(Kỷ niệm 39 năm ngày mất của nhà thơ Xuân Diệu)
Vanvn- Đã gần 4 thập kỷ nhà thơ Xuân Diệu vĩnh biệt chúng ta (18.12.1985 – 18.12.2024) đi vào cõi “vô biên” để lại cho những người yêu thơ, bạn đọc gần xa bà con anh em họ hàng và quê hương một nỗi nhớ tiếc khôn nguôi!
Xuân Diệu sinh ngày 2.2.1916 trong một gia đình có truyền thống nho học. Ông nội nhà thơ là cụ Ngô Phúc Dương đỗ Tú tài Hán học, làm nghề dạy học và bốc thuốc, dân làng thường gọi là cụ Tú Bổn. Thân sinh nhà thơ là cụ Ngô Xuân Thụ, học rất giỏi cả chữ Hán và chữ Pháp, hai lần đỗ Tú tài nên gọi là cụ Tú Kép. Thời trẻ cụ dạy ở trường Collége de Quy Nhơn, một trong 3 trường quốc học đầu tiên của Việt Nam, Xuân Diệu cũng từng học ở đây đậu bằng Thành Chung sau ra Hà Nội học Tú tài. Thân mẫu Xuân Diệu là cụ bà Nguyễn Thị Hiệp ở thôn Tùng Giản, Vạn Gò Bồi, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định – “ông đồ Nho lấy cô làm nước mắm”.

Xuân Diệu từng viết:
Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con.
Cảm ơn Thầy vượt đèo Ngang bất kể!
Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ;
Nên máu con chung hòa cả hai miền
Và hôm nay chúng ta có thể nói rằng: xin cảm ơn hai Cụ đã dũng cảm vượt qua những định kiến về đẳng cấp, và quan niệm “môn đăng hộ đối” của lễ giáo phong kiến lúc bấy giờ, để đến với nhau xây nên một mối tình thắm đẹp và sinh cho đời một tài hoa Xuân Diệu.
Là một nhà thơ lãng mạn trước cách mạng, Xuân Diệu sẵn có một tâm hồn đa cảm, một tài năng bẩm sinh, ông khát khao đến “vô biên và tuyệt đích” một sự giao hoà, một sự cảm ứng với thiên nhiên tạo vật và con người. Suốt cuộc đời ông say mê Sống, say mê Yêu, say mê Sáng tạo:
Giơ tay muốn ôm cả trái đất
Ghì trước trái tim, ghì trước ngực
Cho đầy trước mắt khoảng cô đơn
Bao la muôn trời, sâu vạn vực .
Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào …
– Hãy đốt đời ta trăm thứ lửa
Cho bừng tia mắt đọ tia sao
Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn sự trôi chảy của thời gian, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.
Mọi lý thuyết đều màu xám, và cây đời vĩnh viễn xanh tươi
Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười ;
Vĩnh viễn anh yêu em như yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tươi
Cách mạng đã đổi đời cho cả dân tộc và mỗi con người, Xuân Diệu đã tham gia một cách tự giác và hào hứng vào cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, và đã trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi Đảng, Bác Hồ và cách mạng. Với chiếc ba lô trên lưng và chiếc xe đập cà tàng, Xuân Diệu đã đi khắp đất nước qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, chia sẻ cuộc sống gian khổ mà hào hùng của chiến sĩ, công nhân và nông dân. Từ cuộc sống dấn thân ấy đã hình thành một cảm xúc mới – cảm xúc của cả dân tộc chiến đấu cho độc lập, tự do:
Tôi cùng xương cùng thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao
Những năm chiến tranh ác liệt, hình ảnh nhà thơ – chiến sĩ với “một chiếc xe – đạp băng vào đêm tối” đã để lại những ấn tượng khó phai mờ:
Đã ngót năm vẫn nhớ từng tấc đất
Là những tháng mưa bom căng thẳng nhất
Khi giữa đường nhờ đất để che thân
Anh càng yêu đất nước gấp trăm lần
Là nhà văn hóa lớn, nhà nghiên cứu bậc thầy, nhà phê bình sâu sắc và tinh tế, Xuân Diệu một mình, đã viết một công trình đồ sộ nghiên cứu hết các nhà thơ cổ điển của nước nhà, và những nhận định của ông cũng đã trở thành tiền đề cho các nhà nghiên cứu sau này.
Xuân Diệu còn là tác giả tập “Phấn thông vàng”- 1939 gồm những truyện ngắn trữ tình tuyệt diệu. Tập bút ký “Trường ca”- 1945 là những áng thơ văn xuôi xúc động về tạo vật, về tình đời. Xuân Diệu còn viết nhiều sách về nghề thơ, hướng dẫn và tận tình giúp đỡ các nhà văn nhà thơ trẻ. Xuân Diệu đã dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ thế giới lỗi lạc như Victor Hugo, Petofi, Nazim Hikmet, Tagore, Blaga Dimitrova, Nicola Ghiden…
Ông đã để lại cho đời một di sản tinh thần đồ sộ: 15 tập thơ gồm 450 bài, 1 tập truyện ngắn, 6 tập bút ký, 17 tiểu luận, 6 tập thơ dịch và hơn 400 bài thơ chưa in…Ông còn có khoảng 1000 cuộc đi bình thơ, nói chuyện thơ cho nhân dân, bộ đội, học sinh sinh viên trên khắp mọi miền đất nước…Với một sự nghiệp phong phú, đồ sộ như vậy Xuân Diệu đã dược Nhà nước truy tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” đợt 1 – 1996 và xứng đáng được hậu thế công nhận là “cây đại thụ” của thơ và văn chương Việt Nam trong thế kỷ 20.
Ông là một nhà thơ nổi tiếng thế giới, đã từng là Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, đã từng là thành viên trong phái đoàn ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tham dự Hội nghị Fontainebleau – Pháp, năm 1946, là Viện sĩ Viện Hàn lâm Nghệ thuật Đức… nhưng với bà con quê hương dòng tộc ông vẫn là người bác, người chú, người cậu người anh vô cùng thân thương và bình dị.
Sinh thời, hầu như năm nào ông cũng về quê một đôi lần nói chuyện thơ, bình thơ cho bà con quê hương, ngay cả những năm chiến tranh bom đạn ác liệt. Về quê ông xắn quần lội bì bõm trên những con đường lấy lội, từng đạp chiếc xe đạp cà tàng đến từng gia đình bà con trong họ tộc, hỏi thăm sức khoẻ, hỏi chuyện làm ăn. Cùng ăn với bà con bát cơm dưa muối tương cà.
Về quê ông chỉ thích nhất món ruốc cáy và cà muối kiệu, các o các mự tặng ông những chai ruốc cáy thơm lừng, ông chằng buộc cất giữ nâng niu như những báu vật. Mỗi lần có ai ra Hà Nội đến thăm ông, ông lại hỏi “có mang ruốc cáy ra không?”. Những lần họ tộc sửa sang nhà thờ, xây lăng mộ ông vẫn thường gửi tiền và gửi thư về động viên thăm hỏi. Những kỷ niệm về ông luôn hằn sâu trong tâm tư của bà con họ tộc.
Những nhân cách lớn luôn thuộc về nhân dân, xuyên suốt mọi thời đại. Đã ba mươi chín năm Xuân Diệu đi xa nhưng trái tim nồng nàn tình yêu của ông còn đập mãi với nhịp đập của dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng của nhân dân ta:
Người thi sỹ đã vào làng mây khói
Không ở đâu và ở khắp mọi nơi
Như tiếng vọng trong sương xa dắng dỏi
Máu vu vơ theo giữa trái tim đời.
Cả cuộc đồi say mê yêu, say mê sáng tạo, ông tận hiến cho đời những gì tinh tuý nhất, ngọt lành nhất, đển khi rời xa thế giới này ông chỉ mang theo một chữ Tình
Ồ! Quả cam này đã vắt hết
Hiến cho non nước, hiến đời thân
Tuy không biết đến bao giờ kiệt
Nhưng, dẫu sao thì vẫn phải dừng.
*
Hãy để cho tôi được giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hư
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.
Hôm nay với nén hương thơm đơn sơ chúng ta cúi đầu trước anh linh ông, tưởng nhớ một con người mà sự nghiệp và tên tuổi đã vượt ra ngoài biên giới của xứ sở nhưng cũng rất gần gũi gắn bó với quê hương với anh em, họ hàng, thân tộc !
Thị trấn Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh, 18.12.2024
Đại tá, Thầy thuốc ưu tú NGÔ TRỌNG KIM
- Thơ 1-2-3 Nguyễn Thị Thanh Ngọc: Dưới vành mũ khắc cánh chim câu mang khát vọng hòa bình
- Cuộc đời lập dị của đại văn hào Victor Hugo: Mê tiệc tùng và… nhà thổ!
- Tiểu luận của Adelle Waldman: Hôn nhân lý tưởng trong tiểu thuyết
- Buổi chiều đi qua cánh đồng – Tiểu thuyết Cao Chiến – Kỳ 1
- Jean Paul Sartre con người của tự do
















