Đọc “Âm vang của chữ” không hề thấy bóng dáng một “khuôn lý luận” nào, mà chỉ là tiếng lòng, điệu hồn đang lắng nghe âm vang của từng con chữ. Cứ như thể những người đàn bà Chăm đang cần mẫn với đôi tay thủ công “xoay nặn” tài hoa trên từng sản phẩm gốm của mình…

Dù trong lý lịch của mình, Chế Diễm Trâm được cha mẹ khai sinh là dân tộc Kinh, vì quê gốc của Trâm không phải Khánh Hòa mà là họ Chế gốc Quảng Trị vào Nha Trang lập nghiệp đã lâu (từ đời ông nội). Song, nếu ai đã đọc toàn bộ tác phẩm của cây bút nữ này, sẽ cảm nhận từ trong cội rễ vô thức của mình, cái gốc gác Chăm vẫn hiện lên rất rõ.
Tôi học khóa 1, Chế Diễm Trâm khóa 6 Quy Nhơn, vì thế xem như anh em đồng môn. Nhưng tôi cũng chỉ mới biết Trâm qua tác phẩm khi các trang báo mạng thịnh hành. Và cái ấn tượng đầu tiên đập vào tôi vẫn là cái tên gốc Chăm rất đặc trưng ấy.
Sinh năm 1965, tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm Quy Nhơn năm 1987, dù được đề nghị ở lại làm giảng viên, nhưng do hoàn cảnh gia đình, Chế Diễm Trâm quyết định trở về Nha Trang làm cô giáo dạy chuyên Văn phổ thông và viết văn từ ấy đến khi buông phấn về hưu. Nghề Văn thì hưu, nhưng nghiệp Văn dường như đeo bám suốt một đời. Càng gần tuổi về hưu, con người văn chương lại càng nổi trội với hàng loạt tác phẩm ra đời đủ các thể loại: Nghệ thuật tùy bút Vũ Bằng (Chuyên luận, 2015); Những ô cửa nhìn ra vườn văn (Nghiên cứu – Phê bình, 2017); Tám phút mười chín giây (Tập truyện ngắn, 2020); Thương thiệt thương thà (Bút ký – Tùy bút, 2022); Những mảnh ghép đa chiều (Tùy bút – 2023). Và bây giờ, là tập Chân dung – Phê bình văn học Âm vang của chữ. Như vậy, chỉ riêng thơ, Trâm chưa in thành tập, nhưng nhiều bài thơ xuất hiện trên báo chí từ trước đến nay đã cho thấy Chế Diễm Trâm là một cây bút đa tài.
Với ba tập sách thuộc thể loại nghiên cứu – phê bình, Chế Diễm Trâm đã khẳng định được tên tuổi của mình với những chuyên luận và tiểu luận tạo được dấu ấn trên lĩnh vực lý luận phê bình của khu vực miền Trung nói riêng và cả nước nói chung. Nếu Nghệ thuật tùy bút Vũ Bằng là một chuyên luận công phu, có nhiều khám phá về những nét độc đáo của một tác giả Tùy bút tiếng tăm nhưng còn chịu nhiều khuất lấp; Những ô cửa nhìn ra vườn văn là một tập nghiên cứu, phê bình với nhiều bài viết đa dạng có độ sâu về cảm thụ và đậm tính khoa học lôgic của một cô giáo chuyên Văn; thì Âm vang của chữ là một tập sách mang tầm khái quát cao hơn, sâu hơn, toàn diện hơn với cấu trúc ba phần rõ rệt.
Phần 1. Quê hương từ âm vang của chữ, tác giả đã có những nghiên cứu công phu, vận dụng nhiều phương pháp phê bình từ truyền thống đến hiện đại, nhất là tiểu sử học và lịch sử – văn hóa học cùng ngôn ngữ học, phong cách học, thi pháp học nhằm dựng lên được chân dung tương đối hoàn chỉnh 7 cây bút tiêu biểu trong văn học hiện đại và đương đại của vùng đất Khánh Hòa xếp theo trình tự năm sinh, từ nhà thơ quá cố Giang Nam (1929 – 2023) cho đến Trần Chấn Uy (1958).
Mỗi tác giả, sau khi điểm qua tiểu sử và các thành tựu văn chương (từ tác giả thiên về một thể loại đến tác giả viết nhiều thể loại) bằng cái nhìn khái quát, Chế Diễm Trâm đã đưa ra được những nhận xét rất căn cơ, cụ thể về phong cách từng cây bút. Từ thơ Giang Nam “đầy ắp yêu thương – căm giận mà vẫn chừng mực” đến tác giả viết nhiều thể loại như Cao Duy Thảo:“Truyện ngắn là thể loại đầu tay và sở trường, cũng là thể loại làm nên tên tuổi nhà văn”. Thơ Trần Vạn Giã với “cảm thức dân dã”; Lê Khánh Mai là chân dung “một nhà thơ nữ bứt phá”; truyện Hoàng Nhật Tuyên “thường là những câu chuyện về những hạng người bèo bọt trong cuộc đời”. Tô Hằng Thanh – “một hồn thơ yêu thương trong trẻo”; Trần Chấn Uy với “chiếc bóng hoài niệm”… thơ là ngôi “đền thiêng”, mà ở đó, “mỗi lần làm thơ, Trần Chấn Uy” như thể “lên đồng”…

Phần 2. Từng ngày từng chữ vang vọng, ngoài 1 bài mang tính khái quát về “văn học dân tộc Chăm 20 năm đầu thế kỷ XXI” là 11 bài viết về một khía cạnh hoặc một tác phẩm của một số tác giả từ văn học trung – cận đại, qua Thơ mới, đến hiện nay trên cả nước và thế giới. Đó là “tiếng khóc thấu trời” của Nguyễn Du qua “Độc Tiểu Thanh ký”; Hồ Xuân Hương với “Tiếng nói phản kháng mãnh liệt”. Từ “Nhà thơ giao thời” Tản Đà đi “Hầu trời” đến thế hệ Thơ mới: “Sứ giả đời Đường” Quách Tấn, chuyện “Tôi đi học” đầy chất thơ của Thanh Tịnh; “Tài không đợi tuổi” qua “Điêu tàn” của Chế Lan Viên; “nhà thơ tượng trưng tiêu biểu” Nguyễn Xuân Sanh; Tế Hanh với “chút tình tưởng nhớ quê hương”. Sang đương đại, ta gặp Cao Duy Sơn và truyện ngắn “Chích bông ơi!”; thành tựu đặc biệt trong “nghiên cứu, phê bình thơ thời kỳ đổi mới” của nhà thơ Chăm nổi tiếng Inrasara; và cuối cùng là “lời cảnh báo khẩn thiết về giá trị người” của nhà văn Anh gốc Nhật Bản (Kazuo Ishiguro) qua “Never let me go” (Mãi đừng xa tôi).
Chính vì đi theo trình tự thời gian từ cổ chí kim, trong nước ra nước ngoài, nên ở phần này, Chế Diễm Trâm đã vận dụng đan xen nhiều phương pháp phê bình trong từng bài viết, nhằm mang lại hiệu quả nghệ thuật theo ý đồ khai thác.
Phần 3. Mùa Xuân ngân vang trong chữ gồm 6 bài viết dành riêng cho chủ đề mùa xuân từ khát vọng xuân tình trong “thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ” đến ý thức “chơi xuân” đầy trách nhiệm của tuổi thanh niên qua lời “chúc Tết” của Phan Bội Châu; sáng láng một trời “Xuân như ý” của Hàn Mặc Tử; “Xuân tượng trưng” rút từ “Tinh huyết” của Bích Khê; Tết truyền thống ở “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng và “Xuân bay trên Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư. Mỗi bài, mùa xuân được khai thác bằng những nét phát hiện riêng qua cách vận dụng thuần thục nhiều phương pháp nghiên cứu thông qua văn bản văn học cụ thể. Rất gợi và có sức lôi cuốn.
Tôi đã từng đọc qua hai tập lý luận phê bình được bắt đầu từ “chữ”. Đó là “Cuộc phiêu lưu của chữ” (Huỳnh Thu Hậu – Quảng Nam) và “Phiêu lưu chữ” (Hoàng Đăng Khoa – Quảng Bình). Còn hôm nay là “Âm vang của chữ” (Chế Diễm Trâm – Khánh Hòa). Hai tác giả đầu thì tự tin “phiêu lưu” cùng chữ, riêng Chế Diễm Trâm, lượng sức mình nên khiêm tốn, chỉ đem hồn lắng nghe “âm vang của chữ”.
Trước khi đọc bản thảo tập sách của Chế Diễm Trâm, tôi thầm khâm phục hai cuộc “phiêu lưu chữ” đầy tài năng và bản lĩnh của hai tác giả lý luận – phê bình trẻ của miền Trung, nhưng chưa hề có một liên tưởng gì về gốm. Tự nhiên, khi đọc “Âm vang của chữ” cùng các tùy bút, bút ký đầy chất Chăm của Chế Diễm Trâm, lại hiển hiện trong tôi cái đặc trưng của gốm. Quảng Nam của Huỳnh Thu Hậu nổi tiếng là Gốm Thanh Hà, Quảng Bình của Hoàng Đăng Khoa là Gốm Mỹ Cương, còn Khánh Hòa của Chế Diễm Trâm dù có Gốm Lư Cấm, nhưng tôi lại thấy dường như cái “âm vang chữ” không chỉ là Lư Cấm mà bao trùm lên cả một không gian của Gốm Chăm Bàu Trúc.
Đột nhiên tôi mở rộng liên tưởng rằng, cùng nguyên liệu là “đất sét” – là “con chữ” đó thôi, nhưng ba cách nặn đất sét của ba làng Gốm truyền thống – luyện con chữ thành Văn của ba tác giả miền Trung này mỗi nơi một cách, mỗi người một kiểu bằng tài năng và phong cách của mình. Với Gốm Chăm Bàu Trúc thì “Khác với những sản phẩm gốm các nơi, gốm Bàu Trúc được nhào nặn bằng đôi bàn tay khéo léo của nghệ nhân, không làm bằng khuôn” (Theo baotangphunu.com). Vâng, chính là cái “không làm bằng khuôn ấy”!
Đành rằng ba tập sách của ba tác giả đều vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, phê bình khác nhau, nhưng có lẽ, tính học thuật và tính lý luận chuyên nghiệp của một số trường phái phê bình vẫn hiện rõ trên các công trình của Hoàng Đăng Khoa và Huỳnh Thu Hậu. Còn với Chế Diễm Trâm, lý luận học thuật của người làm nghiên cứu không hiển lộ thành chủ đích mà hòa quyện một cách thuần thục trong phương thức thực hành của một cô giáo chuyên Văn. Ai đọc Chế Diễm Trâm sẽ cảm nhận rất rõ, đây là một cây bút sắc sảo nhưng chân phương và hiền lành. Thậm chí, theo tôi, đôi lúc lại quá thiệt thà (như tên tập Bút ký – Tùy bút “Thương thiệt thương thà” của chính tác giả).
Có thể nói, đọc “Âm vang của chữ” không hề thấy bóng dáng một “khuôn lý luận” nào, mà chỉ là tiếng lòng, điệu hồn đang lắng nghe âm vang của từng con chữ. Cứ như thể những người đàn bà Chăm đang cần mẫn với đôi tay thủ công “xoay nặn” tài hoa trên từng sản phẩm gốm của mình.
Xin chúc mừng tác giả Chế Diễm Trâm với tập sách lý luận, phê bình thứ ba của mình. Và mời bạn đọc cùng lắng nghe “Âm vang của chữ”.
Làng Yên Phú, Quảng Ngãi, Hạ 2024
MAI BÁ ẤN
















