Nhà văn Ivan Bunin: Con đường gập ghềnh đến với giải Nobel

Trong suốt thế kỷ XX, các thành viên của Viện Hàn lâm Thụy Điển chỉ tìm thấy năm nhà văn viết bằng tiếng Nga  theo ý kiến ​​của các “viện sỹ xứng đáng xét Giải thưởng Nobel Văn học. Những năm đầu cách đây 90 nămvào ngày 9 tháng 11 năm 1933, với sự khẳng định “vì kỹ năng nghiêm ngặt giúp ông phát triển truyền thống văn xuôi cổ điển Nga”, Ivan Alekseyevich Bunin đã nhận được giải thưởng danh giá này.

Nhà văn Ivan Alekseyevich Bunin (1870 – 1953) đoạt Giải thưởng Nobel Văn học 1933

Là người lưu vong, không có quốc tịch chính thức Bunin thực sự cần giải thưởng, và không chỉ như một dấu hiệu của sự công nhận chung về giá trị văn học. Vào thời điểm ấy gia đình Bunin cũng đang sống rất chật vật. Những người Nga lưu vong thuộc cánh hữu cũng mơ ước giải thưởng Nobel trao cho người đồng bào của họ. Trong những năm đó, một trận chiến hậu trường nghiêm trọng đã diễn ra, trong đó động cơ chính trị xen lẫn tham vọng đầy cháy bỏng của các nhà văn…

Không thể nói rằng trước đây Bunin chưa từng được vinh quang. Ở quê hương, ông đã hai lần được trao giải Pushkin với tư cách là một nhà thơ (cả hai lần cùng với những người được đề cử khác), thậm chí ông còn được bầu làm thành viên danh dự của Viện Hàn lâm Khoa học. Nhưng những vòng nguyệt quế ấy là chưa đủ đối với ông, bởi vì vào đầu thế kỷ XX Maxim Gorky và Leonid Andreev cũng đã đạt được những thành công tương đương trong lĩnh vực sáng tạo, cũng như tiểu thuyết của Dmitry Merezhkovsky, truyện ngắn và truyện cổ tích của Alexander Kuprin bán chạy ở Nga hơn các tác phẩm của Bunin. Niềm tự hào của Bunin bị tổn thương, nhưng ông khéo léo che giấu nó bằng cách cư xử của một nhà quý tộc bẩm sinh.

Sau cuộc Cách mạng tháng Mười, và sau khi bị lên án bởi tác phẩm “Những ngày vô vọng” Bunin ra nước ngoài với tư cách là một ngòi bút văn xuôi trưởng thành, một phong cách nổi trội và một bậc thầy ngôn từ tầm cỡ. Gần như ngay lập tức ông lọt vào danh sách ứng cử viên cho giải Nobel. Nhà văn, nhà báo và hội viên Hội Tam điểm có ảnh hưởng Mark Aldanov đã tình nguyện giúp đỡ Bunin.

Vào năm 1922, Mark Aldanov đề nghị nhà văn Pháp nổi tiếng Romain Rolland đề cử ba nhà văn Nga lưu vong tầm cỡ cho giải Nobel: Bunin, Merezkovsky và Cuprin. Một đề cử chung như thế sẽ nâng cao uy tín của nền văn học Nga nói chung, chứng minh cho cả thế giới thấy rằng không phải những đại diện tồi tệ nhất của người Nga đều phải sống lưu vong. Đối với những người Nga yêu nước, không có sự khác biệt cơ bản nào về việc một người đoạt giải sẽ được chọn hay giải thưởng sẽ được chia thành nhiều phần. Tuy nhiên, chính các nhà văn lại không tán đồng cách luận giải như vậy.Bắt đầu “Cuộc chạy đua trước cuộc bầu” với sự tham gia tích cực của các “trụ sở hỗ trợ”, khiến Ủy ban Nobel tràn ngập thư kiến ​​​​nghị cho các ứng cử viên của họ và buộc phải tìm kiếm những “ủng hộ viên” cho những người được đề cử.

Điều bất ngờ đối với nhiều người là vào năm 1923 Rolland vẫn đề cử ba người Nga, nhưng trong danh sách của Mark Aldanov chỉ còn lại Bunin, thêm hai ứng cử viên khả dĩ còn lại là Maxim Gorky và Konstantin Balmont. Người Pháp giải thích sự lựa chọn của bộ ba này một cách hào hoa: “Phục vụ không thiên vị cho nghệ thuật và ý tưởng… những công dân vĩ đại của tinh thần tự do”.

Trước năm 1933 Ivan Bunin được đề cử giải Nobel ba lần: vào các năm 1923, 1926 và 1930. Các “ngôi sao liên kết” rất chặt chẽ, các “người quảng bá” bận rộn, bản thân ứng viên cũng không đứng ngoài “cuộc đua” nhưng chiến thắng lần nào cũng lẩn tránh ông. Cuốn tiểu thuyết duy nhất “Cuộc đời của Arsenyev”, mà ông đã làm việc vất vả trong ba năm, đã được xuất bản đầy đủ ở Paris vào năm 1930. Tác giả coi sản phẩm mới này như một loại đầu máy xe lửa. Aldanov không mệt mỏi đã giới thiệu tác phẩm này cho Thomas Mann, nhưng ông do dự, và Sigurd Agrell, giáo sư nghiên cứu tiếng Slav tại Đại học Thụy Điển ở Lund, đã đề cử Merezhkovsky và Bunin kèm theo lưu ý: giải thưởng có thể được trao cho người đầu tiên trong số họ hoặc cả hai.

Kết quả là giải thưởng chính năm 1930 đã thuộc về Sinclair Lewis người Mỹ, và Ivan Bunin đã không còn hy vọng đoạt giải, điều mà ông đã nỗ lực rất nhiều. Vợ chồng Bunin ngày càng sống thiếu thốn tại biệt thự của họ ở Grasse, đôi khi chỉ sống bằng cháo kiều mạch. “Bây giờ mọi người đến với chúng tôi với đồ ăn nhẹ của riêng họ. Quả thực, chúng tôi đã trở nên rất nghèo”. Vợ của nhà văn đã ghi lại trong nhật ký của mình vào thời điểm đó.

Trong khi đó, Dmitry Merezhkovsky, người đã hai lần được đề cử giải Nobel trước cuộc cách mạng và sau đó liên tục nộp đơn xin giải thưởng này khi sống lưu vong, đã quyết định rằng ông cần phải hành động mạnh mẽ hơn nữa. Nhận ra đối thủ cạnh tranh chính của mình là Bunin, Dmitry Sergeevich vào mùa xuân năm 1932, tại một trong những “Chủ nhật” của mình, đã đề xuất một thỏa thuận của một quý ông với đối thủ cạnh tranh của mình: họ nói, chúng tôi làm việc cho chính mình và cho nhau, và người chiến thắng sẽ chia giải thưởng một nửa. Đồng thời, đề xuất đảm bảo thỏa thuận bằng công chứng viên. Cau mày, Ivan Bunin từ chối.

Có 27 cái tên trong danh sách đề cử trong năm hạnh phúc của Bunin. Ngoài những “ứng cử viên vĩnh cửu” Merezhkovsky và Gorky, còn có Paul Valery, Jose Ortega y Gasset, Karel Chapek… Một trận chiến căn bản với sự tham gia ở hậu trường của các nhà ngoại giao và những người đứng đầu đội vương miện đã nổ ra giữa các nhóm “Gorky” đỏ và Bunin “trắng”. Đặc phái viên của Liên Xô tại Thụy Điển, Alexandra Kollontai, có âm mưu ủng hộ tác phẩm kinh điển của giai cấp vô sản – nhưng vô ích, “đảng” người Nga di cư lần này hóa ra lại đặc biệt mạnh mẽ. Cuốn tiểu thuyết của Bunin, cuối cùng đã được dịch và đọc ở nước ngoài, cũng có ảnh hưởng nhất định đến kết quả của cuộc đấu tranh.

Theo hồi ký của Vera Muromtseva-Bunina, ngày 9 tháng 11, ngày trao giải, Ivan Bunin đã đến rạp chiếu phim, nơi ông xem bộ phim “Vui vẻ ngu ngốc” – “Baby”. Đột nhiên, bóng tối của hội trường bị tia đèn pin cắt ngang, một nhà văn trẻ, bạch vệ Leonid Zurov đang tìm Bunin, vội vàng báo tin vui: một cuộc gọi từ Stockholm đến biệt thự ở Grasse! (Người phiên dịch người Thụy Điển đã cố gắng tìm hiểu quốc tịch của người đoạt giải mới qua điện thoại và nhận được câu trả lời đáng nản lòng: “Người Nga lưu vong”).

“Và ngay lập tức toàn bộ cuộc sống cũ của tôi kết thúc. Tôi đi bộ về nhà khá nhanh nhưng không cảm thấy gì ngoài tiếc nuối vì không thể xem phim. Nhưng không. Không thể không tin: cả ngôi nhà rực sáng ánh đèn. Và trái tim tôi co thắt với một nỗi buồn nào đó… Một bước ngoặt nào đó trong cuộc đời tôi”- nhà kinh điển của chúng ta sau này nhớ lại.

Vào ngày 10 tháng 11, các tờ báo ở Paris đăng những dòng tít lớn: “Bunin là người đoạt giải Nobel”. Tất cả người Nga ở Pháp, bao gồm cả công nhân tại nhà máy Renault và tài xế taxi, những người chưa đọc một dòng nào của Bunin, đã kỷ niệm sự kiện này như ngày mang tên riêng của họ. Vào buổi tối, hầu hết các quán rượu ở đó đều vang lên những lời chúc mừng nồng nhiệt bằng tiếng Nga.

Giải thưởng đã trở thành cứu cánh vật chất cho vợ chồng nhà văn chúng ta. Thư ký của Ivan Bunin- Andrei Sedykh, làm chứng: vào ngày tổ chức lễ kỷ niệm, cặp đôi Bunin thậm chí không có tiền lẻ để trả cho dịch vụ của những người đưa thư mang điện chúc mừng.

Tiền được kiếm ra trong vòng một vài ngày sau. Nhiều người coi việc cho người chiến thắng vay là một vinh dự. Các tài xế taxi và chủ khách sạn nhận ra nhà văn qua những bức ảnh nên đã cho ông đi nhờ và thuê phòng cho Bunin miễn phí. Bunin kể với Andrei Sedykh rằng “các nhà báo và nhiếp ảnh gia đã đổ xô đến Belvedere của ông vào buổi tối hôm đó như thế nào, đèn flas lóe lên và làm mù mắt như thế nào, và sau đó bức ảnh của một người điên xanh xao nào đó đã lan truyền trên các tờ báo khắp thế giới”.

Lễ trao giải diễn ra một tháng sau, vào ngày 10 tháng 12, tại Stockholm. Huân chương và bằng xác nhận do Vua Gustav V. trao tặng. Hơn nữa, trái với quy định, hội trường học viện chỉ được trang trí bằng cờ Thụy Điển (Ivan Bunin, về nguyên tắc, không mang quốc tịch nước ngoài cho đến cuối đời).

Vóc người thấp, mái tóc đã hoa râm, dáng vẻ lịch sự và phong thái quý phái, nhà văn cư xử rất đàng hoàng. Họ mong đợi trong bài phát biểu của mình Bunin sẽ tố cáo gay gắt “những người Bolshevik đẫm máu”, nhưng thay vào đó, người đoạt giải lại nói những lời đơn giản mà dường như không thể diễn tả được đối với nhiều người: “Lần đầu tiên kể từ khi thành lập giải thưởng Nobel, bạn đã trao nó cho một người lưu vong. Vì tôi là ai? Tôi là một người lưu vong được tận hưởng lòng hiếu khách của nước Pháp, điều mà tôi cũng sẽ mãi mãi biết ơn. Thưa các quý ông thành viên của Viện Hàn lâm, cho phép tôi, gạt bản thân và các tác phẩm của mình sang một bên, để nói để các bạn biết bản thân việc làm của các bạn đã đẹp đẽ như thế nào. Không còn nghi ngờ gì nữa, xung quanh chiếc bàn này có đại diện của đủ loại quan điểm, đủ loại niềm tin triết học và tôn giáo. Nhưng có một điều gì đó không thể lay chuyển đã gắn kết tất cả chúng ta: sự tự do tư tưởng và lương tâm, điều mà chúng ta mang ơn nền văn minh. Đối với một nhà văn, sự tự do này đặc biệt cần thiết”.

Vào tháng 12 ở Stockholm, lần đầu tiên sau nhiều năm, Bunin nhìn thấy những con đường phủ đầy tuyết và những tảng băng trên kênh, gợi nhớ đến St. Petersburg… Theo Sedykh, Ivan Bunin muốn “đi đâu đó ra ngoài thị trấn, lang thang qua tuyết, rồi đến quán rượu Thụy Điển và uống một ly rượu punch nóng”. Tuy nhiên, chương trình lưu trú theo thời gian không mang tới cho nhà văn niềm vui nho nhỏ này. Thay vào đó – những bữa tiệc ăn mừng, những bữa tiệc tối và cuối cùng nhận được tấm séc trị giá 715 nghìn franc Pháp. Và mặc dù do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, số tiền trở nên nhỏ nhất trong toàn bộ lịch sử giải thưởng Nobel, nhưng nhà văn Nga vẫn cảm thấy mình như một người giàu có. Ông ngay lập tức bắt đầu hào phóng phân phát “lợi ích” cho những người di cư khó khăn và quyên góp cho nhiều tổ chức xã hội khác nhau. Bunin đã nhận được hơn hai nghìn lá thư cầu cứu! Không chỉ có người Nga liên lạc với ông. Một tin nhắn khiến người nhận vô cùng thích thú. Một thủy thủ người Pháp nào đó yêu cầu gửi gấp 50 franc cho anh ta và còn đảm bảo: “Chúa sẽ giúp ông. Nếu ông gửi cho tôi số tiền này, có thể ông sẽ nhận được giải Nobel vào năm tới! Bunin đã được gửi khoản tiền đó đến chàng thủy thủ.

Bất chấp sự hào phóng của người đoạt giải, như thường lệ, vẫn có những người không hài lòng. Một kẻ vô danh nào đó chế giễu thậm chí còn nêu ra về sự xuất hiện của “Hiệp hội những người bị Bunin xúc phạm”.

Cặp đôi Merezhkovsky – Gippius tự coi mình là người thiếu thốn nhất. Khi Ivan Bunin, trong hào quang vinh quang, cho rằng cần phải đến thăm xã giao, Zinaida Nikolaevna gặp ông ở ngưỡng cửa, nhìn qua cặp kính lồi tròng của bà, làm ra vẻ như không nhận ra ông. Sau đó, không tháo kính ra khỏi mắt, bà ta lẩm bẩm qua kẽ răng: “Ồ, là anh… à, anh đang nổi tiếng à?” Marina Tsvetaeva, trong một bức thư gửi cho người bạn Anna Teskova, nói: “Merezhkovsky và Gippius rất tức giận. “Merezhkovsky và Gippius đang rất tức giận. Có lẽ cặp đôi phức tạp này chỉ có tình cảm đơn giản duy nhất trong đời”. Điều thú vị là chính Marina Tsvetaeva lại nhận thấy “Con chim cưng của cuộc cách mạng” xứng đáng nhận giải Nobel hơn. Cụm từ của nữ thi sỹ đã được lan truyền trong giới người di cư: “Gorky là một thời đại, và Bunin là sự kết thúc của một thời đại”.

Chúng ta có thể nói gì về phản ứng đối với giải Nobel ở Liên Xô! Kollontai bày tỏ sự khó chịu của mình với đồng nghiệp Ivan Maisky ở London qua thư ngoại giao như sau: “Bunin ít được biết đến lại đã trúng trong cuộc bỏ phiếu”.

Trên báo Văn Học đã xuất hiện một bài báo đầy hận thù giai cấp: “Ngược lại với ứng cử viên Gorky, người mà chưa ai từng đề cử và cũng không thể đề cử, viên Bạch vệ này đã được đề cử và bằng mọi cách được bảo vệ sự ứng cử của con sói dày dạn kinh nghiệm và phản cách mạng này, người mà sáng tác phẩm, đặc biệt là trong thời gian gần đây, chứa đầy những motiv của sự chết chóc, suy tàn, diệt vong, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng thảm khốc của thế giới, và đã được hiện diện trước tòa án của các trưởng lão học giả Thụy Điển”.

Trong khi đó, “con sói dày dạn” hoàn toàn không có khả năng quản lý vấn đề tiền bạc nên rất nhanh chóng rơi vào tình trạng nghèo đói mới. Theo lời khuyên của các “chuyên gia”, nhà văn đầu tư số tiền còn lại sau công việc từ thiện số tiền cho một “thỏa thuận đôi bên cùng có lợi” – chứng khoán và cổ phần trong một nhà hàng Nga. Mọi thứ đều tan thành mây khói.

Để đảm bảo cho mình và vợ có thứ gì đó để ăn, doanh nhân và nhà từ thiện người Mỹ Frank Atran (trước đây là đảng viên Đảng Dân chủ Xã hội của Nga) đã trả cho Bunin một khoản trợ cấp trong những năm cuối đời. Danh tiếng lớn và giải thưởng danh giá không làm thay đổi cuộc sống của nhà văn chút nào, không tạo thêm chút kiêu ngạo hay sang chảnh cho ông. Bunin ngày càng bị thu hút đến nước Nga, nơi người bạn cũ Kuprin của ông đã quay trở về, nơi tài năng của Alexi Tolstoy đã nở hoa. Nhà văn không mơ về sự giàu có vật chất mà là mơ về những khu rừng Nga, tuyết trắng và tiếng nói của người Nga.

Trong chiến tranh, Bunin- không giống như nhiều người di cư (như Merezhkovsky), đã dứt khoát ủng hộ Hồng quân và mạo hiểm tính mạng của mình, đã che giấu những người tị nạn Do Thái.

Sau Thế chiến thứ hai, họ cố gắng thuyết phục nhà văn Nga Nobel đầu tiên trở về quê hương. Đã có lúc ông nghĩ đến điều này, do dự và lưỡng lự, nhưng vẫn không trở về: Liên Xô đã ở quá xa với nước Nga mà ông yêu quý và tiếc thương trong các tác phẩm của mình.

Trở lại năm 1924, trong câu chuyện “Nữ thần lý trí”, Ivan Bunin đã viết những lời có thể coi như là giáo huấn sáng tác của ông: “Chỉ có một điều tốt đẹp thôi: từ cuộc sống của nhân loại, qua nhiều thế kỷ, qua nhiều thế hệ, chỉ còn lại những gì cao thượng, tốt đẹp trên trái đất. Chỉ có điều này thôi! Mọi thứ xấu xa, hèn hạ, thấp kém và ngu ngốc – cuối cùng, đều không để lại dấu vết: những thứ ấy không có ở đó, không thể nhìn thấy được. Cái gì còn lại, cái gì còn có thể nhìn thấy? Đó là những trang hay nhất của những cuốn sách hay nhất, lưu truyền về danh dự, lương tâm, về sự hy sinh quên mình, về những việc làm cao cả; và những bài hát, những bức tượng tuyệt vời, những ngôi mộ vĩ đại, linh thiêng”.

TÔ HOÀNG chuyển ngữ

Theo tạp chí văn học Volga – Nga

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *