Giữ lời hứa cho ‘lợn nhờn môi’ năm ấy – Nguyễn Văn Thọ

VHSG- Mùa mưa năm ấy đánh xong chiến dịch Lam Sơn 719, đơn vị 12,7 ly của tôi hành quân xuống Nam Lào. Chiến dịch ấy, địch tuy không chiếm được Sepon, song cũng đốt phá được vài cái kho lớn của ta trên đường chiến lược 559, nên nhiều đơn vị của mặt trận 968, hay Tây Nguyên rơi vào tình trạng đói. Chúng tôi bảo vệ một ngã ba đường tuyến quan trọng, sát nơi Sư đoàn 968 đang vây thành phố Khungsedon.

Tết cận kề mà vẫn ăn bốn lạng gạo mỗi ngày. Bữa nào cũng toàn cơm độn sắn.

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ

Sắn do tăng gia trung đoàn cấp, bì nào phơi được nắng thì còn trắng, thơm, ăn tốt, trúng bì phơi gặp mưa lấm tấm mốc đen, hôi và cứng như ăn đá. Gạo trên mặt trận cấp về để lâu trong kho thì đầy mọt, lính đãi gạo dưới suối, mọt nổi lên đen sì dày một lớp. Gạo lại mốc quá nên nếu vo kỹ chỉ còn lõi, thành ra tiếng là bốn lạng, song thực chất chỉ ăn ba lạng một ngày. Chúng tôi phải ngày ngày cử anh em đi ven con suối để kiếm rau môn thục, vào rừng sâu bẻ hoa chuối rừng, măng le, măng vầu, ăn độn cho đầy cái dạ dày vốn đã rỗng rễnh.

Ăn uống thiếu chất mỡ, chất thịt, bụng cứ sôi òng ọc. Đến bữa ăn chỉ có ngửi mùi thịt hộp, vì ngay ngày lễ 22-12 thành lập quân đội, toàn đại đội trên cho có đúng một hộp thịt một ký, tụi anh nuôi cho vào nồi rau môn thục ninh, lấy xẻng đánh tan, nên đứa nào may lắm vớt được miếng da béo, ngậm mãi cho sướng mới nuốt.

Sáng hôm ấy Đại đội trưởng Tấn gọi tôi về đại đội, lệnh:

– Cậu lên tiểu đoàn lĩnh tiền, dẫn anh em xuyên về bản X sát chân cao nguyên Boloven mua gạo nếp, lợn về cho toàn tiểu đoàn ăn Tết.

Ăn Tết! Mới nghe từ “lợn” mà tôi đã ngửi thấy mùi mỡ béo ngậy, mùi lòng lợn, mùi lá giong tỏa ra từ nồi luộc bánh thơm phưng phức. Tin ấy loang ra toàn đại đội, như lửa ấm tới anh em, đứa nào gặp tôi cũng cười tít mắt, mong tôi đi nhanh, về nhanh.

Tôi lên tiểu đoàn đã thấy mấy thằng lính Hà Nội, Hải Phòng của hai đại đội cùng D chờ sẵn. Thằng Bản, lính C2, dân ngoại thành Gia Lâm Thượng Thanh Thượng Cát, quen tôi reo lên: “Anh Thọ”. Tôi vào tài vụ, lĩnh được hơn 2.000 bạt Lào. Giá cả ở vùng này họ nắm chắc hơn tụi tôi. Lệnh tài vụ mua về 5 con lợn, mỗi thằng gùi một bao gạo nếp 25 cân.

Tôi kiểm tra vũ khí, đứa nào cũng AK 47 với ba băng đạn. Tôi lấy khẩu M79 và dây mười viên đạn cho gọi là có thêm hỏa lực.

Đi! Xuyên rừng suốt hai ngày thì tới cái bản Lào khá lớn trên bản đồ đã ghi rõ tọa độ bên con sông lớn. Vào bản, gặp mấy già bản, nói rõ bộ đội Việt Nam cần mua lợn, gạo. Vài tiếng sau dân đã mang tới 5 con lợn, chú nào cũng đen như cuốc, và mấy gùi gạo nếp vừa giã, thơm lắm. Thanh niên Lào lấy dây rừng xoắn lại buộc vào cổ lợn để tụi tôi dong về. Gạo mua đóng đầy ba lô, mỗi đứa 25 cân có dư. Còn thừa ít tiền, tôi mua được hai tút thuốc Con Gà – Cop Blăng của Thái. Tụi lính gạ mãi, tôi đồng ý khử một gói, chia mỗi thằng 4 điếu. Hút ngay. Thuốc Con Gà Thái Lan thơm nức. Quá lâu mới lại được hút hít, sung sướng quá. Chúng tôi ngủ lại nhà trưởng bản. Tục người Lào Lùm, trong bản, quân các bên không được đánh nhau, nên ngủ lại ở bản rất an toàn. Trời lại mưa rả rích, nên tôi bàn với anh em, đúng ba giờ sáng dậy, quay về đơn vị. Bí mật rời đi, sợ có kẻ xấu báo với tụi Phu Mi hay lính của Vàng Pao, lính biệt kích chuyên lẩn quất trong khu vực giáp ranh này.

Tôi đánh thức anh em dậy lên đường khi trời còn tối thui. Ra khỏi bản đi cách nhau ba mét, súng lên đạn. Tay dắt lợn, tay kia cầm roi tre lùa lợn đi đúng hướng.

Con đường mòn xuyên về hướng đơn vị tôi cây phủ kín nên hành quân khá chậm. Đi được hai tiếng thì trời rạng sáng. Qua một khe núi, sương mù còn dày đặc nên gần 3 – 4 mét mới thấy lưng người đi trước.

Tôi đi đầu đội hình. Vừa lên con dốc là vào con đường mòn xe trâu đi rộng tới hai mét, đi một đoạn khoảng 200 mét định rẽ phải thì từ bên đường nơi ngã ba thình lình hiện ra tên lính nhảy từ đâu tới kề ngay tôi. Hắn giương lê nhọn hoắt cắm trên đầu khẩu AR 15. Hắn khe khẽ hô nửa Việt nửa Lào:

– Giơ tay! Nhin tải lẹo (bắn chết mày).

Tôi giật mình. Khoảng cách của hắn và tôi khá gần. Tôi nhìn rõ cả chòm râu lưa thưa của hắn vẫn dính đầy nước mưa. Sau nhớ lại, đoán, hắn mà bắn là tôi chết tươi, song có lẽ định bắt sống nên mới như vậy. Nhưng tôi nhanh hơn hắn. M79 không thể bắn nhanh. Tôi nắm ngay báng súng M79 hất lên. Vốn rất nhanh, chân phải bước lên, tay trái buông dây dắt lợn, gạt nhanh đầu lê tên địch sang trái. Cái báng súng M79 quật thốc ngược lên vả ngay vào hàm đối thủ nơi có bộ ria dính nước mưa. Cái báng bọc đế sắt của khẩu M79 rất nặng và chắc, nghe rõ tiếng “rắc”. Cái hàm kẻ định bắt sống tôi vỡ, bay khỏi bộ mặt có râu ngay lập tức.  Xong, tôi chúi người xuống, quay đầu hô to:

– Địch! Chạy! Phục kích!

Vừa hô, tôi quay lưng chạy rất nhanh.

Thằng Bản đi ngay sau lưng tôi 3 – 4 mét nghe thấy cũng bỏ lợn chạy. Sau lưng nghe rõ tiếng đạn choang choác bắn. Hàng loạt đạn lửa xanh đỏ, bay theo như mưa. Nghe rõ tiếng trung liên nổ rèn rẹt cắc cắc. Lá cây rơi rào rào trên đầu. Lửa cày tứ tung quanh bước chân của chúng tôi.

Chạy một lát, không nghe thấy tiếng súng nữa, tôi và anh em vội tạt chéo vào rừng. Đi một lát, ngồi bệt xuống thở, nghỉ ở bãi bằng, tôi chợt thấy lưng mình nhẹ tênh. Trời ơi gạo chảy hết rồi. Thì ra cái ba lô tôi bị trúng dăm sáu phát đạn. Dóc ngược ba lô lên xem, bốn năm cái đầu đạn nóng ấm còn cả trong đó, nhưng gạo theo lỗ thủng cuối ba lô đã chảy gần sạch. Ba lô thằng Bản chạy cạnh tôi cũng tương tự. Như vậy lợn thì mất sạch, gạo còn 3 ba lô, 75 cân. Trời sáng rõ, đứa nào đứa ấy mặt xanh như đít nhái, ngồi thở hổn hển. Bụng bấy giờ rỗng tuếch mà không thấy đói. Anh em ngồi lại bên nhau trong khoảng rừng săng lẻ lẫn cây khộp lá to, bên một con suối rí rách chảy. Một thằng hỏi, về chứ anh? Tôi phân công một thằng cảnh giới, châm một điếu Con Gà, suy nghĩ một lát rồi nói:

– Anh em mình nhận lệnh đi mua thực phẩm cho tiểu đoàn ăn Tết. Tiểu đoàn tin cậy chọn toàn anh em giỏi. Nay cả D trông chờ vào mấy con lợn cho nhờn mép Tết này, mà bây giờ chả may bị mật phục, mất hết lợn, về tay không thì xấu hổ quá. Anh em nghĩ sao chứ bao ngày nay, tất cả trông vào cái Tết này, nay mất hết cả chuyện ăn Tết vì anh em mình, nhục lắm. Tao ở Lào đã hai năm biết, tụi lợn Lào quen ăn rừng, không chạy đi đâu xa đâu. Tụi phục kích này là lính Phu Mi, không phải tụi Vàng Pao. Theo chiến thuật của Mỹ dạy thì chúng sẽ rút về cứ sau khi nổ súng, lộ điểm phục. Anh em mình không thể về tay không được, ăn nói thế nào với toàn tiểu đoàn. Tao đề nghị gác hai đầu, hạ trại nấu ăn. Mỗi thằng ba lạng gạo nếp mới, ăn cho no, xẩm chiều quay lại tìm lợn.

Rồi mọi sự như tôi dự đoán. Cả tốp quay lại chỗ cũ. Hú vía khi nhìn nơi khẩu trung liên của địch quân, nhìn lại nơi đặt súng máy, còn đầy cát tút đạn, chỉ cách chỗ tôi đánh thằng địch ngã năm sáu mét. Máu còn bê bết nơi ngọn cỏ. Chúng phục con đường, họng súng nhìn thẳng con đường tụi tôi đã chạy. Sao may thế. Đúng là đạn tránh người. Tụi nó phát hiện tụi tôi sớm thì nghẻo hết là cái chắc. Cũng đúng như tôi nói, giống lợn Lào thả đâu chỉ quanh quẩn ở đấy. Hai tiếng sau tụi tôi tìm đủ 5 chú lợn. Có hai chú bị dây quấn vào gốc cây mây trong rừng nhìn thấy người đến chắc đói nên rin rít ủn ỉn kêu.

Đi suốt đêm về tới đơn vị. Tôi báo cáo tiểu đoàn trưởng tình hình gặp địch. Cho ông xem hai cái ba lô rách thủng lỗ chỗ. Lại xin ông ba cân gạo chưa rơi hết còn lẫn đầu đạn chia cho 4 thằng bạn đi mua hàng Tết chết hụt, mỗi thằng được gần nửa cân về làm quà cho tiểu đội.

Năm ấy Tết thật xôm. Đại đội nào cũng đang đói rã họng lại có một cái Tết thịt hẳn một con lợn để đứa nào cũng nhờn môi. Đi qua các bếp ngửi mùi bánh chưng không đậu, mùi lá giong thơm phưng phức sao mà sướng thế. Tôi hẹn mấy thằng đi mua lợn gặp nhau mang điếu Con Gà cuối cùng hút chung. Thằng Bản gõ thìa chan chát, ư ử hát. Nó hát làm chúng tôi nhớ Hà Nội đến thế…

NGUYỄN VĂN THỌ

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.