Đi qua nhiều vùng đất tôi mới nghiệm ra một điều, những dòng sông ở mỗi vùng đất giống như một người mẹ xứ sở. Người mẹ ấy luôn mở lòng không chỉ bao dung, mà còn thấm thẩu, chứa đựng biết bao câu chuyện cũ- mới, trầm tích theo dòng thời gian. Và với tôi đã có một đêm như thế, ngồi lại ở một tỉnh vùng biên nước bạn Lào để nghe dòng Sê Kông kể chuyện.

1- Điểm gặp gỡ ở quán bốn mùa
“Quán bốn mùa” nằm bên dòng Sê Kông có không gian khá thoáng đãng. Phía bên kia dòng sông bạt ngàn những cánh rừng hút theo tầm mắt “núi liền núi” của vùng biên giới Việt – Lào. Tôi đoán định xa hơn nữa những cánh chim vội vàng đuổi theo ráng chiều vàng ửng như màu mỡ gà kia là xứ Quảng quê tôi. Điều bất ngờ chủ quán là một chàng thanh niên điển trai đến từ thành phố Đà Nẵng – Anh Lương Thế H. Và như thế chúng tôi đã trở thành những người đồng hương, tự nhiên thân thiết như màu bia nước bạn. Bởi thời gian công việc theo lịch trình, chỉ có tối xuống mới có thể ra hàng quán để mở rộng tầm mắt và cũng dễ lắng nghe được nhiều hơn các câu chuyện mở lòng của cánh đàn ông sau khi đã thăng hoa bằng những cái chạm cốc.
Chuyện cũ chuyện mới, chuyện Đà Nẵng, chuyện Sê Kông đan xen như không thể dứt ra được. Trong câu chuyện buôn bán của mình tại quán, anh H không quên giới thiệu một số món ăn, trong đó tôi nhớ có món cá mát, cá niên, cá chình mà anh trầm trồ là rất ngon được đánh bắt ở sông Sê Kông. Song mấy năm lại đây do tác động của thủy điện đã làm cạn kiệt nguồn cá.
Tôi mỉm cười với chính tôi về một thoáng suy nghĩ chợt đến, có lẽ đặc sản thuần khiết nhất xứ này chỉ có dép Lào và bia Lào (Beerlao). Bia Lào, uống đậm vị, say đằm, ít nhứt đầu vào ngày hôm sau. Theo như giới thiệu, bia Lào được sản xuất bằng phương pháp lên men chìm, sử dụng men nhập từ Đức nấu với gạo Lài địa phương và mạch nha, tạo thương hiệu đặc trưng của bia hàng đầu xứ sở triệu voi.
Song chuyện bia lên men chìm hay nổi không còn mấy quan tâm, khi “phân nửa” yêu thương của chủ quán ra đón tiếp chúng tôi. Em là cô gái Lào đã học tập tại Việt Nam sau khi hoàn thành bảo vệ thạc sỹ đã về công tác tại Sở Y tế tỉnh Sê Kông. Trông hai bạn trẻ rất “thanh mai trúc mã”. Tôi thầm nghĩ, phải chăng mối lương duyên này đã viết tiếp câu chuyện “yêu nhau mấy núi cũng trèo”. Thôi thì nói như thầy xem quẻ, nhìn qua chân mày đã biết hậu vận. Anh bạn trong đoàn gặng hỏi thêm một cách téo táo về cái nguyên nhân “vượt biên” của người con trai Đà Nẵng. Chủ quán khá hóm hỉnh bằng câu trả lời đại ý, cũng vì muốn khám phá “con đò” dọc ngang của người em gái xứ sở hoa Chămpa. Mặc, chuyện yêu đương nhăng nhít, với tôi lúc này có người nói chuyện mà không phiên dịch là số một rồi.
Nghĩ về những chuyến đi vùng cao, tôi chẳng thể quên cái lần về vùng biên Nam Giang và rất tình cờ gặp được những “lưỡng quốc cựu binh”. Anh bạn người Lào ngồi kề bên muốn tôi giải thích về cụm từ này. Chuyện chẳng mấy khó hiểu, bởi trên thực tế, vùng biên của thành phố Đà Nẵng và Sê Kông từ thời kháng chiến đã có những người con yêu nước của hai tỉnh có chung kẻ thù, cùng đứng lên chống giặc. Họ đã được đảng, nhà nước hai bên đều ghi nhận công lao.
Cụ thể phía Việt Nam, tại thôn Đăc Ngol có già làng Zơrâm Vênh, quốc tịch Lào nguyên là chiến sĩ đơn vị 70, mặt trận 44 Quảng Đà, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1997. Cũng tại thôn Đăc Ngol, một người nữa mang quốc tịch Lào là già làng Zơrâm Niêm. Thời chống Pháp, già Niêm theo cha rời núi Đăk Crơ’na, huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông về Đắc Ngol, tỉnh Quảng Nam cũ định cư. Lớn lên đi dân công hỏa tuyến, phục vụ cho các chiến trường xứ Quảng. Già Zơrâm Niêm là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, cách đây mấy năm đã được nhận huy hiệu 40 năm tuổi đảng. Những cựu binh ấy như những cổ thụ giữa đại ngàn, tỏa bóng mát cho con cháu noi theo, gìn giữ tình đoàn kết hữu nghị bền chặt được xây dựng bằng cả máu và nước mắt. Cứ nôm na dễ nhớ, tôi gọi là “lưỡng quốc cựu binh”.
Thông tin từ phía bạn giúp tôi biết thêm, tại huyện Kà Lừm, tỉnh Sê Kông cũng có khá nhiều người có công với cách mạng Việt Nam. Điển hình như gia đình ông Pơ Long Hiên (thôn A Ching) hiện vẫn còn giữ tấm Bằng Tổ quốc ghi công do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký ngày 13/12/1978 cho liệt sĩ Pơ Long Chăm, nguyên quán xã Thà Âm, huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày 13/12/1973. Chưa nói gì câu chuyện liên minh chiến đấu, tình hữu nghị… trước mắt với cánh nhà báo chúng tôi được gặp những con người này đúng là nhân chứng sống, rất đáng quý.
Trời về khuya, những ngọn gió từ dòng Sê Kông thổi lên se lạnh nhưng có lẽ ánh sáng lấp lánh ấm áp từ những chiếc lồng đèn Hội An có mặt ở đây đã xua đi cái rét và cũng cho tôi một cảm giác thân thuộc tựa ở quê nhà. Có ai đó, ngồi bàn bên có lẽ nhắc khéo bạn bè cùng đi: Chắc cũng đến lúc “hết xôi rồi việc”. Không ngờ câu nói ấy gợi mở để tôi biết thêm một tập tục, nét văn hóa của người bản địa tại đây.
Chuyện tế nhị, phải rất chân tình anh cán bộ hơn 8 năm học tập ở Việt Nam mới cho tôi biết, người ở Sê Kông nói riêng, người Lào nói chung rất hiếu khách, họ mời khách ăn uống, hay bất cứ việc gì cũng rất thiệt tình. Riêng trong ăn uống, trong bữa cơm, dù thức ăn nhiều hay ít, thì khách đều phải ăn mỗi thứ một ít cho hài lòng gia chủ, nhưng phải để lại một ít cơm và xôi, nhằm tượng trưng cho sự no đủ, thừa thãi cơm gạo. Tôi hỏi về rượu bia, anh cười “vụ ni không kiêng cử chi- cạn hết trăm phần trăm”.
2- Bạn mới và những câu chuyên
Kết bạn zalo, thật bất ngờ anh Keo khan Thoun (thường gọi là Keo), 42 tuổi, công tác tại cơ quan báo chí tỉnh Sê Kông đã hỏi: Hình như anh học ở Huế. Vậy anh có học thầy Phong không. Tôi nói, có phải thầy Phạm Phú Phong không. Anh nói đúng vậy, hình như thầy quê gốc Quảng…Thì ra Keo từng học báo chí ở Huế cách đây hơn 10 năm, cứ coi là đồng môn, đồng sư. Trong lúc anh em cóp những hình ảnh tư liệu cho tập phim xúc tiến đầu tư vào các tỉnh Nam Lào trong đó có tỉnh Sê Kông, thì Keo kéo tôi về phòng riêng pha cà phê, tách trà, đặt ngay bàn máy tính vừa biên tập bài vở vừa trò chuyện. “Lâu quá không sang Việt Nam nên tiếng Việt quên nhiều”. Trong câu chuyện với Keo tôi biết anh rất trận trọng những gì mà anh đã được học tập, gắn bó, đặc biệt trong đó có người thầy “đô trưởng” ở nhiều lĩnh vực, gần gủi học trò, khí khái, hảo hớn…Người thầy ấy đã được học trò nhiều thế hệ từng học ở đại học Tổng hợp Huế, sau là Đại học Khoa học Huế kính trọng, yêu quý.

Tôi hỏi Keo khi rời mái trường đại học ở Huế có mang theo bóng hình người con gái nào gặp gỡ ở đất cố đô không, Keo chỉ cười, một hồi lâu rồi mới bộc bạch: “Lúc đi học em đã có vợ và một con nhỏ rồi…thương thương thì có nhưng mà phải xa thôi, nhiều khi cũng nhớ nhưng mà biết sao”. Keo bảo yêu nhau theo đạo Phật là nghiệp ái. Được học tập ở Huế, ở Việt Nam cũng là cái nghiệp, cũng là cái duyên vậy.
Một cán bộ công tác Sở Ngoại vụ Sê Kông có thời gian học tập tại Trường Nông Lâm ở Tam Kỳ tuy thời gian gặp gỡ ngắn gủi, nhưng anh xem chúng tôi như người anh, người thân quý một cách hào hởi chân tình. Tôi nhớ câu nói khá ấn tượng, “em là sản phẩm Quảng Nam mà”. Rất vui khi anh thông tin, tới đây em còn quay lại Việt Nam học thêm để đảm trách cương vị cao hơn tại đơn vị công tác.
Cũng với tình cảm chân tình của những người từng học tập ở Việt Nam, một nữ cán tuổi trẻ tuổi đương đảm trách Phó Giám đốc Sở Công thương tỉnh Sê Kông từng có thời gian học tập ở Đà Nẵng, có chồng quê Quảng Trị, phụ trách Chủ tịch Hội người Việt Nam ở Sê Kông đã mời cả đoàn dùng điểm tâm, cà phê ngay tại nhà chị. Nhắc nhớ với một đồng nghiệp, từng sang Sê Kông các năm trước nay đã nghỉ việc để kết nối liên lạc tiện thăm hỏi nhau. Chưa hết, chi tiết một giám đốc làm công tác đối ngoại sau bữa tối còn chiêu đãi cả đoàn hai bài hát lời Việt “liên hoàn cước” như thế mơi biết tình cảm cho nhau nồng nã chừng nào.
Tôi tự đặt ra giả thuyết, giả sử các bạn Lào chưa từng được học tập Việt Nam, giả sử như lịch sử không có những mối lương duyên hết sức đặc biệt để làm những viên đá tảng xây nên bức tường thành của tình hữu nghị anh em hai địa phương, hai nước…
Nói điều này để nhắc nhớ mỗi khi đến Sê Kông không thể không nhắc một người con ưu tú của đất Hội An, đó là Bô Nhơn- Lê Viết Muồng. Ông được cử sang Lào công tác chiến đầu và đã lập gia đình với một thiếu nữ nước bạn. Bô Nhơn – Lê Viết Muồng nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nguyên Bí thư đầu tiên của tỉnh Sê Kông khi tỉnh này mới thành lập vào năm 1984.
Đó là câu chuyện nên duyên giữa Hoàng thân Souphanouvong-Chủ tịch nước đầu tiên của Lào (có thời gian công tác ở Sở Công chính Trung kỳ, sau khi nhận bằng tốt nghiệp ở trường Quốc gia cầu đường Paris vào tháng 6/1937) với cô Nguyễn Thị Kỳ Nam, con ông Nguyễn Văn Sung- Chủ sự Bưu điện Khánh Hòa nhưng lại có gốc quê ở Hội An, do bị Pháp truy lùng nên vào Khánh Hòa lánh nạn. Hiện nay tại thủ đô Viêng Chăn có bảo tàng Souphanouvong lưu giữ đầy đủ cuộc đời và hoạt động cách mạng của Hoàng thân và người vợ có tên Lào là Viêng Khăm quê gốc Hội An.
Đó là Cố thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương cũng quê Hội An là chuyên gia cao cấp cho các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Lào, gắn bó hơn 10 năm giúp bạn. Tôi ngày ngày tôi ông chưa mất, mấy anh em làm phim người Quảng ở thủ đô đã đến thăm ông. Trên tường nhà bức ảnh Hoàng thân Souphanouvong tiễn ông hoàn thành nhiệm vụ về nước đã trịnh trọng hai tay nâng thanh gươm quý trao cho ông như biểu tượng đẹp đẽ, ghi nhận công lao vị tướng quê gốc Hội An với sự nghiệp đấu tranh giải phóng các bộ tộc Lào.
Chia tay Sê Kông thật nhiều cảm xúc đan xen nhau vì những bất ngờ, những người bạn mới mà tôi gặp. Dòng Sê Kông vẫn chảy xuôi theo hướng đi mà nó đã chọn. Lặng lẽ nhưng chứa đầy những câu chuyện sâu đậm nghĩa tình Lào – Việt, đã được kết nối từ xưa đến tận ngày sau…
VÕ VĂN TRƯỜNG

















