Người nhờ văn chương làm cầu nối Bản Hon đến mọi miền đất nước

Cảm hứng chủ đạo trong thơ Dương Khâu Luông (kể cả thơ cho thiếu nhi) là tình yêu quê hương tươi đẹp và con người miền núi thuần hậu, chất phác; là niềm tự hào trước quê hương đổi mới và có cả chút ngùi ngẫm trước bản sắc văn hóa có phần mai một… Nhưng trên hết, nhà thơ gửi gắm cái tình của mình vào trong đó với cách nhìn trong trẻo, tươi mới và đặc biệt thấm đẫm bản sắc văn hóa Tày.

Tôi đã đọc khá nhiều về nhà thơ Tày Dương Khâu Luông và thấy mảng viết về quê hương làng bản khá đậm nét và cảm động. Có thể nói nhà thơ đã có những đóng góp đáng trân trọng cho chủ đề này đối với thơ dân tộc thiểu số cũng như thơ cả nước.

Nhà thơ Dương Khâu Luông

Cảm hứng chủ đạo trong thơ Dương Khâu Luông (kể cả thơ cho thiếu nhi) là tình yêu quê hương tươi đẹp và con người miền núi thuần hậu, chất phác; là niềm tự hào trước quê hương đổi mới và có cả chút ngùi ngẫm trước bản sắc văn hóa có phần mai một… Nhưng trên hết, nhà thơ gửi gắm cái tình của mình vào trong đó với cách nhìn trong trẻo, tươi mới và đặc biệt thấm đẫm bản sắc văn hóa Tày.

Quê hương là nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào và phong phú của văn nghệ sĩ. Đúng là “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi” (Đỗ Trung Quân). Hình ảnh quê hương luôn thường trực trong thơ Dương Khâu Luông. Quê hương hiện lên muôn sắc thái, tâm trạng, cảm xúc. Nhìn vào đâu cũng thấy sông suối, mây trời. Chạm vào đâu cũng thấy sông suối reo quanh. Âm thanh cuộc sống cứ ăm ắp quanh mình. Một quê hương miền núi đẹp như bức tranh pha phối nhiều mảng màu rực rỡ, tươi tắn từ cảm nhận của chính chủ nhân của nó – người miền núi:

Chẳng như ở quê tôi miền núi/ Chưa một lần biết gọi tên nhau là gì/ Nhưng gặp nhau là thành bạn quý – (Người miền núi).

Lớn lên từ miền quê núi, một lẽ tự nhiên, tâm hồn Dương Khâu Luông được tắm, được dung dưỡng trong không gian trong trẻo của núi non, rừng suối, hoa trái, chim muông… Bức tranh quê hương thấm, ngấm trong từng đường gân thớ thịt chàng trai Bản Hon. Từ những quan sát, anh bắt đã được cái thần, chớp được khoảnh khắc đẹp, tinh tế của thiên nhiên miền núi:

Khiêm nhường, tinh khiết/ Giữa rừng xanh/ Lặng lẽ nở những mùa hoa mạ- (Lặng lẽ mùa hoa mạ).

Quê hương hiện lên như một bức tranh dệt bằng những mảng màu của cây cỏ, núi rừng, sông suối:

Một con suối chảy từ khe ra/ Một con suối trôi từ thung tới/ Hai con suối gặp nhau reo cười/ Bởi từ đây suối có bạn mới – (Hai con suối)

hoặc

Ngọn núi mà thấp/ Là khi núi ngồi/ Ngọn núi thật cao/ Là khi núi đứng- (Núi quê mình)

Con người miền núi giao hòa cùng thiên nhiên:

Đến Pác Nặm trăm lần vượt suối/ Câu ca xưa chỉ còn lại cái tên/ Pác Nặm hôm nay đường mở …Con đường nhựa nối bản lại gần nhau/ Có rượu ngon gọi bạn bên kia đèo sang uống/ Có việc vui mời bạn bên kia núi cùng mừng – (Đến Pác Nặm).

Âm thanh quen thuộc của bản vào mùa giã cốm thật rộn rã:

Thậm thình,thậm thịch…/Trăng thu tỏa sang/ Núi thu rạng ngời/ Bản mùa giã cốm/ Vang nhịp chày đôi/ …Đêm trăng giã cốm/ Bản vui mọi nhà – (Bản mùa cốm).

Hồ Ba Bể càng quyến rũ hơn trong vẻ đẹp mùa xuân và Lễ hội Xuân Ba Bể – lễ hội lớn nhất trong năm của tỉnh Bắc Kạn (cũ) tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hằng năm:

Mùa xuân về trong lòng lại nhớ/ Nhớ hội xuân Ba Bể đông vui/ Người trẩy hội nhiều như hoa lá – (Nhớ hội xuân Ba Bể).

Từ tập thơ đầu tiên cho đến tập thơ mới nhất, thơ Dương Khâu Luông vẫn luôn nhất quán một bút pháp miêu tả thiên nhiên với một vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo, tươi tắn… “Thiên nhân hợp nhất” hài hòa làm nên vẻ đẹp của tình người miền núi thuần hậu, chất phác:

Sớm nay đường xuống chợ/ Ngựa xe đi như suối/ Người mặc áo mới/ Đẹp xinh như hoa rừng – (Con đường mới)

…Tối ngày/ Mặt trăng và mặt trời chơi với nhau/ Ú tim/ Không biết chán –(Mặt trăng và mặt trời).

Thời gian vần vũ bốn mùa trong năm. Mùa nào cũng đẹp, cũng tươi, cũng đầy sức hấp dẫn. Với mùa Thu “Gió thơm vàng ngọn nắng/ Chú ve sầu đi vắng/ Gửi áo vào cho cây” (Mùa Thu). Có lẽ mùa xuân vẫn tràn trào nội lực, cảm hứng mê đắm tắm nhuộm cảnh vật và con người. Vào ngày Tết, cảnh sắc thiên nhiên đẹp, bừng nở màu sắc tươi vui của Việt Bắc với hoa đào, hoa mận đơm hoa. Tết đón người con về bản vui Tết sum vầy. Bản rộn rực đón xuân, vui tết:

Hoa đào đợi trước ngõ/ Đón ta lên nhà sàn/ Được về bản ăn tết/ Không còn gì vui hơn – (Lối về)

Hoa mận nở trước sân nhà/ Hoa đào tươi trước sàn trăng/ Chim lửa trời bay đến đậu trong vườn – (Đón tết).

Cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc còn có cái xôn xao, náo nức rất riêng. Quanh năm, bà con vất vả làm lụng. Ngày tết, người miền núi tham gia các lễ hội và niềm vui đón nhau đến chơi nhà:

Ngày tết/ Chủ nhà luôn ngóng phía cầu thang/ Vang tiếng bàn chân bước/ Mừng có khách đến nhà xông tết – (Cái cầu thang).

Tết mang màu sắc đặc trưng văn hóa các dân tộc Việt Bắc:

Chị tìm lông gà làm yến/ Mẹ nhuộm chỉ khâu còn/ Em bện dây đánh quay/ Ai cũng vui đón ngày tết đến – (Đón tết)

Màu tết giàu bản sắc văn hóa Tày:

Tết chị khâu quả còn/ Nhiều tua xanh tua đỏ/ Đi chơi được trứng luộc/ Cũng vẽ vỏ đỏ xanh/ Mẹ bảo hai màu ấy/ Lộc may mắn mùa xuân – (Màu của tết)

Thơ anh chứa chan niềm tự hào về người miền núi. Người miền núi vốn chân chất, hiền lành, lặm lụi cả một cuộc đời hy sinh như bà, như mẹ. Đó là cô gái Tày có vẻ đẹp tươi tắn, nây nả, khỏe mạnh với tư duy người miền núi “chân to, thịt dày”:

Bắp chân to má đỏ/ Dịu dàng hay xấu hổ – (Em cô gái Tày)

vẻ đẹp ấy do suối rừng làm nên “Em uống nguồn nước nào/ Mà giọng nói ngọt ngào/ Em tắm nước suối nào/ Mà trắng ngần thịt da/ Ai cho em ánh mắt/ Ngó nghiêng cây núi Hoa…/ Còn anh chẳng muốn bước!” (Người đẹp núi Hoa)…

Một nét đặc trưng của người miền núi là tình người nhân nghĩa, ứng xử nhân văn. Bài thơ “Của Pang”  là một tục lệ đẹp của người Tày khi thấy người khác gặp khó khăn thì tự nguyện giúp đỡ bằng vật chất:

Không phải là xin/ Không phải cho/ Mà người có lòng tự mang đến giúp/ Để người khác gặp lúc khốn khó vượt qua.

Người miền núi sống quen sống với đá. Đá là một biểu tượng văn hóa gắn với phẩm chất người miền núi “Người ở bản/ Sống trên đá/ Yêu trên đá/ Bước trên đá mà đi!” (Người ở bản). Người miền núi cảm thông với bao số phận, nhất là người phụ nữ đã dâng hiến tuổi xuân cho đất nước và khi trở về phải chấp nhận sự lỡ làng quá lứa lỡ thì:

Chị tôi gửi tuổi xuân ở lại chiến trường/ Sau mấy chục năm hôm nay được tặng ngôi nhà tình nghĩa/ Mọi người vui vẻ chụp ảnh quay phim…/Xong việc chị tôi lại vò võ một mình – (Chị tôi)

Dân tộc Tày là một trong 54 dân tộc anh em sống trong ngôi nhà chung đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Gia đình người Việt trân trọng mối quan hệ gia đình, trong đó có tình anh em “Yêu nhau như thể tay chân/ Anh em hòa thuận hai thân vui vầy” (Ca dao). Nếu ca dao so sánh anh em như “tay” với “chân”, thì nhà thơ Tày chọn cách diễn đạt của người miền núi “Tình anh em không đi lại/ Như con đường hoang/ Như ngôi nhà hoang/ Như mảnh vườn hoang/ Rậm cỏ” (Tình anh em). Người miền núi vịn vào văn hóa dân tộc để làm điểm tựa “Dẫu khi buồn khi vui/ Trẻ già ai cũng hát/ Câu Then tình bát ngát/ Cho lòng người đắm say” (Điệu hát quê mình)…

Và người miền núi khi yêu cũng chân thành, mãnh liệt nồng đượm như thanh củi nghiến, yêu không bao giờ là đủ “Yêu em cả đời vẫn thấy thiếu” cũng như nghe “Chỉ có câu lượn, câu then/ Nghe mãi vẫn thấy đói”. Nỗi nhớ người yêu đong đếm, so sánh với tư duy của người của núi rừng, sông suối:

Nhớ em như hơi thở/ Hơi thở thì sao dứt được đây/ Nhớ em nhiều ra ngồi dưới gốc cây/ Đếm lá rơi…sao ngày dài đến vậy?

Hay:

Em đi đâu mà sao không đến hội?/ Để mình anh với quả còn đứng đợi

Người miền núi yêu mãnh liệt như thế và yêu rất thủy chung. Nên em hẹn mà không tới, khiến trái tim cứ khắc khoải, đốt lòng với câu hỏi “Hay em đã… đã theo ai?/ đã lấy chồng? Hay lời hẹn em để quên  nơi xó núi?” để “Hội tung còn đông vui bãi chật kín người/ Nhưng không có em như không còn có hội” (Nhớ em). Quả còn là một biểu tượng văn hóa Tày. Tình yêu thiêng liêng hơn bởi gắn với tình yêu:

Tan hội rồi anh giữ được quả còn/ Đem về nhà đêm đêm không ngủ được/ Nhớ em tung còn, nhớ tay em bắt/ Quả còn cất được, cất sao nổi nỗi nhớ em đây? – (Qủa còn).

Với bài thơ “Nỗi nhớ em”, nhà thơ bày tỏ giây phút xao lòng khi tình yêu đến. Dẫu Hà Nội có nhiều con gái đẹp, con gái xinh, nhưng “nhân vật anh” không tham lam mà trái tim chỉ đập với một người, chỉ nhớ có một người “Em là lửa đốt cho tim anh cháy/ Em là mưa giăng nhớ khắp trời…/ Anh như con chim lạc cánh rừng nơi cũ/ Ở thì mắc/ Đi thì vướng”.

Đến bài thơ “Lâu đài em” thì khao khát yêu, khát vọng có em mãnh liệt đến mức khiến nhà thơ Dương Khâu Luông như “tan như sáp, lỏng như chì”, “rời rừng về phố” trong cảm nhận tình yêu thời @ rất hiện đại: “Làm sao anh đến được lâu đài của em/ Một lâu đài xinh tươi, tráng lệ/ Anh như kẻ hành khất bên đường/ Mơ về lâu đài em ngày đêm khao khát”. Điểm lại hơn tập thơ của anh, thơ Dương Khâu Luông ít những bài thơ như vậy. Tôi thì cứ thích những câu thơ tình yêu của chàng trai Bản Hon vịn bám chắc vào vùng văn hóa Tày như thế này hơn:

Em là hoa rừng/ Cho anh luôn ao ước/ Em là bông nếp nương/ Chưa hái về nhà/ Đã thấy thơm hương- (Em)

Hay là khi biết tin em lấy chồng:

Đêm nay em về nơi củi nghiến/ Lửa cháy ấm đêm thâu/ Anh quay về cất nỗi nhớ vào đâu? – (Nỗi nhớ em)

Tôi về bản cũ/ Thương mặt yêu tên/ Giấu trong tim/ Khi nhớ mở ra xem!- (Thương mặt yêu tên)…

Nhà thơ Dương Khâu Luông với tác giả Lê Thị Bích Hồng

Việt Nam là đất nước của lễ hội. Vùng Việt Bắc cũng vậy quanh năm đón những cái tết khác “Tết tháng Giêng hẹn từ tháng Bảy” (Y Phương). Ngoài tết Nguyên Đán, Dương Khâu Luông còn miêu tả một số đặc trưng của những cái tết khác. Cứ đến Tết Đoan Ngọ, bàn tay khéo léo của các cô gái được dịp trổ tài “Con gái bản tôi gói bánh gio lá chít/ Vị thơm ngon chẳng có ở đâu bằng/ Đi xa quê lại nhớ tết tháng Năm” (Tết mùng Năm tháng Năm). Cứ dịp đầu tháng 3 âm lịch, người dân tộc Tày – Nùng ở Việt Bắc nô nức sắm sửa mâm lễ tổ chức Tết Thanh minh, tưởng nhớ ông bà, tổ tiên, những người đã khuất và là dịp để con cháu, dòng họ đoàn tụ sum vầy, gắn kết tình cảm. Tết Thanh minh là một nét văn hóa đặc sắc của người Tày, Nùng đã đi vào thơ Dương Khâu Luông:

Dù đi đâu xa/ Đến mùng Ba, tháng Ba ai cũng muốn về tảo mộ/ Để nhớ tới tổ tông và nguồn cội họ hàng anh em yêu quý – (Ngày tảo mộ)…

Trong thơ Dương Khâu Luông, quê hương còn là những sản vật quen thuộc khiến người con xa quê cứ nhưng nhức nhớ. Như một vị đại sứ văn hóa, Dương Khâu Luông khéo léo đan cài, quảng bá văn hóa Tày, giới thiệu một Việt Bắc đẹp giàu qua từng bài thơ. Chợt gặp lại câu thơ “trám bùi để rụng, măng mai để già” của Tố Hữu trong mùa trám quê anh:

Trám trắng lòng quả màu trắng/ Trám đen lòng quả màu đen/ Đem kho với thịt đều thành món ăn ngon/ Đem đồ xôi thơm màu vị núi – (Nhớ mùa trám)

Là sắc thổ cẩm đặc trưng của quê hương:

Quê tôi chẳng lụa là/ Chỉ biết quay sa làm ra thổ cẩm…/Tôi lớn đi xa mẹ bảo:/ Con mang theo thổ cẩm quê mình/ Thổ cẩm sẽ làm con biết hát/ Biết yêu thương qua những vui buồn”- (Thổ cẩm)…

Là người con dân tộc Tày, Dương Khâu Luông luôn có ý thức vươn lên trên con đường học vấn, học hỏi, nâng cao kiến văn cho mình. Các thế hệ nhà thơ dân tộc thiểu số đi trước đã thể hiện rất thành công những bài thơ về làng bản của mình, như: Nông Quốc Chấn có “Người núi Hoa”, Y Phương với “Tên làng”, Lò Ngân Sủn có “Bản Vền”…Nếu Y Phương tự hào về làng Hiếu Lễ của mình và cũng nhờ bài thơ “Tên làng” cùng “Phòng tuyến Khau Liêu” đạt giải A của Văn nghệ Quân đội năm 1984 khiến nhiều người biết đến cái làng Hiếu Lễ yên ả, thanh bình ở miền biên viễn: Con là con trai của mẹ/ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ/ Ba mươi tuổi từ mặt trận về. Thì Dương Khâu Luông cũng nhờ văn chương làm cây cầu nối Bản Hon đến mọi miền đất nước. Bản Hon xa xôi được nhiều người biết tới. Nhà thơ rạo rực những niềm vui, tự hào về Bản Hon của mình:

Ngôi nhà sàn bốn mái ở đầu Bản Hon/ chính là nhà tôi đó/ Nơi tôi đã sinh ra từ nhỏ/ Nơi đi khắp phương  trời  không  nguôi  nỗi nhớ thương – (Ngôi nhà sàn ở Bản Hon)

Tập thơ Lửa ấm Bản Hon thể hiện tình yêu quê hương một cách đắm đuối, da diết của người con chung thủy với cội nguồn. Trong muôn thanh âm, màu sắc của Bản Hon, hình ảnh ngọn lửa ấm trong căn nhà sàn thân thuộc là “mắt thần”, điểm nhấn cho bức tranh quê. Không tự hào sao được về Bản Hon – nơi cất núm nhau khi nhà thơ rơi tiếng khóc đầu tiên chào cuộc sống mến thương:

Tôi sinh ra bên bếp lửa nhà sàn/ Tiếng khóc đầu tiên tôi cất lên bên bếp lửa –(Lửa ấm Bản Hon)

Bên bếp lửa hồng rực sáng hơn, ấm áp hơn khi xuất hiện hình ảnh người mẹ miền núi tảo tần, đảm đang. Những đứa con của mẹ cũng từ ngọn lửa ấy mà lớn, mà tỏa sáng, mà “phát lối đi riêng cho mình” để trở thành những nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ, nhà báo, nhà thơ…

Bên bếp lửa/ Mẹ cắt rốn cho tôi/ Nồi nước tắm lá thơm lửa đun ấm cho tôi/ Xoong bột đầu tiên lửa đun ấm cho tôi/ Tôi tập lẫy tập bò bên bếp lửa – (Lửa ấm Bản Hon)

Tiếng quay xa của mẹ là âm thanh thân thương của quê hương. Người con đằm mình trong tình yêu thương của cha mẹ:

Đêm nay con ngủ ở nhà mình/ Căn nhà chính tay cha dựng/ Đắp chăn bông thổ cẩm/ Quay bên nào cũng ấm/ Thở bên nào cũng thơm – (Tiếng quay xa của mẹ)

Thơ Dương Khâu Luông diễn tả tình quê hương mộc mạc mà chân tình. Một niềm tự hào trong những vần thơ trong trẻo như suối nguồn, tươi xanh như lá biếc. Sắc chàm mang bóng dáng quê hương. Sắc chàm xanh như tấm “căn cước” văn hóa Tày:

Em là em không thể lẫn với ai/ Cô gái Tày mặc áo chàm xinh xắn/ Giữa phố phường bao điều lạ lẫm/ Chợt gặp em sao bỗng thấy ấm lòng – (Với em gái Tày)

Thơ Dương Khâu Luông không định vị tình yêu của mình trong phạm vi Bản Hon. Từ Bắc Kạn:

Bắc Kạn nhớ trong lòng người già/ Bắc Kạn yêu trong lòng con trẻ/ Sắc chàm xanh nói lời của mẹ – (Đến Bắc Kạn)

Thơ anh rộng mở đến mọi miền quê rộng lớn khác:

Đếm Tam Sơn được ngắm Núi Đôi/ Hai trái núi căng như hai bầu trăng mới nhú/ Của nàng sơn nữa tuổi đôi mươi/ Ngực núi trò căng khát vọng của con người – (Núi đôi)

Tri âm cùng “tiếng ai gọi đò” thao thiết; cảm nhận vị ngọt ngon của chuối ngự mà như thấy hồn thơ Trần Tế Xương vọng lại: “Hay thơ Người đã thơm vào cây cỏ đất Thành Nam” (Với nhà thơ Trần Tế Xương). Cảm xúc bâng khuâng trước làng Hiếu Lễ nhớ tác giả bài thơ “Tên làng” (Y Phương):

Hôm nay em đến bản Hiếu Lễ/ Nhưng anh đã dọn đi Hà Nội ở rồi/ Em đi trên con đường xưa ấy tìm bóng anh – (Đến làng Hiếu Lễ)…

Đến mọi miền đất để nhà thơ càng yêu hơn quê hương mình và tình người miền núi thuần hậu, chất phác. Tình yêu quê hương luôn gắn liền với ý thức công dân:

Đi trăm nơi nghìn nơi/ Tới chân trời góc bể/ Vẫn muốn được trở về/ Nơi quê hương đất mẹ/ Nơi ta từ tấm bé/ Gắn với mọi buồn vui” – (Hát trên đất mẹ)…

Thơ Dương Khâu Luông trân trọng sự đổi mới trên quê hương từng ngày, từng giờ. Anh nâng niu, biết ơn công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế:

Thế giới cùng hội nhập rộng to/ Tôi và anh chỉ đắp cái bờ ruộng nhỏ/ Để bản ta dễ bàn chân bước/ Cùng đi chăm cho lúa tốt được mùa – (Cái bờ ruộng).

Trước sự thay đổi của quê hương trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thơ Dương Khâu Luông không khỏi xa xót, ngùi ngẫm khi nnhững gì gần gũi, thân thuộc cứ lùi xa:

Tiếng máy cày thay dần tiếng mõ/ Chiều chiều chẳng thấy trẻ con cưỡi trâu về bản nữa/ Tiếng mõ cũng dần xa – (Tiếng mõ trâu).

Người con dân tộc Tày mang tâm trạng buồn khi văn hóa Tày cứ dần thưa vắng trong làng Tày:

Cả bản còn một cái nhà sàn/ Các nhà khác đã hạ làm nhà thấp/ Tôi bỗng hiểu căn nhà sàn còn đó/ Như chiếc áo chàm xanh còn chiếc cúc cuối cùng! – (Căn nhà sàn còn lại)

Đất ruộng, rẫy, vườn ngày thêm chật/ Đồng vắng thưa dần tiếng ếch kêu/ Đi trong bản nhỏ con đường nhỏ/ Nhớ ngày tránh lối chạm vai em – (Về bản)

Cái mõ trâu/ Giờ chỉ treo lên để ngắm/ Nhớ về ký ức tuổi thơ – (Cái mõ trâu).

Lời tự bạch chân thành của người miền núi vốn quen không gian rừng, tự thấy xa lạ với phố phường đông vui:

Vì thế người miền núi ra thành phố/ Giữa biển người vẫn thấy cô đơn – (Người miền núi).

Nhớ những âm thanh quen thuộc của rừng, của bản:

Bây giờ xa rừng ra ở phố/ Sáng sáng thức dậy ta lại nhớ/ Nơi ấy miền rừng đang xanh tiếng chim – (Tiếng chim)

Từ ngày đi ra phố/ Tháng năm về nhớ lại/ Những buổi chiều bắt cá ở sông quê – (Bắt cá sông quê).

“Con đã lớn” là bài thơ Dương Khâu Luông tặng con gái đi học xa. Tình yêu cha dành cho con gái thật cảm động. Bao ước mong dành cho con gái thật sâu sắc, thấm thía. Hơn một lời tâm sự với con là một thông điệp lớn hơn nhà thơ muốn gửi gắm trong đó:

Con hãy học cây nghiến, cây lim/ Gập ghềnh đá vẫn đứng lên kiêu hãnh/ Đón khí trời nuôi lá xanh cây/ Cành vươn cao vẫy gió chín tầng mây

Ta gặp mong ước của cha trong bài thơ “Con đã lớn” chung tâm sự với nhà thơ Y Phương trong bài thơ “Nói với con” – Bài thơ được đưa vào chương trình văn học trung học cơ sở năm 2005.  Thông điệp chung là phải bám vào nguồn cội văn hóa dân tộc. Phải vượt qua sự nghèo hèn, đói khổ, vươn lên đàng hoàng bằng chính văn hoá. Sức nén của vốn văn hóa dân gian Tày ngấm vào từng mạch máu nhà thơ để những thông điệp văn hóa cất lên, niềm mong của người cha được tỏ bày với con:

Sống trên đá (đừng chê đá gập ghềnh)/ Ở trong thung (đừng chê thung nghèo đói).

Nhà thơ người Tày ý thức rất cao việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ. Có thể nói, Dương Khâu Luông là một trong số những nhà thơ dân tộc thiểu số sáng tác nhiều bằng tiếng Tày. Hiện, anh có 01 tập thơ tiếng Tày và 03 tập thơ song ngữ Tày – Việt. Nhà thơ nhận thức sâu sắc tầm quan trọng, sự cần thiết sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ:

Là người Tày không biết tiếng Tày/ Như cái cây không biết đâu là gốc/ Cây có xanh nhưng hồn cây sẽ héo/ Lá xanh mượn được nhưng hồn làm sao thay –(Là người Tày không biết tiếng Tày)

Ý thức bảo tồn tiếng nói của dân tộc trong anh rất lớn. Với nhà thơ, sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ là tìm về nguồn cội:

Tôi sinh ra/ Mẹ ru tôi bằng câu hát tiếng Tày…/ Giờ tôi ru con bằng ngôn ngữ khác…/ Tôi học tiếng phổ thông để đến với mọi người/ Giờ con tôi học tiếng Tày/ Để tìm về nguồn cội – (Tiếng Tày)

Vì thế, nhà thơ luôn nhắc nhớ người thân dù ở đâu, dù không gian xa xôi ngàn trùng là giữ tiếng Tày. Giữ tiếng Tày đồng nghĩa với giữ gìn văn hóa dân tộc, bảo vệ quê hương:

Em ở tận phương trời xa/ Nhớ anh em, quê hương chỉ biết giấu trong lòng/ Con em biết nói giỏi tiếng Tây/ Em dạy con biết nói tiếng Tày với nhé/ Để mai sau các con còn nhớ/ Tìm về thăm nơi chúng đã sinh ra – (Gửi em ở phương trời xa).

Thơ Dương Khâu Luông trong trẻo, tươi tắn một cách khác thường, nhất là thơ viết về thiên nhiên, con người. Kể cả những bài thơ có chút thế sự, ta vẫn thấy trong đó cái buồn đẹp, buồn sâu, không tự ti, không bi lụy. Nhà phê bình Tạ Văn Sỹ cho rằng sự trong trẻo ấy hiện lên “ngay cả khi đụng vào những nỗi nhớ cơn buồn hay niềm đau thế sự. Nội hàm ý tưởng của bài thơ là đau buồn đấy là tiếc nhớ đấy nhưng lạ lắm ngôn ngữ thơ giọng điệu thơ cứ chuồi trượt ra ngoài cái vỏ xám xịt nặng nề của muộn phiền khổ đau mà lung linh lóng lánh với đời chứ không hề bi lụy lên gân”. Có thể nói thơ Dương Khâu Luông đã góp phần làm phong phú thêm tình yêu quê hương, đất nước trong lòng bạn đọc, nhất là với bạn đọc miền núi.

LÊ THỊ BÍCH HỒNG

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *