Nguyễn Minh Châu với việc góp phần khai mở hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới

VHSG- Kỷ niệm 30 năm ngày mất nhà văn Nguyễn Minh Châu.

1. Không phải ngẫu nhiên trong Sổ tay viết văn của mình, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Không có một thứ nghề nào mà kết quả công việc lại có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết văn”[1]. Bởi, chính quá trình nghiệm sinh trong hành trành trình sống và viết, với tư cách người cầm bút luôn ý thức về trách nhiệm trước cuộc đời, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra rằng: “Người đọc khi lần giở những trang sách chẳng khác nào đang giở từng trang lý lịch tư tưởng của người viết. Và khi xếp những cuốn sách lại người ta có thể hiểu kỹ lưỡng như từng ăn ở với chúng ta, nhìn thấu vào tận trí não và lương tâm chúng ta. Lúc đó là người đọc có thể đánh giá chúng ta, liệt từng người trong chúng ta vào hạng người như thế nào trong xã hội, và cũng căn cứ vào đó người đọc định đoạt một thái độ đối với tên một nhà văn”[2].

Nhà văn Nguyễn Minh Châu và vợ

Như vậy, trong tư duy sáng tạo và quan niệm của mình về nghề văn, Nguyễn Minh Châu đã ý thức sâu sắc không chỉ về sứ mệnh của nhà văn mà còn ý thức về “lịch sử tư tưởng của nhà văn”, chứ không phải “lý lịch chính trị” như người ta vốn quan niệm. Với Nguyễn Minh Châu sự tồn sinh của một nhà văn chính là sự vận động và phát triển trong tư tưởng nhà văn về phương diện mỹ học, triết học, và văn hóa được thể hiện trong tác phẩm chứ không phải là những trang văn “minh họa” một cách tầm thường, dễ dãi, vô cảm. Bởi, ông đã tự ý thức rằng: “Bao giờ cũng thế, bao giờ người đọc cũng khao khát muốn tìm thấy trên trang sách nhà văn một sự rung động sâu sắc, một sự quan tâm thực sự đối với cuộc đời của họ, một niềm tin yêu, một tiếng nói chung”.[3] Và “xét cho cùng cái phần chủ yếu của một người viết văn vẫn là tiếng nói của anh trước những vấn đề mà đông đảo mọi người đang quan tâm tới”.[4] Với những trăn trở và dằn vặt đầy tính tự thức như thế, có thể nói, Nguyễn Minh Châu là một trong không nhiều nhà văn cách mạng có sự phản tỉnh mạnh mẽ về vai trò của nhà văn và của nền văn học, trước yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Và đây là những tiên đề lý luận và thực tiễn để Nguyễn Minh Châu thay đổi hệ hình tư duy lý luận, phê bình của mình, từ đó, trở thành một trong những nhà văn góp phần quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định trong việc khai mở cho hệ hình tư duy lý luận phê bình trong tiến trình văn học thời kỳ đổi mới.

2. Nguyễn Minh Châu với sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình

2.1. Sự đổi mới tư duy trong cái nhìn về chiến tranh và thân phận con người

Là một nhà văn đã dự phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc trong tư cách là một người lính chiến đấu ở chiến trường, hơn ai hết, Nguyễn Minh Châu không chỉ cảm nhận được những hành động anh hùng của người lính trong cuộc chiến đấu giành độc lập tự do cho tổ quốc mà ông thể hiện vô cùng sống động trong hai tác phẩm giàu chất sử thi Dấu Chân người lính (1972) và Mảnh trăng cuối rừng (1975) mà ông còn thấy được sự khốc liệt khủng khiếp của chiến tranh đã đem đến khổ đau cho bao phận số con người mà cuộc đời của họ là những mảng màu bi kịch với những bất hạnh không giống nhau được ông minh chứng qua những tác phẩm viết sau chiến tranh như: Miền cháy (1977); Bức Tranh (1982); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983)… Và, hiện thực trong những tác phẩm viết sau chiến tranh của Nguyễn Minh Châu là một xác chứng cho sự đổi mới cách nhìn, cách nghĩ của ông đối với cuộc kháng chiến mà khi luận bàn về đề tài chiến tranh ông đã chia sẻ: “Cần tránh một điều: đừng bao giờ biến cuộc sống kháng chiến thành một cảnh “non bộ” xinh xẻo, tĩnh mịch”[5]. Bởi, với sự trải nghiệm của người trong cuộc, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra tính chất “thi vị hóa” khi phản ánh về cuộc chiến trong các tác phẩm viết về chiến tranh mà theo ông: “Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng mảnh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực”.[6] Và muốn tránh được sự ngờ vực nơi người đọc, khi viết về chiến tranh, nhà văn cần viết trung thực về những được, mất trong cuộc chiến, không nên viết theo một công thức định sẵn “ta thắng, địch thua”, “ta tốt, địch xấu” của lối tư duy tuyên truyền hết sức ấu trĩ, không thấy được sự phức tạp của qui luật chiến tranh mà ở đó, không có cái gì là không thể xảy ra. Đây cũng là điều Nguyễn Minh Châu đã nhận thấy khi nhìn lại những tác phẩm văn học viết về chiến tranh: “Các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng?”.[7] Và, để thức nhận mọi người thấy được bệnh công thức không chỉ ở người viết mà cả trong cảm quan của người đọc khi tiếp nhận những tác phẩm văn học viết về chiến tranh cách mạng, Nguyễn Minh Châu đã lý giải thấu lý đạt tình khi ông cho rằng: “Không có gì đáng lên án cái khuynh hướng văn chương ấy trong hoàn cảnh một đất nước phải huy động toàn dân, toàn diện kháng chiến. Nhưng trước nhiệm vụ xây dựng một nền văn học làm sao có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và đất nước, chúng ta phải dám nhìn thẳng vào những quan niệm, những khuynh hướng văn học đẻ ra từ một đất nước hàng chục năm phải nỗ lực lấy thắng lợi chính trị và quân sự làm gốc, Những quan niệm, những khuynh hướng ấy có khi nằm trong các sáng tác đã ra đời, có khi vẫn còn nằm trong thị hiếu muôn màu muôn vẻ của các giới người đọc đông đảo”.[8]

Có thể nói, những luận giải trên của Nguyễn Minh Châu khi bàn đến thực trạng văn học viết về chiến tranh là hết sức tỉnh táo, khách quan, công bằng, vừa gắn với thực tiễn cuộc sống, chiến đấu của dân tộc trong một thời kỳ mà mọi vấn đề đều được nhìn nhận theo hướng “lý tưởng hóa”, lại vừa gắn với những yêu cầu của  hiện tại, cần có một phương thức phản ánh mới về cuộc sống trong chiến tranh, làm thế nào tiệm cận với sự thực diễn ra trong kháng chiến, để người đọc không quay lưng lại với văn học cách mạng. Bởi, trong suy ngẫm của Nguyễn Minh Châu: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Có lẽ nhân loại ít có dân tộc nào lúc nào cũng canh cánh ước mơ như chúng ta”.[9] Và từ những suy niệm đầy sự chiêm nghiệm của một nhà văn đã đi qua cuộc chiến, Nguyễn Minh Châu đã khai mở một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới khi viết về chiến tranh và thân phận con người mà theo ông: “Những người cầm bút của chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ? Những điều trên chỉ cho thấy: trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của chính mình”.[10] Và chúng ta phải làm thế nào để “tạo điều kiện ra đời những cuốn sách về chiến tranh có giá trị lột tả được những vấn đề bản chất nhất của đời sống dân tộc ta, rọi cho con đường đi của dân tộc và từng con người trong tương lai”.[11] Vì vậy, khi viết về chiến tranh, theo Nguyễn Minh Châu, nhà văn không chỉ quan tâm đến: “Những xu hướng chính trị” mà còn phải quan tâm đến: “những biểu hiện tâm lý và diễn biến tính cách của các tầng lớp người trong xã hội, lúc hòa bình yên ổn và khi cơn bão lốc của cách mạng và chiến tranh ào ào đổ xuống như thế nào? Có những qui luật nào và những yếu tố nào đã chi phối con người ta lúc khởi phát chiến tranh, lúc chiến tranh xen kẻ hòa bình, và khi chiến tranh kết thúc? Trong chiến thắng khải hoàn, những điều gì đã xảy đến trong tâm lý, tính cách của người chiến thắng”.[12] Để thực hiện yêu cầu bức thiết này trong việc đổi mới cách viết về đề tài chiến tranh, Nguyễn Minh Châu không chỉ lập ngôn đơn thuần mà bằng chính sáng tác của mình như: Bến quê (1985); Mảnh đất tình yêu (1987); Khách ở quê ra, Phiên cợ Giát (1988); Cỏ Lau (1989)… ông đã minh chứng và hiện thực hóa quan niệm ấy hết sức thuyết phục. Rõ ràng, qua những sáng tác và những diễn ngôn thể hiện quan điểm của mình trong đề tài viết về chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã khai mở cho nền văn học nước nhà một cách nhìn mới, một cách viết mới về cuộc kháng chiến của dân tộc. Đó là một cách nhìn chiến tranh qua thân phận con người, không phải qua những trận đánh với những số liệu khô khan, những cảm hứng sử thi mang âm hưởng chiến thắng một cách lạc quan đến ngờ nghệch. Trong suy niệm của ông: “Viết về chiến tranh…Mấy tiếng ấy không chỉ đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà còn có gì đây? Có máu thịt của mình. Kẻ còn sống và người đã chết. Có kỷ niệm: đồng đội, đồng chí của mình. Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc”.[13] Bởi, với ý thức của một nhà văn chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu hiểu rằng: “Trong bão tố của cách mạng và chiến tranh, con người phải phơi bày cái bản chất của mình ra nhanh chóng hơn lúc bình thường. Trong cách mạng và chiến tranh không có sự ve vuốt để yên tâm, thói lịch sự để che đậy, mọi con người đều là chính mình nhất”.[14]

Quả thật, cái nhìn của Nguyễn Minh Châu về đề tài chiến tranh qua phận số con người là một cái nhìn nhân bản, mang tính phổ quát của nhân loại. Bởi, trên cõi nhân gian này, không có dân tộc nào lại muốn sống trong cảnh tang thương của chiến tranh, ngược lại, khát vọng về cuộc sống hòa bình luôn là điều mà nhân loại hướng đến. Vì vậy, có thể nói, cách nhìn, cách nghĩ của Nguyễn Minh Châu khi ông luận giải về chiến tranh qua phận số con người thể hiện ở các diễn ngôn trong sáng tác và lý luận phê bình là có tính dự báo và khai mở rất lớn đối với bầu khí quyển văn học lúc bấy giờ. Bởi, những vấn đề ông đặt ra đều ở thập niên bảy mươi, của thế kỷ trước, khi đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh và phần lớn mọi người còn đang ngủ yên trong men say chiến thắng. Thế mà ông đã “giật mình”, thức tỉnh để nhận ra những gì sẽ đến với phận số con người thời hậu chiến nên có thể xem những quan điểm này là tiên đề quan trọng khai mở cho chính ông và cho nền lý luận phê bình văn học của nước nhà trong thời kỳ đổi mới.

2.2.Sự trung thực của nhà văn và việc “đoạn tuyệt” với nền văn học minh họa

Không phải nhà văn nào khi cầm bút cũng trăn trở về vai trò, trách nhiệm của mình trước vận mệnh đất nước và nhân dân, cũng như phận số con người. Nguyễn Minh Châu thì khác, với ý thức dấn thân của một nhà văn luôn tâm nguyện hướng đến một xã hội tốt đẹp, nên ông luôn trăn trở về trách nhiệm nhà văn trước cuộc đời. Theo ông: “Người viết văn là người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngừng quan sát và nghiên cứu xã hội và trong khi chăm chú đọc cái “cuốn sách khổng lồ” đó, anh ta phải đặt hết tất cả tâm hồn và trí tuệ của mình vào, phải tỏ rõ chính kiến và lập trường của mình trước mỗi một sự việc, mỗi một hoàn cảnh, mỗi một con người”.[15] Ý thức được sứ mệnh của nhà văn trước cuộc sống, nên khi nhìn lại những tháng năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã tự thú một cách thành thực  mà không phải ai cũng đủ dũng khí và đủ sự trung thực để nói lên sự “thành thực” ấy, khi ông cho rằng: “là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa quan sát nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo, hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh. Chao ôi để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ hay nổi lên những cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng có điều gì phải sợ sệt, lo lắng như một người bao giờ cũng sống đỉnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi, còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu dấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình”.[16] Rồi ông lại so sánh những nhà văn thế hệ mình với thế hệ các nhà văn trước cách mạng Tháng tám mà cụ thể là nhà văn Nam Cao, người đã từng “than thở” là mình bị o ép “tưởng như không viết được gì thế mà cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời thực tiễn đến thế. Chí phèo thực đến thế. Thực là vừa được viết vừa được nói. (…) Chứ như đám chúng tôi từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già (…) hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó.  Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: Một cây để viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngọn bút thứ hai này buồn thay các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm”.[17] Ý thức được điều bi kịch này, khi nhà văn luôn phải đeo mặt nạ trong hành trình sáng tạo mà theo Nguyễn Minh Châu điều ấy không chỉ có ở nhà văn tầm tầm mà còn có ở những nhà văn tài năng, vốn là “tinh hoa” của nền văn học dân tộc. Vậy mà khi cầm bút cũng hạ thấp phẩm chất nhà văn, cũng “xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả” để được “yên ổn” mà “tồn tại” nên lâu dần phải viết theo kiểu “văn chương minh họa”, “ca ngợi một chiều” tạo nên một thứ văn chương công thức, sơ lược, nhạt, giả, “Không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nỗi, so với cuộc đời thật bên ngoài”.[18] Xuất phát từ thực trạng đáng buồn này nên, Nguyễn Minh Châu đã yêu cầu “hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”.[19]

Chúng ta cần bình tỉnh để thấy vấn đề Nguyễn Minh Châu đặt ra ở đây, chỉ là “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” chứ ông không bao giờ cho rằng toàn bộ nền văn học cách mạng và kháng chiến là văn học minh họa, và không bao giờ phủ nhận giá trị của văn học cách mạng trong việc góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc mà chính ông đã dự phần với tư cách là một nhà văn chiến sĩ như ông đã xác quyết: “Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại những tác phẩm chân thực”.[20] Song điều ông muốn, là cần có một cái nhìn trung thực, khách quan về giá trị đích thực của nền văn học mà theo Nguyễn Minh Châu: “Cũng phải nói thật với nhau rằng, mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho những chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta qui cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn (…) Từ đấy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp, vừa thấp (…)  với một khả năng thích nghi hết sức ghê ghớm, các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với lối sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh”.[21] Để thấy được sự tác hại của “văn học minh họa” đối với sự phát triển của nền văn học nước nhà, Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ những giới hạn của nó mà theo ông: “Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn”.[22] Vì thế, muốn tránh được giới hạn của kiểu văn chương minh họa, theo Nguyễn Minh Châu “Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hình trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán, thấy cho được rằng có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi đó lại đòi hỏi phải có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẩn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố mầy bay lên.”[23] Rồi cùng với những suy nghĩ hết sức thành thực và khát vọng hướng đến một nền văn học tiệm cận với chân lý nghệ thuật và chân lý đời sống, ông đã chia sẻ, mặc dù vẫn còn đầy lo ngại: “Muốn có tác phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp nhận nỗi những tính cách ngòi bút của một nghệ sĩ lớn với tầm tư tưởng lớn mà tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với những điều nói thật không phải bao giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm, với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc sống con người trên dải đất này”.[24] Và nghệ sĩ lớn trong cái nhìn của Nguyễn Minh Châu là những tài năng mà “tài năng, nhất là thiên tài bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến” Vì vậy, “Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tị với họ, đừng làm cho họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta”.[25] Theo Nguyễn Minh Châu, đây là giải pháp khả dĩ để tạo ra những nhà văn tài năng, sống và viết trung thực đóng góp cho văn học nước nhà cũng như văn học nhân loại bằng chính sự độc đáo trong cá tính sáng tạo của mình. Và để làm được điều này, theo Nguyễn Minh Châu, nhiệm vụ của Hội Nhà văn đối với thế hệ những người viết văn trẻ “không phải là chuẩn bị cho lò ấp hàng trăm, hàng ngàn quả trứng vịt mà là chuẩn bị cho những tư cách nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời”.[26] để làm thế nào cho nền văn học Việt Nam có những nhà văn đóng góp xứng đáng vào nền văn học thế giới với tư cách là những nghệ sĩ tài năng vì “chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam. Để rồi quay trở về con hát mẹ khen hay? Và đàn con cứ mãi mãi suốt đời tự hào vì được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!”[27]

Thật vậy, một nền văn học hiện hữu trong tâm thức người đọc của một dân tộc và của nhân loại bao giờ cũng hiện hữu bằng tác phẩm của từng nhà văn. Người đọc nhớ đến một nền văn học là nhớ đến những văn nhân cụ thể cùng với tác phẩm nỗi tiếng của họ chứ không bao giờ nhớ đến một nền văn học, trong đó không có nhà văn và tác phẩm đỉnh cao nào chạm đến những vấn đề nhân loại quan tâm. Sự lưu ý của Nguyễn Minh Châu cũng là thông điệp mang tính khai phóng trong việc kiến tạo giá trị của nền văn học nước nhà trong xu hướng hội nhập và phát triển mà sự nghiệp đổi mới đã soi sáng nên cần được chia sẻ và trân quí. Bởi, đây chính là suy tư đầy tâm huyết từ hành trình sáng tạo của một nhà văn luôn có những trăn trở về sự tồn sinh của văn học dân tộc mà khát khao tìm đến với cái mới, bảo vệ cái mới trong tiến trình vận động và phát triển của văn học luôn là điều thôi thúc ông dấn thân, bởi ông tin rằng: “chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới, cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết tâm làm mới lại mình với thái độ chân thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ mới”[28]

Xuất phát từ khát vọng đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã chỉ cái căn tố giới hạn  của nền “văn nghệ minh họa” mà theo ông, đó là nền văn nghệ xa rời cuộc sống, chỉ cốt phản ánh cái phải có với một khuôn mẫu định sẵn chứ không phản ánh cái đang có như chính cuộc sống đang diễn ra. Vì thế, đó cũng là một nền văn nghệ thiếu trung thực và đầy ngụy tín mà điều này không phải chỉ xuất phát từ ý muốn của một số lãnh đạo văn nghệ mà bi kịch thay lại là sản phẩm từ chính nhận thức của các văn nghệ sĩ khi họ “cố gắng làm cho lãnh đạo tin, bằng cách biến mình thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, bao điều suy nghĩ chiêm nghiệm ngỗn ngang, bao kiến thức thâu lượm cả một đời, bao lo âu trăn trở về con người, việc đời đem giấu đi (….) Để cầu yên ổn, người sáng tác cầm ngọn bút chỉ “phe phẩy” giả dối một chút trong một thời điểm, đến một lúc cầm lại những trang sách thấy nó cứ bạc phếch trước sự thật đầy tàn nhẫn, như mặt vai nịnh trên sân khấu tuồng”[29] Vì vậy, theo Nguyễn Minh Châu, sự trung thực không chỉ là một phẩm tính cốt tử mà còn là một biểu hiện của tài năng và nhân cách người nghệ sĩ trước cuộc đời. Thiếu sự trung thực trong hành trình sáng tạo, người nghệ sĩ dù có tài năng cũng không thể là một nghệ sĩ chân chính mà chỉ là một “nhà ảo thuật” trên “sân khấu” văn chương. Bởi, đối với Nguyễn Minh Châu: “Trong tư chất của người nghệ sĩ có cái chất thật chả khác nào trong quả sấu có chất chua chát, như có điều thiên phú. Có người viết hàng mấy chục quyển sách, người ta đọc thấy nó giả, cuốn nào cũng vậy, mặc dầu có thể ngoài đời họ sống tốt hơn các nhà nghệ sĩ, thậm chí thiệt thà hơn các nhà nghệ sĩ. Cái chất thật của những điều người nghệ sĩ viết ra, nó chính là cái thiết yếu, cái cổt lõi của lòng người cùng sự đời hoặc nếu được phép nói nôm na: nó là cái củ tỳ của đời sống, mà chỉ những nhà nghệ sĩ đích thực mới nắm bắt được”[30] Và để minh chứng cho những nghĩ suy của mình về phẩm tính trung thực của nhà văn trước cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã không ngần ngại nêu lên một cách thẳng thắng chủ kiến của mình, khi cho rằng: “Nhìn riêng trong lĩnh vực văn học, theo tôi nghĩ khoảng mười năm qua mới là thời kỳ thực sự thử thách từng người cầm bút về mặt tư cách nghệ sĩ, về tính trung thực và bản lĩnh nghệ sĩ, thật sự thử thách từng người cầm bút về trách nhiệm xã hội trách nhiệm đối với con người, cho đến các nhà văn bộ đội đã từng lăn lộn suốt ba mươi năm kháng chiến đến lúc này, cũng có cảm tưởng như mới thấy thật sự đứng giữa trận tiền trong cuộc vật lộn giữa cái thật và cái giả, giữa cái thật chân xác và cái thật ngụy tạo, giữa bảo thủ và cái mới, giữa lề thói tư tưởng phong kiến và khao khát dân chủ đổi mới xã hội, giữa cái riêng tư ích kỷ và vận mệnh đất nước”[31]

Có thể nói, qua những suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu xung quanh vấn đề tính trung thực của nhà văn, ta thấy ở ông một tinh thần tự kiểm chân thành. Sự khai mở của ông về cách nhìn mới, cách nghĩ mới để kiến tạo một nền văn học luôn đồng hành với sự trung thực,“đoạn tuyệt” lối viết minh họa là “mệnh lệnh” thiêng liêng để phục hưng nền văn học dân tộc trên con đường hội nhập với nhân loại. Bởi theo ông: “Đứng trước trách nhiệm xây dựng con người mới và một nền đạo đức mới trong tình hình xã hội hiện tại, mỗi nhà văn chúng ta đang mang trọng trách như một nhà văn hóa. Chúng ta có nhiệm vụ chăm chút giữ gìn cho đất nước những cái gì thật lâu đời, bền chặt mà cũng thật là mỏng manh: tính thật thà, hồn hậu, niềm tin, nền phong hóa nhân bản, (…) lòng trung thực và tính giản dị…”[32] Để hòa nhập với nền văn học nhân loại trong thời kỳ toàn cầu hóa, văn học nghệ thuật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc kết nối giữa dân tộc và thời đại. Và điều làm nên sự kết nối đó là tài năng và sự trung thực của nhà văn khi phản ánh những vấn đề của dân tộc mình phải nhìn trong mối tương quan với nhân loại.

2.3.Về quan hệ văn học – đời sống và lương tri nhà văn

Trả lời phỏng vấn đầu xuân năm 1986 của báo Văn Nghệ về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã xác quyết: “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm – mà tâm điểm là con người. Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nỗi một nhà văn mà không mạng nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là niềm hân hoan say mê, vừa là nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững trước cuộc sống”.[33] Như vậy, trong nhận thức của Nguyễn Minh Châu, văn học và đời sống là một thực thể hiện hữu không thể tách rời. Và, dòng huyết quản nuôi sống thực thể này chính là tấm lòng, là thái độ, là cái nhìn của nhà văn đối với con người. Trong suy nghĩ của Nguyễn Mnh Châu, đây cũng là phương diện thể hiện nhân vị của người cầm bút, vì theo ông: “Có một điều tưởng như chẳng thuộc phạm vi văn học nhưng lại là cái gốc của văn học. Đó là tấm lòng, cái nhìn và thái độ của người cầm bút trước cuộc sống hiện tại đang chuyển mình, trước một giai đoạn cách mạng đang biến đổi”.[34] Và tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống của nhà văn là sự thể hiện lương tri của nhà văn mà theo Nguyễn Minh Châu, trước hết đó là lòng trân quí con người: “Văn học là như vậy: làm hiện hình lên những huyền diệu bí mật của cõi lòng người, (…) Chỗ nào có con người thì có văn học”.[35]

Khi bàn đến mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như lương tri của nhà văn trước cuộc đời, điều Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở là tinh thần dũng cảm chiến đấu chống cái ác, cái xấu của nhà văn. Bởi, trong suy nghĩ của ông, nhà văn vốn hiền lành “không làm hại ai, không làm điều ác với ai. Nhưng cái lỗi lớn nhất của mỗi người chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu cái ác. Và lâu dần dường như không làm gì được thì chúng ta coi như không có nó – cuộc đời không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận con người, coi như cuộc đời không còn oan khiên, oan khuất…”.[36] Và điều này đã tạo nên những trăn trở đầy ưu lo trong tâm cảm Nguyễn Minh Châu mà theo ông hình như: “Mối quan hệ giữa văn học và đời sống thực tại đang ngày một xa nhau”.[37] Vì thế, Nguyễn Minh Châu đã rất quyết liệt đấu tranh với sự vô cảm của nhà văn trước cái ác, cái phi nhân tính, khi đặt ra yêu cầu đối với nhà văn, đó là: “Trước những bất công, trước cái ác, anh không có quyền dửng dưng, thây kệ khi con người bị đày đọa, và công việc đó phải là phản ứng tự nhiên của nhà văn”.[38] Bởi vì, giữa những oan khiên của cuộc đời, nhiều khi con người không còn biết bám vào đâu thì, văn học và nhà văn đôi khi trở thành phao cứu sinh, thành diệu pháp tinh thần cứu vãn niềm tin của họ vào cuộc đời, mà theo Nguyễn Minh Châu: “trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy rẫy oan khiên, oan khuất, cái ác bao giờ cũng mạnh mẽ và lẫm liệt, đầy mưu ma chước quỷ, còn cái thiện thì ngu ngơ và ngây thơ, lại thường cả tin. Nhà văn tồn tại trên đời này trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không còn có ai để bênh vực. Cho nên sợ nhất ở một nhà văn là cái chất máu và cái thái độ lãnh đạm, dửng dưng trước mọi việc”.[39] Bởi, trong suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn không phải là diễn viên trên sàn diễn. Nhà văn không phải là loài có cánh. Nhà văn phải đứng bằng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa thập loại chúng sinh”.[40]

Bàn về trách nhiệm và lương tri của nhà văn trước cuộc đời, Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn có nhưng suy tư sâu sắc có thể khái quát thành những diễn ngôn mang tính lý luận về phương diện: nhà văn, tác phẩm và cuộc sống. Trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Nghệ thuật nhìn trở lại cuộc sống, nghệ thuật không bao giờ chết. Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn: sự trường tồn ấy mãi mãi đang nhìn vào khoảnh khắc thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn cái khoảnh khắc”.[41] Vì thế, “Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống”.[42] Và nhà văn “cố nắm bắt không những cái thực tại mà cả cái hư ảo của đời sống. Không những nắm bắt hiện thực mà còn muốn nắm bắt cái bóng của hiện thực mà cái đó mới là cái hiện thực đích thực”.[43] Những suy niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như tiếng nói lương tri của văn học và nhà văn không chỉ là những vấn đề lý thuyết bổ sung cho nền lý luận phê bình văn học của chúng ta vốn còn nhiều giới hạn mà còn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn góp phần khai mở và thức nhận cho sự đổi mới hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới cũng như cho cả tiến trình của nền lý luận phê bình văn học dân tộc trong hiện tại và tương lai.

3.Thay lời kết

Trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn rất cần thiết có mặt ở trên đời, để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trước những tai họa”.[44] Có lẽ vì ý thức được vai trò quan trọng của văn học và của nhà văn nên Nguyễn Minh Châu đã tự đổi mới tư duy sáng tạo của mình khi đặt ra trách nhiệm phải “đối thoại với người đương thời” về những vấn đề “cấp bách đặt ra trong cuộc sống”. Và đây chính là tiền đề mở ra sự thay đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình của ông trong thời kỳ đổi mới mà những diễn ngôn về lý luận phê bình và những sáng tác của ông thời kỳ hậu chiến, nhất là những sáng tác công bố trong thời kỳ đổi mới là một căn cước xác chứng cho những “phát ngôn” của ông không chỉ về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn. Sự gắn kết và bổ sung giữa quan điểm của ông qua những diễn ngôn lý luận phê bình về sự đổi mới cách viết về chiến tranh và nhìn chiến tranh qua số phận con người, về sự trung thực và sự đoạn tuyệt với nển văn nghệ minh họa, về mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống cũng như tiếng nói lương tri của nhà văn và văn học đã cho thấy sự thống nhất giữa nói và làm, giữa lý luận và thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động ở Nguyễn Minh Châu. Vì vậy, những vấn đề lý luận ông đặt ra có ý nghĩa khai phóng, thiết thực góp phần thức nhận không chỉ đối với người sáng tác mà cả đối với người tiếp nhận trong việc hướng đến một nền văn học luôn đồng hành với con người, vì con người, cho con người, “trên con đường dài dằng dặc đi đến cõi hoàn thiện”.[45] Và với những gì ông đã sống, đã viết còn để lại cho đời, Nguyễn Minh Châu không chỉ là một nhà văn góp phần rất lớn trong việc khai mở sự chuyển đổi hệ hình tư duy lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới mà còn là một nhà văn có vị trí đặc biệt, độc đáo, không thể thay thế trên văn đàn. Sự ra đi của ông là một khoảng trống quá lớn không thể bù đắp. Tôi tiếc cho sự “đoản mệnh” của cuộc đời ông. Nhưng bù lại vẫn còn đó, những giá trị trong sự nghiệp văn học ngời sáng của ông, một nhà văn đầy tài năng và nhiệt huyết không dễ tìm thấy trong nền văn học nước nhà như chính Nguyễn Minh Châu đã từng suy niệm: “Đời mỗi nhà văn được làm nên không phải bằng cái mình không làm ra được mà bằng cái nhà văn đã làm ra được”.[46]

Xóm Đình An Nhơn – Gò Vấp, 15/8/2019

PGS.TS TRẦN HOÀI ANH

Tài liệu tham khảo:

Trần Hoài Anh (2017) Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội

Nguyễn Minh Châu (2002) Trang giấy trước đèn (Tôn Phương Lan, sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội

Nguyễn Minh Châu (2006) Tuyển tập truyện ngắn , Nxb. Văn học, Hà Nội

Đỗ Chu (2004) Tản mạn trước đèn, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội

Hoàng Ngọc Hiến (2012) Viết, Nxb. Lao Động, Hà Nội

Tôn Phương Lan (2002) Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội

Nhiều tác giả (2001) Nguyễn Minh Châu, tài năng và sáng tạo nghệ thuật,

(Mai Hương, tuyển chọn và biên soạn) Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội

Nhiều tác giả (1997) Văn học 1975-1985: Tác phẩm và dư luận (Vân Trang – Ngô Hoàng –Bảo Hưng, sưu tầm và biên soạn), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội

________________________________________

[1] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25

[2] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.25

[3]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.26  

[4] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 27

[5] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.32

[6] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.33

[7] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57

[8] Nguyễn Minh Châu Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.58

[9] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb.. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62

[10] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.62

[11]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.63

[12] Nguyễn Minh Châu,Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.72

[13] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.50

[14] Nguyễn Minh Châu Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.57

[15] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.40

[16] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.127, 128

[17]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 128, 129  

[18] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.130

[19] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.127  

[20]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 130  

[21] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 131

[22] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 133

[23] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 135

[24] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.135

[25] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 136

[26] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 136

[27] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 137

[28] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 137 

[29] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.141

[30] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.163

[31] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.142   

[32] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.112

[33] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.111

[34] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.87

[35] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.179

[36] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.157

[37] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.155

[38] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.156

[39] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.165

[40] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.174

[41] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.176

[42] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.78

[43] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.177

[44]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.164

[45] Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.112

[46]Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.173

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *