Ký của Trương Thiếu Huyền: Trường Sa không xa, Trường Sa trong ta

Từ trắng cát và san hô, Trường Sa hôm nay đã xanh cây. Trường Sa đẹp, Trường Sa giầu, Trường Sa mạnh. Cây xanh ở Trường Sa đã chứng minh sự đẹp, giầu, mạnh của Trường Sa. Người lính quần đảo Trường Sa dành biết bao công sức để có được cây xanh như ngày hôm nay. Cây xanh ở Trường Sa cùng người lính kiên cường trước phong ba, bão táp quyết tâm bảo vệ vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.

I- QUẢNG NINH VỚI TRƯỜNG SA

Đoàn đại biểu các tỉnh, các cơ quan thăm và động viên quân dân huyện đảo Trường Sa tháng 4 vừa qua, mà báo giới chúng tôi tham gia, là đoàn thứ 5 trong năm 2007.

Đoàn do thiếu tướng Phan Khuê Tảo, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân làm trưởng đoàn, gồm đại biểu 8 tỉnh: Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Lâm Đồng, Bến Tre, Trà Vinh cùng đoàn đại biểu Viện ứng dụng công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) và Đoàn Thanh niên ngành Hàng không. Tham gia đoàn có 40 nhà báo, nhiều nhà báo nhất trong các đoàn ra thăm Trường Sa. Trong số các nhà báo, có 5 nữ nhà báo tham gia với tư cách là đại diện CLB các nhà báo nữ (Hội Nhà báo Việt Nam). Năm ngoái, tỉnh Quảng Ninh đã cử một đoàn đại biểu tham gia một chuyến đi như thế này.

Ngay trong cuộc họp trước giờ xuất phát từ cảng Ba Son (TP Hồ Chí Minh), tôi đã dự cảm đây là một chuyến đi hấp dẫn với người từ tỉnh Quảng Ninh. Trong tập ảnh giới thiệu truyền thống “Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng” được phát cho các đại biểu in trang trọng hình ảnh quen thuộc với người dân Quảng Ninh: ảnh Bác Hồ trong sắc phục Hải quân trên vịnh Bái Tử Long (13.11.1962). Trong tập ảnh này còn có nhiều hình ảnh giới thiệu những chiến công của Quân chủng Hải quân tại Quảng Ninh: ảnh giặc lái An-va-rét bị quân dân ta bắn rơi ngày 5.8.1964; tranh “Trận ngày 5.8.1964” (Tranh của Huy Toàn); ảnh “Khẩu đội pháo phòng không thuộc Đại đội 24, đơn vị Anh hùng LLVTND góp phần bảo vệ Vùng mỏ Quảng Ninh, năm 1967”.

Trong mục giới thiệu chiến công đường Hồ Chí Minh trên biển Đông-con đường huyền thoại của tập ảnh, có ảnh “Xuống hàng vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam”. Nhìn kỹ bức ảnh tôi thấy, cảnh vật trong bức ảnh rất có thể là ở khu vực vịnh Hạ Long. Rồi trong phần cán bộ Quân chủng Hải quân giới thiệu về quần đảo Trường Sa, lần đầu tiên tôi được nghe nói có đảo An Bang. An Bang là tên cũ của đất Quảng Ninh xưa kia. Quảng Ninh, nơi xưa từng ghi dấu những chiến công trên biển của cha ông như trận đốt phá thuyền lương giặc Nguyên ở Vân Đồn, các trận tại cửa sông Bạch Đằng phá quân Nam Hán, quân Nguyên, ngày nay cũng là nơi ghi dấu chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam!

Tôi mang niềm tự hào ấy lên tàu HQ996 ra với quần đảo Trường Sa. Con tàu HQ996 do nhà máy đóng tàu Bạch Đằng đóng năm 1994. Ngày 29.1.1996, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã thăm, chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, chiến sĩ của tàu. Bức tranh Chùa Một Cột. mà Tổng Bí thư Đỗ Mười tặng cán bộ, chiến sĩ tàu HQ996 trong dịp đó hiện được treo tại CLB của tàu.

Đảo mà đoàn đến đầu tiên là Nam Yết. Sau ba ngày, hai đêm “bốn phía nhìn không bóng một hàng tre” (thơ của Chế Lan Viên viết về Bác Hồ đi tìm đường cứu nước), ai cũng háo hứng lao ra phía mũi tàu để ngắm nhìn đảo Nam Yết đang hiện dần phía trước. Rồi khi tàu thả neo thì mọi người đều mát mắt khi thấy rõ Nam Yết như một ngôi làng với cây xanh xen những mái nhà đủ kiểu. Trên xuồng vào đảo, đại tá Nguyễn Văn Niên, Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân nói, tốn nhiều công sức lắm đảo mới có được như thế này, chỉ riêng bờ kè, tiền để xây dựng cỡ một bước chân chiều dài đã tới 30 triệu đồng đấy!

Lên đảo, tôi liền tới bia chủ quyền để chụp ảnh. Bên phải bia chủ quyền của đảo Nam Yết đã ghi trang trang trọng lời Bác Hồ: “… Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biến giữ gìn lấy nó”. Tại Trường Sa tôi đã hỏi anh Lưu Minh, Chủ nhiệm Nhà văn hoá Hải quân và sau đó đều được các ông Tống Khắc Hài, thư ký công trình Địa chí Quảng Ninh, Cảnh Loan, tác giả cuốn sách “Bác Hồ với Quảng Ninh” đều khẳng định là Bác Hồ đã nói câu này tại Quảng Ninh, khi Người thăm lực lượng Hải quân, ngày 15.3.1961. Bác Hồ nhiều lần thăm các đảo vùng Đông Bắc Tổ quốc: Cô Tô, Ngọc Vừng, Tuần Châu, Cát Bà…

Khi Bác Hồ thăm Cô Tô (9.5.1961), Người nói: “Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo nhưng Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết, tiến bộ”. Có đến Trường Sa, phên giậu biển Đông Tổ quốc tôi mới thấm thía hơn ý nghĩa sâu xa việc Bác Hồ đồng ý cho dựng tượng Người tại đảo Cô Tô khi Người còn sống (1968). Cô Tô và Vân Đồn là 2 huyện đảo của Quảng Ninh trong số 12 huyện đảo của cả nước. Biển đảo của ta “tươi đẹp”, theo lời Bác dạy, chúng ta “phải biết giữ gìn lấy nó”.

Tại đảo Nam Yết, một cán bộ của Cục Chính trị Hải quân tra theo tài liệu thì chỉ có 3 người quê ở Quảng Ninh. Trong khi đó các đồng nghiệp của tôi đã tìm ra 5 người. Nói là 3 người cũng đúng, rồi 5 người cũng đúng, là bởi nhiều người tuy quê không ở Quảng Ninh nhưng ra Trường Sa từ đơn vị đóng quân ở Quảng Ninh và hiện hậu phương vợ con ở Quảng Ninh. Theo Trung uý Cao Hồng Hải công tác tại đảo Tiên Nữ, quê ở thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng, ở Trường Sa có rất nhiều sĩ quan có “hậu phương” ở Quảng Ninh. Tại đảo Nam Yết, thiếu uý Nguyễn Văn Minh, người TX Cẩm Phả đã tặng đồng hương Quảng Ninh quả đu đủ chín vàng. Khi chụp ảnh, anh Minh giấu bàn tay quấn băng do mới bị phẫu thuật mụn nhọt. Anh nói, sợ chúng tôi cầm ảnh về Cẩm Phả, người nhà của anh nhìn thấy tay quấn băng đâm lo. Quả đu đủ ấy khi lên tầu chúng tôi đã tặng lại các nhà báo nữ.

Tại đảo Trường Sa lớn, Thiếu tá Trần Hồng Thái quê Tiền An, Yên Hưng ngỏ ý muốn có ảnh cầu Bãi Cháy để nhìn cho đã. Anh Phạm Quang Minh, đồng nghiệp của chúng tôi mang theo một tờ Báo Quảng Ninh số Tết có ảnh cầu Bãi Cháy in ở trang bìa để tặng anh. Anh Thái tặng chúng tôi 3 hộp dứa, tiêu chuẩn bồi dưỡng của anh. Chúng tôi thống nhất là sẽ mang 3 hộp dứa này về Quảng Ninh đưa tận tay cho vợ con anh.

Hành trình của chúng tôi thứ tự tới các đảo: Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Tiên Nữ, Núi Le, Đá Tây, Trường Sa và khu DK1 (Khu dịch vụ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Rất tiếc là hành trình của chúng tôi không có kế hoạch tới đảo An Bang. Trên bản đồ, đảo An Bang nằm phía nam quần đảo Trường Sa, gần khu DK1. Trên sông Sài Gòn lúc trở về, tôi nhìn thấy một con tàu lớn mang tên An Bang ngược tàu chúng tôi ra khơi. Chỉ con tàu có tên An Bang, tôi nói với đồng nghiệp Xuân Thành của Báo Khánh Hoà: An Bang là tên của vùng đất Quảng Ninh trước đây, quần đảo Trường Sa cũng có đảo mang tên An Bang! Mối quan hệ Quảng Ninh với Trường Sa nằm trong mối quan hệ “cả nước vì Trường Sa, Trường Sa vì cả nước”, nhưng tôi cho rằng nó mật thiết hơn so với các nơi khác.

II- CÂY Ở TRƯỜNG SA

Theo tài liệu của Quân chủng Hải quân, ở quần đảo Trường Sa, “thực vật sinh trưởng tự nhiên phổ biến là cây phong ba, bàng quả vuông, mù u, xương rồng, rau muống biển và một số cỏ sắc cạnh”. Vì tài liệu không nói tới cây bão táp nên tôi đồ rằng phong ba và bão táp chỉ là hai tên gọi của một cây. Rồi khi tới Trường Sa, nhiều người trong đoàn cũng như tôi mới vỡ lẽ, cây bão táp khác, cây phong pha khác. Tại đảo Trường Sa Lớn, Thiếu uý Bùi Văn Thuấn, nhân viên thuộc bộ phận kỹ thuật, quê tỉnh Hưng Yên giảng giải, cây phong ba lá to hơn, thân to hơn cây bão táp. Còn cây bão táp ra hoa vào khoảng tháng 3, tháng 4, khi biển động thì cây trụi lá.

Cây phong ba, cây bão táp biểu tượng cho sự kiên cường của người lính Trường Sa trước khắc nghiệt của thiên nhiên, còn cây bàng quả vuông là sản vật độc đáo của Trường Sa. Bắt tay chúc tôi lên đường ra Trường Sa may mắn, đồng nghiệp Đỗ Trọng Phao, cựu đại uý quân đội, “yêu cầu” tôi khi trở về phải có quà là quả bàng vuông. Trước khi lên đường, qua báo Thanh Niên tôi biết, trong chuyến thăm huyện đảo Trường Sa cuối tháng trước đó, Chính uỷ Quân chủng Hải quân Nguyễn Văn Tình đã trân trọng tặng ông Nguyễn Quốc Triệu, Chủ tịch UBND TP Hà Nội quả bàng vuông. Vì thế khi đến Trường Sa, tôi hỏi ngay đâu là cây bàng quả vuông, và tìm xem quả nó vuông như thế nào.

Vì tính từ đầu năm 2007, đoàn chúng tôi là đoàn thứ 5 tới Trường Sa, nên sản vật đặc biệt này được những vị khách từ đất liền “sưu tầm” khá kỹ. Phía đông của đảo Sinh Tồn Đông có cây bàng quả vuông còn 3 quả rất đẹp, 1 quả khác đã được bọc trong một miếng vải, chắc là để làm giống. Tôi định hái lấy một quả thì một chị trong đoàn “can ngăn”, rằng để đó cho đẹp. Thế rồi khi rời đảo, 3 quả bàng vuông ấy đã được các chị trong đoàn cầm trên tay.

Thật tiếc! Tại đảo Trường Sa Lớn, tôi đã xác định được vị trí mấy quả bàng vuông, nhưng rồi tôi cũng ngại ngần, vì để lấy quả bàng này thì phải vin đến gẫy cành. Một cán bộ tại đảo Trường Sa Lớn kể, trước khi ươm quả bàng vuông phải ngâm quả trong nước biển. Quả bàng vuông trên cây, nếu xăm chữ thì chữ sẽ nổi lên, rất đẹp. Những quả bàng vuông trôi dạt từ đảo khác đến là những quả dễ ươm trồng nhất. Theo quan sát của tôi, so với cây bàng thường, vỏ thân cây bàng quả vuông không xù xì và lá của chúng mỏng hơn, thường bị sâu ăn.

Đẹp về cảnh quan là một trong ba mục tiêu phấn đấu của các cán bộ, chiến sĩ trên từng đảo (mạnh về phòng thủ, tốt về lối sống, đẹp về cảnh quan). Đảo Nam Yết là đảo có nhiều cây xanh nhất. Trên đảo có cả đường cây mang tên Thanh Niên. Sau phong ba, bão táp, bàng, thì dừa là cây được trồng nhiều ở đảo Nam Yết. Tại Nam Yết, dưới gốc cây mù u lớn, cạnh cột mốc chủ quyền, chúng tôi đã được uống nước dừa từ những cây dừa của đảo. Phong trào trồng cây để đạt tới mục tiêu “Trường Sa xanh” đã được đảo Trường Sa Lớn phát động vào dịp đầu xuân. Theo trung uý Nguyễn Văn Hải, bộ phận kỹ thuật, quê Hà Tây, đảo đã giao chỉ tiêu cây mới trồng cho từng người, “cây nào chết thì trồng lại”. Một trong những loại cây thân gỗ được trồng nhiều ở đảo Trường Sa Lớn là cây tra.

Khi tới đảo Nam Yết, các nhà báo và văn công của Quân chủng Hải quân được vào đảo trước để làm nhiệm vụ, còn các cán bộ của các tỉnh, các ngành sẽ vào đảo sáng hôm sau. Nhưng rồi cán cán bộ của Viện ứng dụng công nghệ đề nghị được vào đảo trước để chuẩn bị cho việc trồng thí nghiệm giống cây xương rồng nhập ngoại có thể ăn được. Đoàn cán bộ của Viện ứng dụng công nghệ do tiến sĩ Phan Xuân Dũng, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Viện trưởng làm trưởng đoàn, cùng hai thành viên là tiến sĩ Lê Tất Cường và kỹ sư Cao Mạnh Tường.Tại một đơn vị của đảo Nam Yết, tiến sĩ Lê Tất Cường và kỹ sư Cao Mạnh Tường đã tìm hiểu việc trồng rau, việc thu giữ nước mưa trên đảo.

Cuộc “toạ đàm” này diễn ra giữa sân trước khi đi ngủ, kể cả khi đảo cắt điện. Theo quy định, vào buổi tối đảo chỉ phát điện đến 21 giờ. Cùng ngồi tham gia cuộc trao đổi này tôi được biết, việc trồng thí nghiệp cây xương rồng ăn được chỉ là việc nhỏ, các cán bộ của Viện ứng dụng công nghệ còn xem xét để có thể triển khai các công trình phục vụ trên các đảo, trong đó có việc thiết kế nhà giàn để trồng rau trên đảo. Rồi việc thu nước mưa, cần phải tận thu nước mưa ở cả sân bê tông, đường bê tông để làm nước tưới rau như thế nào cũng được các nhà khoa học quan tâm. Chuyện trồng rau trên đảo xen chuyện tâm tình. Kỹ sư Cao Mạnh Tường tâm sự, anh là học sinh Trường THPT Hòn Gai khoá học 1969-1971, ngay sau tốt nghiệp phổ thông, anh được cử đi học ở Bungari theo tiêu chuẩn của tỉnh Quảng Ninh.

Tiến sĩ Phan Xuân Dũng còn cho biết, cây xương rồng mà Viện ứng dụng công nghệ trồng thí nghiệm trên đảo Nam Yết (100 cây) và đảo Trường Sa Lớn (400 cây) có tên Nopal, nguồn gốc từ Nam Mỹ. Loại xương rồng này có thể xào, hoặc muối dưa. Việc trồng rau ở một số đảo nổi của Trường Sa đã rất vất vả, còn ở các đảo chìm thì còn là việc kỳ công. Tại đảo Tiên Nữ, 50 mét vuông rau xanh được trồng bằng 76 thùng. Một năm các thùng đất này được thay đất mang từ đất liền ra hai lần. Nắng, mưa và gió của Trường Sa rất khắc nghiệt: nắng chang chang, mưa xối xả, gió như bão nổi. Nhưng Trường Sa cũng rất trữ tình, hình ảnh gợi nhất là hoa muống biển. Những chùm phong lan cũng được đưa ra đảo, nhất là ở những đảo chìm, tạo những khoảng trời mơ mộng cho lính đảo.

Đoàn chúng tôi không có kế hoạch tới đảo Song Tử Tây, một trong ba đảo lớn của quần đảo Trường Sa mà Hải quân ta đang đóng quân bảo vệ. Cán bộ Quân chủng Hải quân cho biết, đảo Song Tử Tây có hẳn một thung lũng có cỏ xanh và chăn nuôi được cả đàn bò. Cùng với tìm biện pháp tốt nhất để trồng rau xanh ở quần đảo Trường Sa, việc xanh hoá các đảo nổi bằng cây xanh thân gỗ sẽ tạo cho sự ngọt hoá nguồn nước tại các đảo này.

Từ trắng cát và san hô, Trường Sa hôm nay đã xanh cây. Trường Sa đẹp, Trường Sa giầu, Trường Sa mạnh. Cây xanh ở Trường Sa đã chứng minh sự đẹp, giầu, mạnh của Trường Sa. Người lính quần đảo Trường Sa dành biết bao công sức để có được cây xanh như ngày hôm nay. Cây xanh ở Trường Sa cùng người lính kiên cường trước phong ba, bão táp quyết tâm bảo vệ vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.

III- BIA Ở TRƯỜNG SA: “NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ”

Trên đường ra Trường Sa, nhiều lãnh đạo của các tỉnh tâm sự là, dù đã được đi khắp các tỉnh trong nước và cả tới nhiều nước của các châu lục, nhưng nếu không được tới Trường Sa, thì thật thiệt thòi. Tâm sự này đã được cánh nhà báo chúng tôi chia sẻ. Ai cũng tự hào về việc mình được tới Trường Sa. Phòng chúng tôi trên tàu HQ996 gồm 6 người, cùng 3 chúng tôi (2 Báo Quảng Ninh, 1 Đài PTTH Quảng Ninh), là các đồng nghiệp Nguyễn Đức Thiện (Báo Nam Định) và Nguyễn Xuân Long, Dương Hiển Cừ (Đài PTTH Quảng Ngãi).

Nhà báo Nguyễn Đức Thiện cho biết từng đọc một bài báo có nói đến tại Trường Sa đã xây dựng bia ghi bài thơ “Nam quốc Sơn hà” của Lý Thường Kiệt. Đây là bài thơ được coi là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam. Thế “bia thơ” đó ở đảo nào? Thiếu uý Trần Quang Linh, công tác tại tàu Trường Sa 20, được điều động tới tàu HQ 996 phục vụ đoàn công tác, lắc đầu không biết có “bia thơ” trên quần đảo. Thấy tôi đọc giáo trình tiếng Trung Quốc, Trần Quang Linh đã bảo tôi viết tặng mấy chữ Nho làm kỷ niệm. Tôi cố gắng viết thật đẹp câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” bằng chữ Nho cùng lời đề tặng. Thiếu uý Trần Quang Linh luôn chuyện trò thân thiết với chúng tôi, là bởi ngay từ lần đầu tiên vào phòng chúng tôi, anh và nhà báo Nguyễn Xuân Long đều có chung những hồi ức về tàu Trường Sa 20 cứu hộ trong bão Chanchu. Dịp đó, khi Trường Sa 20 tìm kiếm đưa ngư dân còn sống sót cùng thi hài các nạn nhân vào Quảng Ngãi, nhà báo Nguyễn Xuân Long đã lên tàu để tác nghiệp. Trong khoảng 240 giờ hành trình của cả chuyến đi Trường Sa, chúng tôi có mặt trên các đảo chỉ khoảng 40 giờ, nhưng trong đó đã có khoảng 6 giờ ngủ đêm (đảo Nam Yết) và 1 giờ ngủ trưa (đảo Trường Sa Lớn).

Phần lớn thời gian là chúng tôi trên tàu. Khi tàu chạy là chúng tôi lại chia sẻ những hiểu biết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lãnh thổ chúng ta, diện tích đất liền có gần 330 ngàn km2, nhưng biển của chúng ta hơn 1 triệu km2. Từ khởi thuỷ, tổ tiên ta, Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cùng 50 con lên rừng, 50 con xuống biển để mở mang bờ cõi. Nếu ví Tổ quốc ta như một con tàu, thì Hoàng Sa, Trường Sa là hai cánh buồm của con tàu ấy. Nhà báo Nguyễn Xuân Long kể, ngư dân ở Quảng Ngãi còn lưu giữ những “mệnh lệnh” của chính quyền phong kiến lệnh đội tàu Hoàng Sa khai thác hải vật ở Hoàng Sa, Trường Sa. Và anh đã được tường tận xem những “mệnh lệnh” này. Quảng Ngãi có huyện đảo Lý Sơn và là một trong những tỉnh có số lượng ngư dân đông nhất, lâu đời đi biển và đi xa nhất để khai thác hải sản.

Từ những ca khúc được hát lên, các đồng nghiệp Đài PTTH Quảng Ngãi đã giới thiệu về quê hương mình có Ba Tơ quật khởi, có Sơn Mỹ chứng tích căm thù quân xâm lược, có sông Trà Khúc hiền hoà… Quảng Ngãi, quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, là nơi bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm chung đúc lòng yêu nước, sáng lên tấm gương tuổi trẻ sống có lý tưởng cách mạng, chan chứa tình yêu thương. Quảng Ngãi hôm nay có vinh dự và trách nhiệm xây dựng công trình lớn của đất nước: Nhà máy lọc dầu tại Khu Kinh tế Dung Quất.

Theo tài liệu Toàn cảnh biển đảo Việt Nam (Website Đảng Cộng sản Việt Nam), các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo vô chủ cho đến thế kỷ XVII. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi Cát Vàng. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn tổ chức “đội Hoàng Sa” lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quí hiếm mang về dâng nộp. Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm “đội Bắc Hải” lấy người thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa.

Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như “Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá tự Công Đạo (1686), ” Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1776), “Lịch triều Hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1821), “Đại Nam thực lục tiền biên” (1844-1848), “Đại Nam thực lục chính biên” (1844 – 1848), “Đại Nam nhất thống chí” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1910), Dư địa chí “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ”, “Quốc triều chính biên toát yếu” (1910). Đồng thời, hai quần đảo và các hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên đó cũng được nhắc đến trong các tác phẩm nước ngoài như “Nhật ký Batavia” (1936), “Hải ngoại ký sự” (1696) “An Nam đại quốc hoạ đồ” (1838)…

Cùng với nhiệm vụ khai thác hải sản và hàng hoá trên quần đảo, nhà Nguyễn còn tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo … liên tục trong các năm 1834, 1835 và 1836. Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Biết bao cảnh vật, câu chuyện hấp dẫn chúng tôi từ các đảo Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Tiên Nữ, Núi Le. Càng đi, càng hấp dẫn. Đúng khi tôi không nhớ tới “bia thơ”, thì “bia thơ” xuất hiện một cách bất ngờ tại đảo Đá Tây, cụ thể hơn là ở Khu hậu cần nghề cá của đảo này. Khu hậu cần nghề cá này thuộc Tổng Công ty Hải sản Biển đông (Bộ Thuỷ sản). Tại đây có Công ty Hải sản Trường Sa (Quân chủng Hải quân). Cơ sở kinh tế, dịch vụ này ngay sát đảo bia chủ quyền. Khi tôi từ đảo bia chủ quyền sang là lượt xuồng thứ ba. Rồi khi xuống xuồng từ Khu hậu cần nghề cá trở lại tàu HQ996 đến lượt tôi thì đã đủ người, nên tôi chờ chuyến sau.

Chính trong lúc chờ đợi đó, tôi tìm cầu thang và leo lên điểm cao nhất của Khu hậu cần nghề cá để ngắm biển. Tại khoảng sân cao đó, tôi bỗng run lên khi được thấy “bia thơ”. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” được khắc đá, phía trước có bát hương đang nghi ngút hương thơm, bệ bia khắc hình trống đồng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Tôi đang băn khoăn là đồng nghiệp Nguyễn Đức Thiện biết “bia thơ” chưa, thì Nguyễn Đức Thiện xuất hiện. Sao tình cờ thế nhỉ? Nếu đi ngay từ chuyến xuồng trước đó thì tôi đâu có được cơ hội thấy “bia thơ”. Nguyễn Đức Thiện nói với tôi: “Em đã nói rồi, rõ ràng là có bia khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” ở Trường Sa mà!” Được thấy “bia thơ” là một trong những điều hứng khởi của tôi trong chuyến đi này. Giữa Trường Sa đọc to lên câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thật sảng khoái, tự hào. Đó là tư thế quật khởi của dân tộc Việt Nam trước kẻ xâm lược. “Bia thơ” đã tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam là không phải bàn cãi gì nữa! Trường Sa có “bia thơ”, Hạ Long có “núi thơ” (Núi Bài Thơ), tình cờ chăng? Cả “bia thơ” và “núi thơ” đều khắc ghi thơ của quân vương, tuyên bố về giữ nước, dựng nước thì đâu là chuyện tình cờ!

Khi tới các đảo, chúng tôi chứng kiến việc chuẩn bị bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XII được tiến hành nghiêm túc. Được biết, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 65/2007/NĐ-CP thành lập các đơn vị hành chính của huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa).  Theo đó, huyện Trường Sa có ba đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Trường Sa và các xã Song Tử Tây, Sinh Tồn. Thị trấn Trường Sa được thành lập trên cơ sở đảo Trường Sa Lớn và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Song Tử Tây được thành lập trên cơ sở đảo Song Tử Tây và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Sinh Tồn được thành lập trên cơ sở đảo Sinh Tồn và các đảo, đá, bãi phụ cận. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đang vang vọng trên Biển Đông, khắc sâu tâm khảm người Việt Nam hôm nay, không ngừng bồi đắp tình yêu đất nước, bản lĩnh dựng nước và bảo vệ Tổ quốc. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” khắc bia ở Trường Sa chính là cột mốc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc thiêng liêng được dựng lên từ nền tảng giá trị tinh thần của người Việt Nam.

Các chiến sĩ tưởng nhớ các anh hùng hy sinh bảo vện biển đảo

IV- TRƯỜNG SA KHÔNG XA     

Có thể nói, ở Trường Sa, mỗi người lính đều ẩn chứa sự tích anh hùng, từng sự vật đều đều gợi lên sự phi thường, chí ít cũng đáng để mọi người biết tới. Trong đêm liên hoan chia tay đoàn công tác, một đồng nghiệp của chúng tôi thốt lên: “Bất đáo Trường Sa phi ký giả!” Với nhà báo, ở Trường Sa cái gì cũng mới, cái gì cũng gợi lên một ý nghĩa nào đó mà nhà báo thấy cần thiết chuyển tải đến công chúng.

Bộn bề ghi chép, cái gì cũng muốn được viết ra, nhưng rồi sẽ viết những gì trước, bắt đầu từ đâu là vấn đề luôn trăn trở. Đại tá Nguyễn Cộng Hoà, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải Quân, trong lần gặp gỡ riêng với các nhà báo cho biết mới đọc một bài báo viết về Trường Sa rất hay. Bài báo chỉ viết về lá Quốc kỳ treo ở cột mốc chủ quyền. Chỉ viết về một việc là để có được lá cờ lúc nào cũng đỏ thắm, kiêu hãnh giữa mây trời, sóng biển, nhưng lại nói được nhiều điều về người lính Trường Sa.

Các đảo có được cơ ngơi như hôm nay là một chặng đường phấn đấu đầy gian khó, hy sinh, nhất là ở những đảo chìm. ở đảo chìm, trụ sở đầu tiên là pông tông kéo lên bãi san hô. Sau đó cắm cọc làm nhà giàn. Tiếp theo là xây trụ sở đảo kiểu như lô cốt. Hiện một số đảo chìm, bên cạnh trụ sở xây mới vẫn còn trụ sở cũ kiểu lô cốt, có nơi vẫn còn thấy pông tông hỏng, cọc nhà giàn.

Tại khu vực đảo Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma, đoàn chúng tôi đã tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh anh dũng tại nơi này, trong trận chiến đấu ngày 14.3.1988, khi tàu vận tải đưa bộ đội ta và vật liệu xây dựng tới đóng quân, xây dựng đảo. Khi vòng hoa tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ của đoàn được thả xuống biển, nhất loạt mọi người thả từng bông hoa từ mạn tàu. Tôi chọn một bông huệ, một bông hồng thả xuống biển và tưởng tượng trong tiếng gió, trong tiếng sóng có lời của các anh. Các anh vẫn đang canh giữ biển đảo cho Tổ quốc.

Trong số cán bộ, chiến sĩ hy sinh ngày ấy ở nơi này, nhiều người còn rất trẻ. Công tác hôm nay của các chiến sĩ hải quân vẫn còn nhiều gian khó, thử thách, đòi hỏi tinh thần sẵn sàng hi sinh. Tại đảo Nam Yết, chúng tôi đã tới thắp hương viếng mộ liệt sĩ Hoàng Đặng Hùng, sinh ngày 17.5.1984, hy sinh ngày 25.7.2004, quê gốc xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, nguyên quán xã Hoà Bình, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở đảo Đá Lớn. Được biêt ông ngoại của liệt sĩ Hoàng Đặng Hùng cũng là liệt sĩ.

Chuyến đi này ai cũng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng say sóng. Thế rồi biển lặng đến mức có người còn muốn có sóng để… làm kỷ niệm. Sau gần ba ngày xuất phát, khi tàu chuẩn bị thả neo vào đảo Nam Yết thì gặp cá heo nhảy múa. Có người nói, biển lặng thế này mà gặp cá heo thì sẽ có gió mùa, sóng vào vài ngày tới. Thế mà cả 10 ngày Trường Sa biển lặng, hành trình êm ru. Có lẽ đây là may mắn của chuyến đi, vào đúng những ngày biển lặng của “tháng ba, bà già đi biển”. Không chỉ bất ngờ bởi biển lặng, mà mặc dù đã hình dung, song chúng tôi còn bất ngờ với việc chăn nuôi ở các đảo. Con vật được theo bộ đội đến với các đảo ở Trường Sa đầu tiên có lẽ là chó. Hiện ở các đảo chìm thì chó là vật nuôi gần như duy nhất.

Năm 2006, đảo Tiên Nữ “tăng gia” được 255 kg thịt chó. Khi chúng tôi đến thăm, Tiên Nữ đang còn đàn chó 26 con, trong đó có 2 con đang có chửa. Đàn chó của đảo Nam Yết tới 80 con. Đại tá Nguyễn Văn Niên, Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân cho biết, ban đêm chó cũng “canh gác” đảo. Động tĩnh gì là sủa cắn, con vích vừa vào sát mép đảo là bị chó phát hiện. Có đảo khi có khách, chó còn bơi đón xuồng chở khách từ xa, khi tới gần xuồng thì bơi quay vào dẫn đường. Những chuyện ở Trường Sa làm chúng tôi ngỡ ngàng như thế này không ít. ở đảo Sinh Tồn Đông, tôi được nghe đảo trưởng báo cáo với đoàn cả việc phòng chống ngập lụt.

Đảo nhỏ, xung quanh là biển thì lụt thế nào được. Nhưng đây lại là một thực tế. Nêú không làm tốt công tác thoát nước thì khi mưa lớn, biển vỗ sóng tràn vào thì nước và cát sẽ tràn khắp nơi, các bể chứa nước, công trình dưới mặt đất sẽ bị nước và cát tràn vào. Rồi câu chúc quen thuộc “thượng lộ bình an” đã được cụ thể bằng “hải lộ bình an”. Lần đầu nghe các chiến sĩ ở đảo chúc “hải lộ bình an” khiến tôi hơi lạ một chút, sau đó ngẫm ra thật thú vị. Tôi nhận thấy nét văn hoá Trường Sa đang hiện rõ trong quân, dân Trường Sa ở giao tiếp, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, ở chế biến các món ăn.

Thời gian đến các đảo không nhiều nên các nhà báo đều khẩn trương tác nghiệp. Từ đảo trưởng, chính trị viên đảo, phó đảo trưởng đến các chiến sĩ vừa tiếp khách vừa trả lời phỏng vấn của nhà báo. Phía đầu giường của bộ đội Trường Sa thường treo ảnh vợ, ảnh con hoặc ảnh vợ chồng cùng con cái. Tại đảo Tiên Nữ, tôi để ý ảnh cặp uyên ương có tên đề “Thắng Cảnh-Bích Ngân, 19.3.2006”. Nói là để ý, bởi con số ngày tháng “19.3” ghi trên tấm ảnh có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi, nó là ngày cưới của tôi. Hỏi ra, đây là ảnh của thượng uý Mai Văn Cảnh, chính trị viên của đảo, quê xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng và vợ là cô giáo Vũ Thị Bích Ngân, quê xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, đang dạy học tại Trường THPT bán công Vĩnh Bảo, cùng TP Hải Phòng. Tôi giới thiệu mình cũng quê TP Hải Phòng, công tác ở Quảng Ninh và chỉ kịp hỏi Mai Văn Cảnh mấy câu, sau đó các đồng nghiệp đã “sáp vô” phỏng vấn anh.

Tôi không hình dung rõ được những người vợ có chồng ở Trường Sa nhớ tới chồng như thế nào. Có thể là, nghe bản tin dự báo thời tiết nói tới biển Đông là nhớ chồng ở vùng biển ngàn trùng ấy. Nhặt rau chuẩn bị nấu cơm, là nhớ chồng nói tới thèm rau. Nhìn hoa là nhớ tới hoa muống biển chồng kể… Đã yêu nhau mà xa cách thì cái gì cũng có thể xui khiến nỗi nhớ dâng trào. Một lần tâm sự với chúng tôi, thiếu uý Trần Quang Linh (tàu Trường Sa 20) kể có vợ là Đào Huệ cùng quê tỉnh Ninh Bình, hiện là giáo viên ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Chàng sĩ quan trẻ và cô giáo trẻ mới tổ chức lễ cưới tháng 12.2006. Thiếu uý Trần Quang Linh cho biết vợ chồng anh đã có “tin vui” – vợ đã có bầu. Vợ anh muốn, nếu sinh con trai thì đặt tên là Trần Đào Hải Đăng, còn nếu sinh con gái thì sẽ đặt tên là Trần Đào Tú Nguyệt. Và anh giải thích vì sao vợ anh lại muốn đặt tên con như thế.

Câu chuyện đặt tên con của thiếu uý Trần Quang Linh khiến tôi có ý định viết một bài thơ có nhan đề “Người lính biển kể về vợ dặn”. Bài thơ chưa trọn vẹn nên tôi chưa chép tặng Trần Quang Linh: “Vợ dặn, đặt tên con gái là Tú Nguyệt, vầng trăng anh cùng em cùng yêu thương/ Đặt tên con trai là Hải Đăng, tới đích con tàu hạnh phúc đôi ta/ Vợ dặn, nếu nhớ em anh hãy hát bài ca em thích/ Sáng em là hải âu/ Chiều em là mây hồng/ Tối em là ngôi sao/ Sóng vỗ mạn tàu là tình em tha thiết…”

Nói về thơ, tôi đã hỏi thượng tá Khổng Minh Hải, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trường Sa về nhà thơ Trần Đăng Khoa khi đến đảo Sinh Tồn để viết bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”. Anh Hải còn kể nhiều về “hoàn cảnh ra đời” của những bài hát khi anh nhiều lần cùng các nhạc sĩ đi thực tế ở Trường Sa. Anh Lưu Minh, Chủ nhiệm Nhà văn hoá Hải quân nói với tôi, Trường Sa rất khơi gợi nên thơ, nên nhạc, anh Cảnh (Ngô Tiến Cảnh, cựu đại uý Hải quân, hiện công tác Hội Nhà báo tỉnh Quảng Ninh) lần đầu đến Trường Sa là có bài hát ngay. Ngay chuyến đi này, nhạc sĩ Phạm Nguyễn – Trưởng đoàn Văn công Hải quân đã có ngay một bài hát. Đến thiếu tướng Phan Khuê Tảo, Phó Tư lệnh Quân chủng, lúc nào cũng nghiêm trang, nói chuyện thì toàn kiểu khẩu lệnh, thế mà trong một đêm văn nghệ đã chơi đàn oóc-gan hai bản nhạc thật tài hoa.

Đêm giao lưu văn nghệ tại đảo Trường Sa Lớn thật ấn tượng. Khi ca sĩ Phương Anh biết các chiến sĩ khó khăn lắm mới có được hoa cải để tặng mình trong đêm diễn, thay vì một bài hát vui đã giới thiệu, chị đã hát ca khúc “Mùa hoa cải”, kết thúc đêm giao lưu. Bài hát làm mọi người lặng đi bởi da diết nhớ thương. Để rồi ngay sau đó khi chia tay trong đêm, người trên tàu, người trên cầu cảng nghẹn ngào cùng tay vẫy: “Không xa đâu Trường Sa ơi. Không xa đâu Trường Sa ơi. Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em…”

V- THAY LỜI KẾT

Trường Sa ngày một gần hơn bởi cả nước vì Trường Sa, Trường Sa vì cả nước; gần hơn bởi ngày càng những chuyến tàu của ngư dân tới Trường Sa để khai thác hải sản. Hằng ngày, tiếng nói từ Hà Nội, trái tim của Tổ quốc vang trên Trường Sa qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và mọi thông tin, liên lạc đã thuận lợi hơn.

Trong bài nói chuyện với đoàn công tác tại đảo Trường Sa Lớn, thiếu tướng Phan Khuê Tảo cho biết ở Trường Sa ngày càng xanh hơn, đẹp hơn, đang trở thành làng quê và cho rằng, vài chục năm sau Trường Sa trở thành thành phố lớn. Hiện tất cả các điểm đảo có tivi, radio, trong đó 10 điểm đảo đã có điện mặt trời. Tôi nhớ, kết thúc bài nói chuyện, thiếu tướng Phan Khuê Tảo đã nêu tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá X) về Chiến lược biển đến năm 2020 là, phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước.

Trường Sa không xa, Trường Sa trong ta, Trường Sa đang phát triển.

TRƯƠNG THIẾU HUYỀN

Báo Quảng Ninh – 5.2007

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *