Nguyễn Tiến Thanh – Nghiệp thơ, duyên báo và nghề xuất bản

Một nhà báo, một nhà thơ khi chuyển sang nghề xuất bản, lại giữ chức danh lãnh đạo cao nhất của một cơ quan xuất bản quốc gia mang đậm tính đặc thù như NXB Giáo dục Việt Nam, thì điều gì sẽ xảy ra?. Và nhà báo, nhà thơ lãng mạn Nguyễn Tiến Thanh cần phải làm gì, đã thực sự làm gì, để góp mình một cách “đích đáng” nhất cho sự nghiệp của NXB?

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, NXB Giáo dục Việt Nam – nhà xuất bản quốc gia có quy mô lớn nhất của ngành xuất bản trong nước với trên 1.000 cán bộ, nhân viên và hơn 2.000 tỉ tiền vốn do Nhà nước cấp – đã có một lãnh đạo mới. Đó là nhà thơ, nhà báo Nguyễn Tiến Thanh. Lãng tử ưa rong chơi trên đường đời và trong cõi mộng nay đã phải tạm dừng chân để ngồi vào chiếc ghế nóng: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc một nhà xuất bản lắm vinh quang, nhưng cũng chẳng ít điều tiếng.

Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Tiến Thanh

Nguyễn Tiến Thanh sinh năm 1968, tuổi Mậu Thân, tại Hà Nội, trong một gia đình cán bộ, công chức khá “cơ bản”, theo tiêu chuẩn của xã hội thời đó. Từ nhỏ ông đã yêu thích văn nghệ, tự mày mò học chơi đàn theo sách hướng dẫn của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Vào đại học, ông học Khoa Ngữ văn Trường ĐHTH Hà Nội (nay là khoa Văn học, Trường ĐH KHXH & NV Hà Nội), vừa học vừa làm thơ và… bị thơ làm. Ngoài ra, ông còn tham gia rất hăng hái trong các hoạt động của phong trào thơ sinh viên ngày ấy, cùng các thi sĩ tên tuổi như Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Xuân Hải, v.v… và bản thân cũng nổi lên như một nhà thơ trẻ đầy triển vọng.

Tốt nghiệp đại học năm 1990, Nguyễn Tiến Thanh được giữ lại trường, và nếu không có biến cố gì lớn, con đường trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học đã mở sẵn cho ông đi đến cuối đời công chức. Không ngờ, chỉ sau mấy tháng – khoảng thời gian đủ để biết môi trường sư phạm ở giảng đường đại học ra sao – Nguyễn Tiến Thanh đã “động lòng bốn phương”: ông tình nguyện “mất nghiệp” dạy dỗ để đi theo tiếng gọi của nghề viết báo, làm báo.

Thoạt tiên là phóng viên Báo Thanh niên, viết đủ các mảng nghị trường, kinh tế, văn hóa xã hội… Năm 1994, ông được bổ nhiệm làm Phó ban Nội dung Báo Thanh niên.

Năm 1998, Nguyễn Tiến Thanh về Báo Gia đình và Xã hội làm Phó Tổng biên tập. Năm 2001, ông về Tạp chí Đời sống và Pháp luật với chức danh Tổng Biên tập và ở đó suốt đến năm 2024. Ấy là còn chưa kể đến khá nhiều tờ báo, tạp chí đình đám khác mà Nguyễn Tiến Thanh chính là người nắm quyền điều hành thực sự, nhưng chìm trong hậu trường và đương nhiên không trương tên. (Tờ Ngày nay, tờ báo đã đăng bài Trò chuyện với hoa thủy tiên khét tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, là một trong những ví dụ).

Viết báo và làm kinh tế bằng báo chí đúng vào giai đoạn giàu có và bùng nổ sức sáng tạo nhất của đời người – ba thập niên 1990, 2000, 2010, đây cũng là giai đoạn hoàng kim của báo chí Việt Nam sau Đổi mới, có lúc tưởng như Nguyễn Tiến Thanh đã nhạt lòng với thơ, thậm chí quên thơ, như người ta vẫn thường quên những mẩu ký ức, những mảnh đam mê đã lẫn vào một thời xa ngái. Nhưng thơ thì không quên ông, nó vẫn ở trong ông, găm vào bộ nhớ của từng tế bào cảm xúc mang nòi thi sĩ, để chỉ chờ lúc hồi sinh.

Ấy là khi Nguyễn Tiến Thanh xuất bản cùng lúc hai tập thơ Loạn bút hành và Chiều không tên như vết mực giữa đời vào năm 2021 – cùng một tập tiểu luận về báo chí có tên Thời của tạp chí – rồi tập thơ Viễn ca xuất bản năm 2024. Có thể xem ba tập thơ kể trên như là một phản ánh khá đầy đủ và trung thực về diện mạo và phẩm tính thơ Nguyễn Tiến Thanh từ khởi đầu cho đến nay. Ông là một thi sĩ với những bài thơ được lồng trong cái khung mỹ học của Chủ nghĩa Lãng mạn.

Dường như Nguyễn Tiến Thanh không quan tâm lắm đến những tìm kiếm hình thức bí hiểm theo kiểu hậu hiện đại để nhằm làm mới thơ ca, mà ông chỉ chú trọng tìm kiếm và thể hiện chính mình, con người tinh thần của mình qua những khoảnh khắc hiện sinh. Thơ, với Nguyễn Tiến Thanh, phải là những văn bản ngôn từ tràn trề cảm xúc, giàu có về hình ảnh và nhạc tính, lôi cuốn người đọc – mà phù hợp hơn cả là người nghe – ngay từ khi những âm tiết đầu tiên của bài thơ được cất lên.

Vì thế thơ ông, dù vui hay buồn, vẫn đậm tính chất thơ quảng trường, thơ đọc vang vang trên sân khấu cho một số đông khán giả ở bên dưới hoặc ở xung quanh nghe và hưởng ứng. Thơ ông, cho đến tận bây giờ, dẫu có mang thêm nhiều vết xước thời gian và chất chồng hơn những ưu tư đời sống, thì vẫn cứ giọng điệu sôi nổi như cái thuở sinh viên Văn khoa Tổng hợp “bằng lăng tím lối Mễ Trì”.

Tiểu luận “Những câu thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết” của Nguyễn Tiến Thanh.

Nhiều người yêu thơ vẫn nhớ tới hình ảnh một cái Tôi/ Ta kiêu hãnh, thậm chí bất cần trong thơ Nguyễn Tiến Thanh: “Thì em cứ hát lời kiêu bạc/ Người đi chí lớn vẫn cơ hàn/ Ta vốn chẳng thèm kiêng gió cát/ Đầu trần đi giữa nắng nhân gian” (Loạn bút hành). Hoặc một nhân vật trữ tình “Anh” đầu xanh, tuổi trẻ với những buồn nhớ vu vơ mà phóng túng: “Nhưng mà rượu cứ như là nước lã/ Trăng hạ huyền sao nỡ gọi trăng suông/ Đêm phố xá nhớ về đêm cư xá/ Anh bụi đời đi nhớ một người dưng” (Quỳnh hương).

Đó là thơ Nguyễn Tiến Thanh của tuổi mười tám, đôi mươi trẻ trung dấn thân vào đời. Nhưng thơ Nguyễn Tiến Thanh của tuổi năm mươi tri thiên mệnh thì cũng không mấy khác:

“Lá rụng xuống sân trường năm 88/ Ta hai mươi rụng dưới mắt em nhìn/ Ừ có thể lá như ta, đồng phạm/ Mượn gió mùa gây xước tim em/ Tuyệt tình cốc dựng trên lời thề hẹn/ Rượu đong tràn ngõ vắng bơ vơ/ Ta tình cờ nội trú cơn mơ/ Đâu thể hát âm vang lời của nắng?” (Lá rụng xuống sân trường năm 88).

Thơ ấy dường như rất hợp với mỹ cảm của đa số người thẩm âm tiếng Việt. Và nó lãng mạn, đặc biệt lãng mạn và cần thiết như những lời vực dậy, như một bàn tay xoa dịu trái tim con người trong một xã hội đang trở thành “xã hội kiệt sức” (Burnout society, một khái niệm của triết gia đương đại người Đức gốc Hàn Quốc Byung Chul Han). Điều đó góp phần quan trọng lý giải tại sao vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, sinh hoạt đêm thơ lại trở thành một hiện tượng gây tiếng vang lớn trong đời sống tinh thần của giới sinh viên, học sinh ở Hà Nội, và tại sao thơ Nguyễn Tiến Thanh được nhiều công chúng yêu thơ thuở ấy nhớ lâu đến thế.

Không dừng lại ở thực hành sáng tạo thơ, Nguyễn Tiến Thanh còn là người luận về thơ, người tự đặt ra cho chính mình những câu hỏi căn cốt nhất: Thơ là gì? Viết là gì? Ý nghĩa của hành vi viết ra những câu thơ đối với bản thân người viết và đối với người đọc nói chung? Thế nào là thơ hay, thơ dở? Thơ liệu còn có chút giá trị nào trong đời sống công nghệ hóa đến lạnh lùng và thực dụng hóa đến tàn nhẫn như hiện nay? v.v…

Những câu hỏi tự vấn ấy được Nguyễn Tiến Thanh đau đáu nghiền ngẫm, vật vã trở đi trở lại vô số lần, và kết quả là tháng 9 năm 2025, ông công bố tập tiểu luận – nói cho đúng là tập thi luận – có nhan đề Những câu thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết. Thi luận này dễ khiến người đọc yếu bóng vía phải hoảng hốt trước sự đồ sộ của nó: trên sáu trăm trang in khổ 16 x 24 cm, và triền miên là những nghĩ – về – thơ.

Hơn nữa, nó cũng là một sự lạ nếu đặt cạnh các thi/ văn luận từng có: Nguyễn Tiến Thanh không diễn đạt những nghĩ – về – thơ của mình bằng ngôn ngữ của các khái niệm, các phạm trù, các lập luận đậm chất lý tính chặt chẽ, mà ông diễn đạt bằng ngôn ngữ phong phú của các hình ảnh và nhạc/nhịp điệu. Nói cách khác, Nguyễn Tiến Thanh nghĩ – về – thơ – hay thực hành thi luận – bằng chính ngôn ngữ của thơ. Tập thi luận Những câu thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết, đó là một “thơ khác” của Nguyễn Tiến Thanh.

Một nhà báo, một nhà thơ như vậy, khi chuyển sang nghề xuất bản, lại giữ chức danh lãnh đạo cao nhất của một cơ quan xuất bản quốc gia mang đậm tính đặc thù như NXB Giáo dục Việt Nam, thì điều gì sẽ xảy ra?. Và nhà báo, nhà thơ lãng mạn Nguyễn Tiến Thanh cần phải làm gì, đã thực sự làm gì, để góp mình một cách “đích đáng” nhất cho sự nghiệp của NXB?

(Cần chú ý rằng, thời điểm Nguyễn Tiến Thanh chuyển từ báo chí sang xuất bản cũng chính là thời điểm mà yêu cầu chuyển đổi số, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo đã trở thành một yêu cầu mang tính bắt buộc với toàn bộ các hoạt động xã hội, không ngoại trừ ngành xuất bản. Thêm một điều nữa: Nghị quyết của Quốc hội về sách giáo khoa “một chương trình, nhiều bộ sách” năm 2018 đã được thay thế bằng Nghị quyết “một bộ SGK duy nhất sử dụng trên phạm vi toàn quốc”). Nguyễn Tiến Thanh đã khá cởi mở khi trao đổi với báo chí về những vấn đề này.

Ông cho biết, mình đã tập làm quen với trách nhiệm và cường độ lao động “khủng khiếp” mà một Chủ tịch HĐTV, TGĐ NXB Giáo dục Việt Nam phải gánh vác: mỗi cuốn sách xuất bản ông phải ký ba chữ, trong hơn một năm từ khi nhậm chức – từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 7 năm 2025 – tổng cộng ông đã ký khoảng 7 vạn chữ ký. Và không ngày nào ông ngủ trước 12h đêm, có hôm còn muộn hơn, để lo công việc nội dung và công việc kinh doanh của NXB.

Nguyễn Tiến Thanh quan niệm: đã là NXB Giáo dục thì phải xuất bản sách giáo dục, chứ không chỉ xuất bản sách giáo khoa (SGK). Mà SGK, nhìn về phía tương lai, cũng sẽ rất khác bây giờ và trước kia, sẽ không còn là câu chuyện ứng dụng công nghệ vào sách, mà bản thân công nghệ đã là sách. Sách xuất hiện trên nền tảng công nghệ, sách và công nghệ sẽ là một.

Đây là vấn đề sống còn với NXB Giáo dục Việt Nam, nếu NXB không làm được thì sẽ tụt hậu rất nhanh, sẽ từ một gã khổng lồ bị biến thành “khủng long Nokia”, bị mất tích do không tương thích được với thời đại.

Chính vì thế, ngay từ khi mới nhậm chức, việc đầu tiên tân TGĐ NXB Giáo dục Việt Nam làm là tổ chức các lớp học training từ lãnh đạo cho tới nhân viên để thay đổi về tư duy chuyển đổi số; Hội đồng thành viên và anh em BTV cũng phải đi học tập một số NXB ở Hàn Quốc, ở Vương quốc Anh xem họ làm thế nào, sách công nghệ, sách điện tử ra sao?

Ông cho biết, NXB Giáo dục Việt Nam đã trình Bộ Giáo dục & Đào tạo kế hoạch phát triển từ năm 2025 đến năm 2030, tập trung vào quá trình chuyển đổi số, phát triển những sản phẩm chiến lược, sản phẩm liên quan tới việc tích hợp công nghệ vào sách. Đây được xem như sản phẩm cốt lõi trong tương lai để thay thế dần SGK truyền thống.

Dự kiến, NXB Giáo dục Việt Nam sẽ đầu tư khoảng 500 đến 600 tỉ đồng cho công việc này. Còn về phần sách giáo dục (như đã nói ở trên), TGĐ Nguyễn Tiến Thanh chia sẻ một niềm tin xác quyết: “Các sản phẩm sách giáo dục phải phát triển hơn. Nó không chỉ xoay quanh SGK, nó phải là sách tri thức, mang tính chất tinh hoa nhân loại, hội tụ được chất xám, những tiến bộ nhất của thế giới trên mọi lĩnh vực vào từng trang sách. Sản phẩm SGK dù rất khó làm, rất gian nan, vất vả, yêu cầu cực cao ở tính nghiêm cẩn, chính xác, nhưng gọi nó là sản phẩm lớn thì không phải. Tôi quan niệm một NXB lớn phải có những sản phẩm lớn đóng góp vào sự nghiệp phát triển giáo dục của cả nước” (Bài trả lời phỏng vấn Tạp chí điện tử Một thế giới).

“Content is King”. Nội dung là Vua. Đây là khẳng định của người làm báo Nguyễn Tiến Thanh trong tập tiểu luận Thời của tạp chí, khi ông nhấn mạnh rằng bất kể công nghệ có thế nào thì báo chí cũng vẫn phải lấy nội dung làm giá trị cốt lõi. Sinh lộ của nó (báo chí) là ở đấy.

“Content is King” cũng là quan niệm của người làm SGK và sách giáo dục Nguyễn Tiến Thanh: “Sách phải hay, phải thật, phải chứa đựng tinh hoa trong đó thì mới phát triển được. Với tôi, sáng tạo, trước hết phải sáng tạo từ nội dung. Còn với công nghệ, chúng ta chỉ cần bắt kịp công nghệ, ứng dụng công nghệ vào việc xuất bản sách” (Bài đã dẫn).

Với một niềm tin như thế, trong vai trò người lãnh đạo cao nhất của NXB Giáo dục Việt Nam, “cơn mơ” của Nguyễn Tiến Thanh đã có một địa chỉ để “nội trú”; không phải “đầu trần đi giữa nắng nhân gian”, mà là đi trong hàng ngũ những người có trách nhiệm đổi mới nền giáo dục quốc gia, với các sản phẩm là SGK và sách giáo dục chất lượng cao.

HOÀI NAM

Tạp chí Sông Lam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *