Nhà văn trung úy, đồng chí ở đâu?

VHSG- Suốt thế kỉ 20 Việt Nam phải tiến hành 4 cuộc chiến tranh. Trong hàng triệu thanh niên nhập ngũ có hàng ngàn người tiềm ẩn năng lượng văn chương. Trải qua những tháng năm cầm súng chiến đấu, đầm mình trong khói lửa đạn bom, chứng kiến bao nhiêu tình huống hùng tráng bi thương, hiện thực chiến tranh ngổn ngang đã thôi thúc họ cầm bút. Họ viết bằng nhu cầu tự thân, viết bằng cảm quan của người lính, viết về chính những trải nghiệm của mình và đồng đội.

Thượng tá, nhà văn Đỗ Tiến Thụy

Những người vừa cầm súng vừa cầm bút có mặt từ kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, chiến trường K và mặt trận biên giới phía Bắc. Nhiều người bị thương, có người đã anh dũng hi sinh. Nhờ gắn bó với đơn vị, với chiến trường như thế nên họ luôn giàu vốn sống. Do đó ngay cả khi xuất ngũ trở về đời thường thì họ vẫn viết từ nguồn nguyên liệu quá khứ và tình cảm của người lính. Những tác phẩm viết về chiến tranh luôn được đón nhận nồng nhiệt, bởi trong đó ôm chứa không chỉ những thông tin thẩm mĩ, mà còn là thông tin thời sự, là tri thức chiến tranh, đúng “tầm đón đợi” của độc giả. Nhờ thế một thời kì dài, văn học đề tài chiến tranh với nhân vật người lính làm trung tâm trở thành dòng chủ lưu trong nền văn học nước nhà. Và những người lính viết văn được độc giả gọi bằng một danh hiệu trìu mến “nhà văn áo lính”.

Đọc một cách hệ thống dòng văn học chiến tranh của Việt Nam dễ nhận thấy các tác phẩm đều tươi ròng chất sống, diện phản ánh rộng từ mặt trận tới hậu phương. Bên cạnh cảm hứng chủ đạo là cổ vũ tinh thần dân tộc, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tôn vinh sự cao cả của chiến tranh chính nghĩa…, thì các “nhà văn áo lính” cũng không né tránh những vấn đề gai góc của xã hội, lên án quyết liệt cái ác, cái xấu như sự hèn nhát, phản bội trong chiến tranh, bệnh ấu trĩ máy móc, thói lưu manh cơ hội trong cuộc sống đời thường… Dù ngợi ca hay phê phán thì những tác phẩm của “nhà văn áo lính” luôn đề cao tính Chân – Thiện – Mĩ, tuân thủ tôn chỉ vì đất nước và con người Việt Nam. Bằng thế giới quan của “nhà văn áo lính”, mỗi tác giả một giọng điệu, một phong cách nhưng có nét chung là luôn giản dị mà tài hoa, chân phương mà trữ tình, khỏe khoắn mà tinh tế, lãng mạn mà chân thực, quyết liệt mà bao dung, dữ dội mà nhân ái… Tổng hòa những nét này đã tỏa nên một trường thẩm mĩ rất riêng, được độc giả gọi là “chất lính”. Và dòng văn học đề tài chiến tranh với phần lớn tác phẩm do những “nhà văn áo lính” viết đã đồng hành cũng đất nước suốt hơn nửa thế kỉ qua, giữ vai trò đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần; nhiều tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong nhà trường có vai trò tích cực trong việc định hướng thẩm mĩ và xây dựng lí tưởng sống cho thanh niên nhiều thế hệ, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm. Bước vào thời kì Đổi mới, xã hội có những biến động lớn. Văn học Việt Nam cũng đã hội nhập, nhiều trào lưu, trường phái văn chương đua nở và tâm thế của độc giả văn chương cũng thay đổi. Các đề tài văn học đã trở nên bình đẳng, cạnh tranh sòng phẳng với nhau với tư cách là các tác phẩm nghệ thuật. Và chiến tranh vẫn được coi là “siêu đề tài”, là nguồn nguyên liệu nhiều tầng vỉa vẫy gọi các nhà văn khai thác.

Thế nhưng trên thực tế số lượng tác phẩm viết về chiến tranh ngày càng thưa vắng. Nguyên nhân là các nhà văn kinh qua trận mạc đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Số lượng tác giả trẻ trên cả nước mặc dù rất đông, có thể viết rất hay ở những đề tài xã hội, nhưng với đề tài chiến tranh thì họ vẫn e dè. Đó là điều dễ hiểu, bởi theo nguyên lí sáng tạo, nhà văn chỉ có thể viết hay về cái mà mình thân thuộc. Xét theo nguyên lí ấy thì những tác giả trong quân đội sẽ có lợi thế hơn, bởi họ có điều kiện tiếp xúc, nghiên cứu tài liệu, và quan trọng hơn, là có tình cảm của người lính, yếu tố cốt tử tạo nên cảm xúc khi viết về đề tài chiến tranh.

Cũng như ở nước Nga, qua mỗi cuộc chiến tranh vệ quốc chúng ta đều có một thế hệ “nhà văn trung úy”, ghép mình vào đội ngũ “nhà văn mặc áo lính” hùng hậu của đất nước. Nhờ chủ trương đúng đắn của quân đội, nhiều tác giả trưởng thành từ mặt trận sau giải phóng và các tác giả trẻ ở các đơn vị đã được chọn lựa cử đi đào tạo chuyên ngành tại các trường Viết văn Nguyễn Du, Học viện Văn học Gorky…, trở thành những nhà văn chuyên nghiệp, có tác phẩm xuất sắc đóng góp cho văn chương đương đại; nhiều người giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan văn học của đất nước. Nếu thống kê các thế hệ “nhà văn áo lính” trưởng thành từ chiến tranh chúng ta sẽ có một danh sách dài lên tới hàng trăm. Nhưng để điểm danh đội ngũ “nhà văn áo lính” trưởng thành sau chiến tranh, thì chỉ có vài chục, tập trung chủ yếu ở các cơ quan văn nghệ, báo chí của Tổng cục Chính trị, còn ở đơn vị thì vô cùng hiếm hoi, có thể đọc từng tên: Đó là Trần Hoài, đại diện Báo Quân đội Nhân dân tại miền Trung; Nguyễn Minh Đức, Trường Sĩ quan Lục quân 2; Nguyễn Minh Cường, Trường Sĩ quan Chính trị Bắc Ninh; Nguyễn Phú, Học viện Biên phòng; Lê Mạnh Thường, Cảnh sát biển Việt Nam; Hồ Kiên Giang, Quân khu 9… Nhưng những tác giả này đều tuổi trên bốn mươi và đều mang quân hàm cấp tá. Và điều đáng phải suy nghĩ là phần lớn các tác giả ở các đơn vị trong quân đội hiện nay mới chỉ xuất hiện với tư cách là tác giả của truyện ngắn, bút kí và những bài thơ nhỏ lẻ viết về nhiều đề tài khác nhau; có lẽ vì điều kiện công tác, họ chưa thể toàn tâm toàn ý để viết những tác phẩm dài hơi như tiểu thuyết, trường ca về đề tài chiến tranh và người lính.

Trước thực tế đội ngũ mỏng và thưa như vậy, liệu những tác giả trẻ trong quân đội có thể tiếp nối sứ mệnh viết về chiến tranh và người lính thành công như các thế hệ tiền bối hay không? Câu hỏi này chỉ có những người làm công tác quản lí văn hóa văn nghệ có thể trả lời. Còn tôi, với tâm thế và tình cảm của một người làm công tác biên tập, tôi luôn dõi xuống các đơn vị để tìm kiếm những tác giả trẻ với câu hỏi tha thiết: “Nhà văn trung úy, đồng chí ở đâu?”

ĐỖ TIẾN THỤY

One thought on “Nhà văn trung úy, đồng chí ở đâu?

  1. Nguyễn Hồng Minh says:

    Bàn về một đoạn viết của Nhà văn Đỗ Tiến Thụy
    Tôi đọc cả bài và suy nghĩ đoạn sau đây có nhiều điều suy nghĩ nhất (theo tôi là vậy) nên tôi không ngần ngại viết ra điều mình suy nghĩ về đoạn ấy. Đoạn đó là “Thế nhưng trên thực tế số lượng tác phẩm viết về chiến tranh ngày càng thưa vắng. Nguyên nhân là các nhà văn kinh qua trận mạc đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Số lượng tác giả trẻ trên cả nước mặc dù rất đông, có thể viết rất hay ở những đề tài xã hội, nhưng với đề tài chiến tranh thì họ vẫn e dè. Đó là điều dễ hiểu, bởi theo nguyên lí sáng tạo, nhà văn chỉ có thể viết hay về cái mà mình thân thuộc. Xét theo nguyên lí ấy thì những tác giả trong quân đội sẽ có lợi thế hơn, bởi họ có điều kiện tiếp xúc, nghiên cứu tài liệu, và quan trọng hơn, là có tình cảm của người lính, yếu tố cốt tử tạo nên cảm xúc khi viết về đề tài chiến tranh.”
    …các tác phẩm viết về chiến tranh càng thưa vắng, tại sao thì Nhà văn cũng đã đề cập, và đương nhiên Nhà văn làm về biên tập và nắm được số liệu để có câu nhận xét này. Không cần bàn cãi là chuẩn xác hay không mà hãy xem đó là đúng thực tế. Tôi là người sáng tác, và cũng có các truyện ngắn về chiến tranh và người lính, có cả trường ca về những người đang chiến đấu vì tôi là con của người lính. Tức là tôi là thế hệ con của người lính! Tôi nhấn mạnh điều này để thấy có 3 vấn đề và ba loại hình: 1 là những người lính và sự phát triển sáng tác trong lính thế nào? Hai là thế hệ những người con của lính trước đây và cả bây giờ, họ có tác động rất lớn từ người thân bố mẹ, anh chị em của mình. Ba là thế hệ trẻ và lịch sử ăn sâu vào tư duy như thế nào? Còn vấn đề những người đã qua lính như Nhà văn đã đề cập thì tôi không nhắc tới nữa. 3 mảng tác giả trên thì tôi thuộc mảng 2 và 3. Để làm sao hai mảng này phát triển? Nhà văn Đỗ Tiến Thụy đã có phương án của mình? Làm sao để mảng 1 phát triển? Nhà văn cũng đã có phương án của mình. Đánh giá các phương án ấy như thế nào? …cuối cùng là thực tế như câu nhận xét cứ cho là đúng của Nhà văn là “càng thưa vắng”. Ở đây Nhà văn không nói chiến tranh là như thế nào? Là trực tiếp chiến đấu, hay là rất nhiều các góc cạnh, các lĩnh vực xã hội và đời sống, tinh thần con người, tác động tới hòa bình, thiên nhiên, loài người…rất rất nhiều mà văn chương chưa khai phá về chiến tranh, tôi nói nhiều nhưng quan trọng vẫn là động lực. Động lực ấy là những giải pháp, những phương án mà có lẽ Nhà văn nên nói qua và có nghiên cứu đánh giá, sau khi đã đánh giá bằng hệ thống thì mới có những hành động đột phá, chiến thuật, chiến lược và từ đó hy vọng tiến tới nào đó…vv
    “các nhà văn kinh qua trận mạc đã hoàn thành sứ mệnh của mình” câu này hơi hơi xuôi tay gì gì đó, sứ mệnh là gì mà đã hoàn thành, tôi nghĩ có rất nhiều bậc lão thành đang trăn trở suy tư chứ chưa hoàn thành đâu. Họ ở đâu? Lại quay về việc biện pháp và kế hoạch từ đó mới tạo ra động lực. Chương trình đó đâu, mà rồi phải chấp nhận câu nhận xét theo tôi là ray rứt này? “Số lượng tác giả trẻ trên cả nước mặc dù rất đông, có thể viết rất hay ở những đề tài xã hội, nhưng với đề tài chiến tranh thì họ vẫn e dè” Họ chẳng e dè đâu, như tôi chẳng hạn, nhưng thiếu môi trường, thiếu động lực, cái gì thất bại cũng không phải do tôi, đó là một thói quen mà tôi khẳng định con người ai cũng mắc phải. Vì thế phải có sự đánh giá tổng thể bằng phương án và sự nghiên cứu nào đó.
    “Đó là điều dễ hiểu, bởi theo nguyên lí sáng tạo, nhà văn chỉ có thể viết hay về cái mà mình thân thuộc.” Bạn đào tạo ra cả một lớp người như nhau, ví dụ giáo dục đào tạo hàng triệu con người như nhau, như nguyên lý sáng tạo mà Nhà văn nhắc tới, thế thì nguyên lý để làm gì nếu như nó không hiệu quả? Chúng ta phải có tư suy sáng tạo, đột phá, thì cái “chỉ có thể viết hay khi quen” có phải là sáng tạo và đột phát không? Hay đó là cái bình thường, là cái nguyên lý mà thôi?
    Đoạn viết tiếp theo là đề cập tới mảng người 1 mà tôi đã tạm phân chia làm 3 ở trên “Xét theo nguyên lí ấy thì những tác giả trong quân đội sẽ có lợi thế hơn, bởi họ có điều kiện tiếp xúc, nghiên cứu tài liệu, và quan trọng hơn, là có tình cảm của người lính, yếu tố cốt tử tạo nên cảm xúc khi viết về đề tài chiến tranh.”
    Cuối cùng chốt lại là Quân đội đã có các chương trình đạo tạo, cuộc thi, tạp chí…vv nhưng hiệu quả của chúng đang gặp một vấn đề gì đó. Các nhà phê bình cần đánh giá các mảng tác giả như tôi đề cập ở trên, hoặc chạy theo chiều dọc tức từng mảng tác phẩm một như về tiểu thuyết thì tình trạng đề tại chiến tranh ra sao, nay và tương lai. Mảng truyện ngắn, mảng thơ, ký, tản văn…vv sẽ phải có các nhà phê bình văn chương Quân đội và họ sẽ sát cánh cùng Quân đội và tạp chí văn nghệ Quân đội chứ nhỉ?
    Ừ, tôi cũng chỉ là người đọc, và vâng tôi cũng nhận ra điều này qua bài đọc và các thắc mắc trăn trở của tác giả Đỗ Tiến Thụy, vấn đề cụ thể ấy cần bóc tách và nhìn nhận, hay chỉ reo vào tâm trí người đọc hiểu về nỗi lo lắng của Nhà văn không thôi? Người đọc như tôi có quyền năng nào đó để nói thẳng ra ý của mình, cho dù chưa phải hoặc chưa đúng thì cũng là một kênh để tham vấn, xúc tác nào đó…
    Hoa Phong.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *