Lời chiêu tuyết cho Văn Lê

VHSG- Văn Lê biết nhiều chuyện cổ kim đông tây, anh thường rút ra bài học từ lịch sử. Những năm tuổi đời cao, anh Văn Lê vẫn gặt hái nhiều thành công chính là nhờ anh đọc nhiều, đi nhiều, làm việc không ngưng nghỉ. Nghề văn nếu làm việc thành thực, mải mê nhất định sẽ được đền bù…

Nhà thơ Văn Lê. Ảnh: PH

Nhiều người viết văn làm thơ trong quân đội thường bảo rằng, các nhà văn lớp trước thường tạo cảm hứng sáng tác cho thế hệ cầm bút sau. Quả vậy, với riêng tôi, các nhà văn mặc áo lính thời đánh Mỹ như Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Vương Trọng… có sức vẫy gọi vô hình nhưng hết sức quyến rũ dẫn dắt mình vào con đường chông gai, gian khổ mà hấp dẫn đến lạ lùng. Riêng với anh Văn Lê, tôi biết anh ngày Sài Gòn – Gia Định vừa giải phóng, khi tôi tới tòa soạn báo Văn Nghệ Giải Phóng đưa bút ký Cánh quân ngựa sắt và mấy bài thơ viết về Chiến dịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, tôi được gặp nhà thơ Hoài Vũ, Văn Lê. Nhà thơ Hoài Vũ tác giả Vàm Cỏ Đông nổi tiếng, Văn Lê với những bài thơ in trên báo Văn Nghệ Giải Phóng và chùm thơ đoạt giải cao báo Văn Nghệ, trong đó có Tiếng gọi bò, tâm trạng của người lính xuất thân từ thôn quê nằm trên điểm tựa nghe tiếng gọi bò, tìm bò lạc do bom đạn: Súng và người vần nhau trằn trọc. Phải rồi, mấy chữ súng và người vần nhau trằn trọc tạo nên điểm nhất cho toàn bài thơ.

Chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, chúng tôi lên mặt trận rồi được lựa về trại viết văn quân đội ở phía Nam do nhà thơ Sơn Nam, rồi Nguyễn Chí Trung vừa từ quân khu 5 vào phụ trách, ở đường Đặng Thái Thân, ở đây có Trần Tùng Mậu, Lê Huy Khanh, Trần Đình Thế, Lê Quốc Phong… và tôi. Anh Văn Lê đã là người nổi tiếng trên văn đàn. Trong cái thời tuổi trẻ quá cuồng nhiệt, chúng tôi hăm hở ngồi viết, cứ có chuyện ở mặt trận là viết, không quan tâm đến bút ký, truyện ngắn, truyện dài hay chỉ là câu chuyện theo dạng kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội. Sau đó có các cán bộ biên tập Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân: Vũ Sắc, Đỗ Gia Hựu vào biên tập để đưa tới Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh in thành tập để phát cho các đơn vị bộ đội. Anh Văn Lê đã là cây bút chuyên nghiệp nhưng rất khiêm nhường, ít nói. Sau này, tôi mới hiểu được rằng, các nhà văn thực sự có tài họ ít nói về tác phẩm của mình. Phải chăng, họ thấy rằng, nghề văn quả là rất khó, tác phẩm của mình có nhiều hạn chế.

Khi cuộc chiến tranh biên giới diễn ra khốc liệt, một hôm khi đang ở Tịnh Biên nơi đơn vị tôi đứng chân, tôi được nghe đài phát thanh Thành phố Hồ Chí Minh phát đi bài thơ Tiễn bạn tái ngũ, lời dẫn cho biết là nhà thơ Văn Lê tái ngũ, rất tiếc trong tiếng lè rè của chiếc radio yếu pin tôi không nghe rõ tác giả là ai. Nhà thơ Văn Lê tái ngũ với tư cách tình nguyện chứ không phải do điều động, thật ngưỡng mộ. Trở về quân đội khi tuổi đã bước vào trung niên hẳn anh gặp không ít khó khăn khi phải rèn luyện với chiến sỹ trẻ. Tôi nghĩ vậy. May mắn thay, anh Văn Lê được tuyển vào cục chính trị Quân khu 7 để làm cán bộ sáng tác.

Khi đất nước Campuchia giải phóng, trại viết văn được mở ở khu phố Tur Koc, ngoại ổ thủ đô Phnôm Pênh. Trại viên là cán bộ, chiến sỹ ở các sư đoàn, mặt trận, lúc này anh Văn Lê ở mặt trận 479, miền tây nước bạn, địa hình phức tạp, địch thường xuyên tập kích, phục kích trên các con đường về xuôi nên không về được nhưng anh vẫn gửi bài viết về để tham gia. Mấy lần lên các đơn vị đứng chân ở Pay Lin, Bát Đam Boom, Xiêm Riệp ghé vào Cục chính trị mặt trận 479, tôi được gặp anh Văn Lê. Nắng gió, mưa dầm ở đất nước Chùa Tháp khiến da mặt anh sạm đi, đôi mắt ưu tư suy nghĩ nhưng đức tính hiền hậu vẫn toát lên gương mặt anh.

Cái nghề viết văn dù thân thiện hay không ưa tính tình nhau rồi cũng quấn lấy nhau. Nghĩ cho cùng nhà văn không gặp nhau,kết bạn với nhau thì kết ai. Khi tôi được về tạp chí Văn Nghệ Quân Đội làm công việc thường trú ở phía Nam, hầu như ngày nào cũng được gặp các nhà văn nổi tiếng Trần Bạch Đằng, Anh Đức, Viễn Phương, chỉ có nói chuyện đời, chuyện kinh nghiệm sáng tác mà không bao giờ hết. Thỉnh thoảng các nhạc sỹ Hoàng Hiệp, Xuân Hồng đến ngồi vào ghế trống góp chuyện. Hóa ra chuyện nghề viết ca khúc cũng tựa như sáng tác văn chương. Mấy lần anh Văn Lê tới nhưng chỉ ngồi nghe. Anh cho tôi biết đang viết tiểu thuyết. Bấy giờ, thơ anh thường xuyên trên báo, ít lâu sau là tiểu thuyết Nếu như anh còn sống. Tác phẩm đặt ra nhiều câu hỏi hay và người viết giải đáp thấu đáo, tế nhị. Sau đó, sức bật cây bút Văn Lê bùng lên với nhiều trường ca, tiểu thuyết, Mùa hè giá buốt, Cánh đồng dưới lửa. Tiểu thuyết của Văn Lê đậm chất thơ, thơ ở câu văn với những từ ngữ chọn lọc, ở kết cấu từng trang, từng chương. Đọc văn xuôi Văn Lê được đọc thơ. Cảm xúc thơ tràn lên từng trang viết. Đi theo bút pháp ấy, anh phải đành chấp nhận mờ tính cách nhân vật với sự bùng nổ của chuyện. Chắc Văn Lê hiểu điều đó. Và anh dành nhiều đoạn để triết lý về thời cuộc, vễ cõi nhân sinh. Vốn sống, vốn văn hóa của người viết thật dồi dào.

Văn Lê còn thành công ở những bộ phim lịch sử về thanh niên xung phong ở Nam Bộ. Các bộ phim cũng giàu chất thơ trên chất liệu hiện thực dữ dội và đau thương. Người nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường sông nước Tháp Mười hiện về quả cảm khiến chúng ta tự hào về một thế hệ. Ít có nhà làm phim tư liệu chuyên nghiệp nào làm được nhà thơ Văn Lê.

Văn Lê biết nhiều chuyện cổ kim đông tây, anh thường rút ra bài học từ lịch sử. Những năm tuổi đời cao, anh Văn Lê vẫn gặt hái nhiều thành công chính là nhờ anh đọc nhiều, đi nhiều, làm việc không ngưng nghỉ. Nghề văn nếu làm việc thành thực, mải mê nhất định sẽ được đền bù.

Thế rồi, một buổi sáng sớm nhà thơ Lê Thành Nghị từ Hà Nội điện vào cho tôi biết, nhà thơ Văn Lê từ trần từ đêm qua. Tin đau đến đột ngột khiến tôi bàng hoàng. Mấy hôm trước tôi còn gặp anh. Khi tôi điện báo hung tin ấy cho mấy người bạn họ cũng chưa tin hẳn vì mấy hôm trước còn trò chuyện với anh trên điện thoại.

Con người ta có thể biết ngày sinh nhưng khó biết ngày chết. Nhà thơ Văn Lê ra đi đột ngột tạo nên thương đau trùm lên ngôi nhà anh khi người tới đưa tiễn anh về cõi vĩnh hằng. Anh ra đi, tác phẩm của anh còn đó. Những trang văn ấy được viết với một tài năng, một tâm hồn nồng nhiệt, đức tính khiêm nhường, không phải người viết nào cũng có được.

Thành phố Hồ Chí Minh 22.9.2020

NGUYỄN QUỐC TRUNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *