Đi tìm vẻ đẹp của tâm hồn qua“Chợ phiên” của Mĩ Hạnh

Đọc “Chợ phiên” của Mĩ Hạnh, tâm thế người đọc được trải nghiệm để rồi cùng hướng thiện. Người làm được thơ mà tạo ra sự đồng sáng tạo và đồng cảm nhận nơi bạn đọc như tác giả Mĩ Hạnh quả không nhiều.

Tác giả Hoài Thu

“Chợ phiên

bán gió sông Đà

Người mua

tìm cái thật thà trên nương.

Rẽ lau

theo chiếc thuyền sương

Kìa em

váy áo thêu đường chim bay.

Chợ phiên

ai tỉnh ai say

Xin em

rót chén đắng cay kiếp người.

Dìu chiều

sóng sánh em cười

Đổ loang

một vệt nắng tươi giữa dòng.

Anh về

khát mãi eo cong

Chợ tan

núi khát nhiều vòng mây ôm”

Tác giả Mĩ Hạnh là một tác giả mới xuất hiện trên văn đàn tỉnh Sơn La nhưng tác phẩm của chị đã được nhiều công chúng cả nước biết đến. Thơ chị thường viết về đề tài vùng cao. Với tâm hồn nhạy cảm; yêu cái đẹp, cái giản dị, thô mộc; quan tâm đến cuộc sống còn nhiều vất vả của những con người vùng cao chị đã viết rất nhiều tác phẩm thơ có nhiều đổi mới trong cách thể hiện. Bài thơ “Chợ phiên” là một bài thơ hay thể hiện khát vọng đi tìm vẻ đẹp trong tâm hồn của con người với một cách thể hiện ấn tượng.

Bài thơ gồm hai phần, phần đầu tác giả giới thiệu khung cảnh của một buổi chợ phiên họp ven bờ sông Đà, phần hai là dòng suy nghĩ và những nhận thức mới của nhân vật trữ tình “người mua”. Cấu tứ bài thơ ngắn gọn, rõ ràng tuy vậy trong bài thơ tác giả cũng mở ra nhiều khoảng trống khơi gợi những suy tư của bạn đọc về cuộc sống của mình và những người xung quanh.

Bài thơ hay là bài thơ gợi ra trong lòng người đọc tâm thế đồng sáng tạo. Bài thơ mở đầu với khung cảnh đi chợ của “người mua”.

“Chợ phiên

bán gió sông Đà

Người mua

tìm cái thật thà trên nương.

Rẽ lau

theo chiếc thuyền sương

Kìa em

váy áo thêu đường chim bay.”

Đọc những câu thơ này tôi cứ nghĩ tới các câu thơ rất huyền ảo của thi sĩ Hàn Mặc Tử “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay”. Nếu như thi sĩ Hàn mộng mị giữa vẻ đẹp của trăng và cái khát khao không bao giờ với tới được thì nhân vật trữ tình trong bài thơ lại ý thức rất rõ ràng về mục đich chuyến đi của mình. Chợ phiên họp bên bờ sông Đà, do địa hình cách trở dân cư thưa thớt nên hàng chục ngày mới có một phiên, người họp chợ chủ yếu là bà con các dân tộc thiểu số mang hàng hóa của mình làm ra trao đổi. Trong vai người đi chợ nhân vật trữ tình “người mua” nhưng không đi chợ vì nhu cầu mua mà để “tìm cái thật thà trên nương”. Câu thơ mở ra một tứ thơ hay, khơi gợi. Trong cuộc sống hiện nay cái thật thà khó tìm lắm không khi lòng người hay mưu cầu sự gian dối? Và “cái thật thà” là điều gì mà người mua nhọc lòng tìm kiếm? Và người mua có tìm được “cái thật thà” đó không?

Vì là háo hức, vì là khát khao nên người đi chợ đã rất mong chờ đến được chợ phiên bằng con thuyền ngược dòng sông vào một sớm tinh sương: “ Rẽ lau/ theo chiếc thuyền sương”. Và vì là khát khao nên khi nhìn những chiếc váy thổ cẩm chênh chao theo những bước chân thiếu nữ nhân vật trữ tình phải reo lên “Kìa em/ váy áo thêu đường chim bay”. Nhịp điệu trong đọan thơ là nhip 2/2, nhịp thơ nhanh diễn tả tâm trạng vui của người “đi chợ”.

Sang đoạn thơ tiếp theo, dòng thơ ngắt nhip 2/4, 2/6, nhịp điệu chùng xuống như tâm sự, giãi bày:

“Chợ phiên

ai tỉnh ai say

Xin em

rót chén đắng cay kiếp người.”

Sức nặng tư tưởng của cả bài thơ dồn cả vào những câu thơ này. Nhân vật trữ tình sau phút ngỡ ngàng, mừng vui “kìa em” là sự băn khoăn tự hỏi “Chợ phiên/ ai tỉnh ai say”. Đọc câu thơ này tôi bỗng liên tưởng đến những câu răn của đức phật: “Say mà ngộ đạo là say tỉnh/Tỉnh mà tranh đoạt, ấy tỉnh say”. Theo đức phât “đạo” là đạo làm người hạnh phúc, người “ngộ đạo” là người nguyện làm theo phật mà buông bỏ bớt tham lam, sân hận, si mê. Khi con người biết làm người hạnh phúc, vươn lên trong cuộc sống lam lũ này là những người “say tỉnh”. Ngược lại những người tỉnh táo khôn ngoan nhưng mà say muôn kiếp ngàn đời chưa tỉnh là người “tỉnh say”: say trong danh lợi, say trong bon chen nhân thế. Giữa “say tỉnh”“tỉnh say” thì nhân vật trữ tình chọn “say tỉnh”:

“Xin em

rót chén đắng cay kiếp người”

Tôi đặc biệt thích hai câu thơ này, tác giả đã dùng từ rất hay, rất gợi hình gợi cảm, hai động từ “xin, rót” được đặt kề nhau trong một ý thơ. Khi con người ta được “rót đắng cay” ra mà uống đi là người ta đã biết buông bỏ hết thảy phía sau tất cả mọi muộn phiền để đôi vai bớt đi gánh nặng và giữ cho tâm thái luôn vui vẻ, nhẹ nhàng. Trong cuộc đời, mỗi con người cứ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: đâu là hạnh phúc thực sự. Với nhiều người, hạnh phúc của cuộc sống là sự thành công trong giầu có, xa hoa còn với nhân vật trữ tình hạnh phúc là tìm được sự sẻ chia. Đến chợ, nhiều cảnh chợ với bao khuôn mặt người, bao sinh hoạt văn hóa đặc trưng nhưng có lẽ điều đọng lại là những phận đời vất vả, lam lũ; khắc khổ, ngược xuôi.

Trong những người đi chợ kia có bao người phải dậy từ gà gáy canh hai để nhặt những bó rau trên nương để bày ra nơi góc chợ, những bó rau non héo rũ trên tay; bao nhiêu người còng lưng kéo cá, đặt bẫy trên sông, bao nhiêu bàn tay nhăn nheo vì dầm nước; bao nhiêu đứa em thơ đứng bên rổ trái cây chờ người mua để mang về những đồng tiền cháy nắng. Chính vẻ thật thà, chất phác; chính cái tinh thần vượt khó vươn lên của con người vùng cao là liều thuốc tinh thần khiến nhân vật trữ tình buông bỏ bớt tham, sân, si mà có thêm lòng trắc ẩn, lòng ham muốn sẻ chia với những số phận con người xung quanh. Sự thức tỉnh trong tâm thức của nhân vật trữ tình khiến những câu thơ khép lại bài thơ thật trong sáng, đẹp đẽ, có sức lan tỏa biết bao:

“Dìu chiều

sóng sánh em cười

Đổ loang

một dải nắng tươi giữa dòng.

Anh về

khát mãi eo cong

Chợ tan

núi khát nhiều vòng mây ôm.”

Đến đây, tứ thơ khép lại và người đọc hiểu ra chủ đề của bài thơ. Đi chợ phiên tác giả muốn trải nghiệm, khám phá nét đẹp văn hóa vùng cao nhưng hơn thế nữa tác giả đã tìm thấy hạnh phúc từ sự đồng cảm với những con người nơi đây. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết “Uống xong lại khát, là tình/Gặp rồi lại nhớ, là mình của ta”. Như thứ men của tình yêu, tình yêu thương không chỉ là tình cảm của cá nhân riêng ai mà đó là nỗi khát khao muôn đời của tất cả mọi con người. Hình ảnh núi và mây được sử dụng như một hình ảnh ẩn dụ để nói về con người với con người. Núi vững vàng uy nghi là vậy nhưng núi vẫn khát được mây ôm, núi chỉ đẹp đẽ, nên thơ khi có sự ôm ấp, quấn quýt của mây trời. Cũng như thế, con người kia dù có thông minh tài giỏi đến đâu, dù có sức mạnh chinh phục cả vũ trụ đến đâu thì vẻ đẹp cao quý nhất, quyến rũ nhất của con người vẫn đến từ tấm lòng yêu thương đồng loại.

Bài thơ “Chợ phiên” của tác giả Mĩ Hạnh có hình ảnh thơ đẹp, ngôn ngữ thơ trong sáng, lãng mạn phù hợp với việc tái hiện khung cảnh của buổi chợ phiên ven sông Đà. Tuy nhiên, điểm thành công nhất trong bài thơ là tác giả đã tìm được một tứ thơ lạ, giàu sức truyển tải chủ đề của bài thơ: vì con người biết sống yêu thương, đồng cảm nên con người luôn tìm được hạnh phúc cho chính mình.

Đọc “Chợ phiên” của Mĩ Hạnh, tâm thế người đọc được trải nghiệm để rồi cùng hướng thiện. Người làm được thơ mà tạo ra sự đồng sáng tạo và đồng cảm nhận nơi bạn đọc như tác giả Mĩ Hạnh quả không nhiều.

HOÀI THU (ĐẶNG THỊ THU)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *