y Tý. Đó cũng là một trong những lý do kéo chúng tôi vượt qua những khúc cua gập ghềnh trên con đường ngoằn ngoèo như sợi chỉ mỏng len lỏi quanh sườn núi từ thành phố Lào Cai – Bát Xát – Trịnh Tường – A Mú Sung – A Lù – Ngải Thầu để đến Y Tý khi mặt trời đã tắt đèn nhường chỗ cho mây mù bao phủ, khi gió bắt đầu hú dọc những mái nhà để chờ đợi chợ phiên họp vào sáng hôm sau.

Chợ phiên nằm ở trung tâm xã Y Tý, họp vào mỗi ngày thứ bảy hàng tuần là nơi trao đổi hàng hóa và cũng là điểm gặp gỡ của bà con khắp các xã trong vùng chứ không riêng các bản thuộc “quân số” của xã Y Tý. Người từ A Lù vào, người từ Ngải Thầu lên, người từ bên kia Trung Quốc qua. Có người vượt chặng đường gần ba chục cây số từ Amu sung cũng đến chợ… Đường từ những xã quanh Y Tý ấy đến chợ phiên này cũng chẳng dễ dàng gì. Mà chẳng riêng các xã bạn, ngay các bản thuộc Y Tý, muốn đến chợ phiên cũng phải vượt qua chặng đường không hề ngắn như từ bản Sim San ra khoảng 18 km đường “khủng”, từ Hồng Ngài ra cũng chừng hơn hai chục cây số. Để vượt qua chặng đường ấy, người Mông ở bản Hồng Ngài muốn đến chợ sẽ phải dò dẫm qua vô vàn khúc cua tay áo rồi lái xe nhảy chồm chồm trên con đường đoạn đã được đổ bê tông, đoạn toàn đá hộc nhẵn như đầu trọc, bị mây bao ướt nhoét làm bánh xe trơn tuột cùng vô vàn con dốc mà khi leo lên, dẫu đã cố dính chặt vào yên xe, người vẫn như sắp ngã ngửa về phía sau. Tôi đã từng đi dọc con đường ấy. Dẫu trước mặt tôi là đôi vai rắn chắc vững vàng của “người biên phòng” cầm lái thì vẫn có lúc tim tôi muốn rớt khỏi lồng ngực khi thấy cú xóc khiến mình như bay khỏi yên xe. Vậy mà chỉ khoảng hơn 6 giờ sáng, chợ phiên Y Tý đã nhộn nhịp.

Rộn ràng chợ, ngào ngạt chợ… trong mây

Nhưng đông nhất vẫn phải chờ đến khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến qua trưa, sang chiều, khi nắng đang rực rỡ nhất vào những ngày không mưa và mây thì cứ nhịp nhàng đùn lên từ dưới thung sâu, theo gió bọc dần những bản làng. Và giữa cái nhập nhòa ảo ảnh của mây bao phủ, bao sản vật của vùng đất này hiện ra. Nào gạo séng cù, gạo nếp nương, nào lạc, nào gừng, nào thảo quả, đương quy, hoàng sìn cô, giảo cổ lam… đến các loại rau, củ cải, chuối… Bà con khắp các bản trong vùng mang đến chợ tất cả những gì họ tự canh tác được để trao đổi lấy những gì họ cần có cho cuộc sống hiện tại. Tiếng Mông, tiếng Dao, tiếng Hà Nhì, tiếng Kinh cứ ríu rít, líu lô, râm ran và miên man sắc màu trang phục cứ rực rỡ khắp một khoảnh thung lũng đang được bọc trong một tấm chăn mây màu trắng xốp.

Ấn tượng hơn cả ở chợ Y Tý với người nơi xa đến có lẽ là những món ăn. Dừng chân trước thúng hàng bán bánh mật của bà lão người Hà Nhì. Tôi nghe bà lão gọi vậy chứ không hề biết loại bánh nặn tròn như bánh rán dưới xuôi nhưng không có nhân lại làm mỏng dẹt đang dính bết vào nhau bởi thứ mật ong thơm lựng kia có tên ấy. Mặc bộ quần áo màu đen đặc trưng của người Hà Nhì với những đường viền lượn cong như mây vờn, gài tà lại bằng những chiếc khuy vải được tạo hình bông hoa nổi bật trên nền xanh đen của chiếc áo, đội trên đầu mái tóc giả khá độc đáo, bà lão cười móm mém: “1000 đồng một chiếc lớ” kèm một tràng tiếng Hà Nhì ríu rít như tiếng chim hót mà tôi không sao hiểu nổi. Mua một túi đầy, lân la làm người phụ bán hàng với bà lão, tôi mới biết bánh này được làm từ gạo nếp nương, ngâm, đãi rồi đồ xôi, sau đó cho vào cối giã mịn mà phải giã khi xôi còn nóng, vo nặn thành bánh, rán qua rồi rưới mật ong rừng lên, cứ xếp lần lượt một lớp bánh lại một lần mật. Thảo nào, những chiếc bánh cứ dính chặt vào nhau, xếp như vẩy tê tê. Vị ngọt của mật, vị ngậy của gạo nếp, vị thơm của gừng quyện chặt nơi đầu lưỡi, át đi cái lạnh của đất biên ải.

Rời thúng bánh mật của bà lão Hà Nhì, chúng tôi bị hút vào hàng rượu thơm lựng của người đàn ông có tên Tẩn Pù Lảo. Nhấp ngụm rượu trong vắt như nước suối, vị thơm nồng nàn cứ ngấm dần, ngấm dần… “Rượu mầm thóc Sim San đấy!”. Vẫn biết người vùng cao thường nấu rượu bằng men lá, nhưng với người dân bản Sim San, có lẽ nhờ vào vị ngọt của bao con suối, cộng với mây mù quanh năm quấn vít trong từng hạt thóc đã được ủ mầm nên dân Y Tý mới nấu được loại rượu mầm thóc đặc biệt thơm ngon này. Tên nghe đã lâu nhưng nay chúng tôi mới biết hương vị. Anh bạn biên phòng đi cùng thấy chúng tôi say sưa bên dãy hàng rượu vừa tìm hiểu phương thức nấu, vừa nhẩn nha thưởng thức liền ngấm nguýt: “Khéo say mà. Rượu này hơn 40 độ cơ, cháy như cái nhớ giấu trong lồng ngực này. Chị của anh đừng thấy vị dìu dịu, ngòn ngọt mà mơ. Say lúc nào không biết  đâu đấy” kèm nụ cười tủm hút như gió cuộn mây xuống thung sâu khiến người nghe chết lặng.

Sà xuống chiếc bàn ăn được ghép đơn sơ của quán hàng giữa chợ bên người đàn ông mà nhìn qua trang phục chúng tôi nhận ra anh là người Mông, chỉ vào đĩa thức ăn đang bốc khói nghi ngút giữa bàn, người bạn tặc lưỡi: “một đặc sản khác của Y Tý: mầm cây thảo quả xào mỡ lợn mán”. Chưa kịp được nếm, tôi chỉ thấy cô hàng đang nhanh tay chọn những mầm cây thảo quả mậm mạp, rửa sạch, vẩy cho ráo nước rồi với con dao cũng rất đặc biệt: nó cong như một vầng trăng khuyết, cô thái lát những mầm cây thảo quả ấy. Sơ chế xong, đặt chiếc chảo gang lên bếp lò than đang hừng hực cháy, cô hàng xắn miếng mỡ lợn mán trắng ngà, thả xèo vào chảo. rồi đổ mầm thảo quả đã thái lát vào, đảo nhanh tay. Hương thơm của mầm thảo quả xào bốc lên ngào ngạt. Chỉ tiếc, chúng tôi đã quá no nê sau một vòng chơi chợ. Nhưng nhất định, chuyến đi sau, chúng tôi sẽ thưởng thức món đặc sản này để thấm cái vị “ngọt rất sâu, thơm rất lâu, giòn tan sầu” của món mầm thảo quả xào mỡ lợn mán như lời anh bạn đã giới thiệu.

Không ăn mầm thảo quả, nhưng tôi cũng chưa vội rời bàn. Chúng tôi ngồi ngắm người đàn ông Mông nhỏ con, khuôn mặt đen đúa, nhưng đôi mắt sáng lạ lùng đang ngóng ra phía hàng quẩy tấu chờ vợ trước mặt. Trời lạnh ngằn ngặt, nhưng anh chỉ khoác bộ quần áo rất mỏng. Chỉ có đôi bàn tay đen đúa, xương xẩu cứ xoa xoa rồi lại đan chặt vào nhau. Anh tên Ly Dở Khừ, sáng sớm nay đã vượt con đường quanh co từ thôn Tả Di Thàng, dắt cả vợ con xuống chợ. Người Mông vốn kiệm lời, nhưng khi đã cởi mở lại rất dễ nói chuyện. Giọng Ly Dở Khừ khật khưỡng như chính cái tên của anh hay chính con đường từ bản anh xuống chợ. Anh khoe vừa thu được hơn trăm triệu đồng tiền thảo quả, lại cười, năm nay thảo quả dễ bán những 150 nghìn một cân, nên hôm nay đưa cả vợ con xuống chợ để mua sắm.

Theo cánh tay Ly Dở Khừ chỉ, giờ tôi mới rời mắt khỏi những mặt hàng nông sản của bà con để nhìn vào dãy hàng tiêu dùng như đồ điện tử, may mặc… mà phần lớn có nguồn gốc từ Trung Quốc đang được bán ở mé chợ bên kia. Tiếng nhạc phát ra từ đôi loa kéo nhiều thanh niên dân tộc chen chân vòng trong vòng ngoài. Chợt thấy mừng bởi trong số những chồng đĩa nhạc của cái quần hàng điện tử ấy còn có cả những đĩa hát ru bằng tiếng dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì và cả những đĩa múa khèn. Mừng nhưng nghe cứ son sót thế nào. Rồi lại ước, giá bây giờ, ngay giữa phiên này này, có một đám múa khèn của người Mông ở góc chợ phía xa kia, nhỉ…

Nhà văn Trương Thị Thương Huyền

No ấm chợ

Ai đó từng nói đại ý: Chợ là nơi thể hiện rõ nhất mức sống của người dân vùng ấy. Có lẽ đúng! Đến với chợ phiên Y Tý – Chợ phiên giữa biển mây này, chúng tôi đã phần nào cảm nhận được cuộc sống đang từng ngày thay da đổi thịt của bà con các dân tộc vùng biên viễn này. Và điều đó được khẳng định chắc chắn khi chúng tôi nâng ly rượu với “người Hà Nhì lớn” ở thôn Choản Thèn. Nụ cười đôn hậu, ông cụ gật gù: “Từ ngày được cán bộ, bộ đội biên phòng hướng dẫn cách khai hoang, cải tạo đất để làm lúa nước và kỹ thuật thâm canh cùng những giống ngô, giống lúa mới, bà con các dân tộc Y Tý đã tiến bộ nhiều rồi. Ngoài làm ruộng, làm nương, trồng các loại cây dược liệu quý nhất là thảo quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, ngựa, dê, lợn mán… nên thu nhập của bà con cũng khá nhiều rồi. Bình quân mỗi gia đình, mỗi năm cũng gieo được vài cân giống đủ thóc ăn quanh năm. Còn tiền bán nông sản nhất là thảo quả cũng được hàng chục thậm chí hàng trăm triệu đồng.

Cuộc sống của bà con dẫu chưa hết khó khăn nhưng được Đảng, Nhà nước và người dân cả nước quan tâm nên Y Tý giờ “bớt lạnh” dần mà! Chúng tôi bật cười vì cách nói chuyện hóm hỉnh của ông cụ. Chúng tôi biết, về thời tiết, Y Tý chưa hề “bớt lạnh”. Y Tý vẫn là mảnh đất có thời tiết rất khắc nghiệt nhất là về mùa đông, khi gió lạnh thông thốc thổi kéo ngày ngắn thật ngắn lại, khi mây mù và giá buốt bủa vây khắp núi đồi, làng bản; khi những mầm cây chưa kịp thành hình đã nhũn lại, héo quắt vì bỏng tuyết. Nhưng người Y Tý giờ đã biết làm du lịch cộng đồng. Hệ thống nhà nghỉ, homestay gắn bó cùng những sắc màu văn hóa riêng của các tộc người trên Y Tý đã kéo khách du lịch đến với miền đất này. Gương mặt chợ phiên rực rõ ngào ngạt hương thơm sắc màu hôm nay cho chúng tôi hiểu cuộc sống của người dân Y Tý quả thật đang ấm dần với những sắc màu tươi vui, ấm áp.

Lại nhẩn nha lượn thêm vòng nữa với vô vàn sắc màu của chợ phiên Y Tý. Câu nói “Dáy thấp, Mông cao, Dao lơ lửng…” của anh bạn biên phòng đúc kết địa bàn sống của các dân tộc ở Y Tý cứ văng vẳng bên tai khiến tôi bật cười, thầm gật gù công nhận khi nghĩ đến những ngôi nhà của người Mông chênh vênh trên sườn núi đá, những ngôi nhà như tổ chim của người Dao bên sắc xanh của rừng và những ngôi nhà hình nấm xếp như khối ru bíc của người Hà Nhì dưới thung lũng… Tất cả cùng đang ngập tràn trong sắc nắng giữa biển mây đang đùn lên, đẩy lên từ thung xa về, từ ngọn của hàng rào bao bọc bởi dãy Sừng trâu thâm u mà đồng bào Y Tý gọi bằng cái tên rất gợi Nhìu Cồ San kia… Và cả cái khắc nghiệt của thiên nhiên nơi vùng đất này… Nó đang trở thành nét riêng thu hút khách du lịch về với Y Tý, trong đó có chợ phiên.

Cuộc sống đang ngày nối ngày khởi sắc nơi vùng cao này như bếp lửa không bao giờ tắt trong ngôi nhà của người Hà Nhì, người Mông, người Dao Y Tý suốt mùa đông lạnh lẽo. Và chợ phiên cũng vẫn tiếp diễn vào mỗi sáng thứ Bảy cùng với nét văn hoá đặc trưng, quyến rũ của sắc màu thổ cẩm các dân tộc: Mông, Dao, Hà Nhì lại khi mờ khi tỏ trong mây, giữa chợ phiên vui như trong lễ hội Khô Già Già bên những ngôi nhà hình nấm.

Rời chợ, nụ cười hút hồn trên gương mặt có đôi má đỏ hồng, bụ bẫm của bé gái chừng 5 tuổi trong trang phục người Hà Nhì khiến tôi nôn nao mãi. Khoảnh khắc ấy, ánh mắt thơ ngây ấy lưu lại không chỉ trong máy ảnh mà cả trong tâm khảm khiến tôi xa Y Tý đã bao ngày mỗi lần nhìn lại đều phải xuýt xoa: Trời ơi! Nụ cười Y Tý!

TRƯƠNG THỊ THƯƠNG HUYỀN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *