Thời khắc giao hòa – Tôi – thế hệ tiếp nối – xin níu lại chút hồn quê với đôi dòng cảm xúc để mai này ký ức tìm về, nhắc nhớ một thời, quê hương tôi một thuở: Bình Dương.

Tôi sinh năm 1973, vào những năm cuối cùng của cuộc chiến dài nhất thế kỷ, trên dải đất hình chữ S mang tên Việt Nam. Cuộc chiến mà ngoài những điều học được từ sách vở, tôi còn được nghe kể từ những nhân chứng sống – ba mẹ tôi. Cả thời tuổi trẻ của ba mẹ tôi không gắn với giảng đường hay phố xá, mà gắn với rừng, với địa đạo, với những chuyến công tác mật, và cả những lần chứng kiến tận mắt những mất mát, đau thương của người thân, của đồng bào.
Quê nội tôi Bến Cát, Bình Dương – vùng đất từng là vị trí chiến lược, Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Cách con sông Thị Tính – bên kia cầu Ông Cộ là Tân Định, là quê ngoại.
“Hồi năm 1948, lúc đó ba mười sáu tuổi, kháng chiến chống Pháp đang vào giai đoạn quyết liệt, ba vác cuốc theo cô bác đào địa đạo Tây Nam. Chú Út mười tám tuổi, trên đường đi công tác vướng trái, bị thương. Chú Út ráng bò lết về tới nhà, rồi trút hơi thở cuối cùng trên tay ông nội. Ông nội con chôn chú Út, khóc quá trời quá đất. Chú Sáu – hai tư tuổi – cũng hy sinh. Sau giải phóng mấy chục năm rồi mà vẫn chưa tìm được mộ. Ba với mẹ còn được sống tới ngày hòa bình, thống nhất. Hạnh phúc quá chừng rồi, còn mong gì hơn”.
Mẹ tôi hay nhắc nhớ cậu Hai. Hồi cậu Hai tham gia cách mạng, mẹ lúc đó chừng đâu mười tuổi. Một bữa, ngoại nói với mẹ: người ta báo về “thằng Hai hy sinh rồi!”. Mà báo thì biết vậy thôi, chứ ngoại cũng đâu biết cậu Hai hy sinh ở đâu, mồ mả chỗ nào. Rồi mười tám tuổi, mẹ thoát ly gia đình “đi theo” cậu Hai – cũng là đi theo cách mạng. Vô vùng căn cứ địa “Tam giác sắt”, mẹ gặp ba…
Tôi lớn lên trong những ngày đất nước còn đầy “toang hoang” sau chiến tranh. Thời đất nước còn khó khăn, những bữa cơm độn khoai mì, khoai lang mà ba mẹ tôi luôn nhường cơm ngon cho anh em chúng tôi được no bụng. Đường về quê nội trong ký ức tôi – quê hương “Tam giác sắt” Tây Nam, Bến Cát – thập niên những năm tám mươi, vẫn in hằn con đường đất đỏ, mùa mưa lầy lội sình bùn, bụi tung mịt mùng mỗi mùa nắng. Ngôi chợ quê Phú Thứ chỉ là dãy chòi mái lá, chưa hết buổi sáng chợ đã tan người. Những ngôi trường mái ngói thấp, đơn sơ. Những mảnh vườn quê loang lổ những hố to, hố nhỏ. Ba tôi dạy: “Mấy cái hố bom là tàn tích chiến tranh để lại” – Những lời ba dạy lâu dần xếp đầy trong tiềm thức…
Thời gian thì vô hạn, nhưng đời người lại hữu hạn. Đã hơn mười năm, tôi không còn được nghe ba kể chuyện… những câu chuyện về chiến tranh. Ba tôi đã về với đất – nơi chiến trường Tam giác sắt huyền thoại – mang theo cả “kỷ niệm chiến tranh” là viên đạn sau bờ vai phải, mà mẹ tôi ngày xưa từng năn nỉ hoài, ba cũng không chịu mổ lấy ra. Mẹ tôi giờ đã vào tuổi nhớ nhớ quên quên. Nhưng những câu chuyện thời chiến tranh cứ nhắc hoài nhắc mãi. Cứ đến mỗi 30-4; Ngày 2-9, phố rợp bóng cờ hoa, lại ngồi nhắc nhớ: hồi chiến tranh đi tham gia cách mạng…

Năm 2003, Tỉnh ủy Bình Dương tổ chức cho đoàn cán bộ cách mạng lão thành chuyến về nguồn, dọc theo bản đồ đất nước, từ miền Nam ra Đà Nẵng, Huế, Hà Nội lên đến tận cửa khẩu Lạng Sơn. Nhớ năm đó, ba tôi đi về vui quá chừng! “Đi tới đâu cũng thấy đất nước thay đổi, tươi mới! Chết cũng mãn nguyện! Hồi đó chiến tranh loạn lạc, chia cắt khổ trời ơi..!” – Với ba tôi, và những người đồng chí của ông, chuyến đi năm đó không chỉ là “về nguồn”, mà là cả “về nghĩa” – là trở về, với Tổ quốc đã liền một dải, không còn cắt chia. Những “chứng nhân” lịch sử thuộc thế hệ 3X – trong đó có ba tôi và những đồng chí của ông – lớp người đã đi qua chiến tranh bằng xương máu và niềm tin – để cháu con được lớn lên giữa hòa bình êm ấm, theo thời gian, đã dần hóa cát bụi quê hương.
Tôi vẫn đi về – giữa phố, giữa quê – mà đôi khi nhìn lại vẫn ngỡ ngàng. Những đổi thay gần như không còn dấu tích xưa cũ. “Tam Giác Sắt” huyền thoại – Bến Cát, quê hương tôi – cách “Củ Chi thành đồng” chỉ một chuyến đò ngang. Máu chiến sĩ, đồng bào, có cả người thân tôi từng nhuộm đỏ dòng sông Sài Gòn một thuở. Nay, cầu đã nối đường – nối những bờ vui. Những công trình, nhà máy mọc lên từ cánh rừng năm xưa – nơi quân thù từng rải hàng trăm tấn chất độc hóa học, cây rừng chết đứng trơ cành, mặt đất loang lổ những hố bom. Khu công nghiệp Rạch Bắp – An Điền. Khu công nghiệp Việt Hương 2 – An Tây… Đường về “Tam Giác Sắt” Tây Nam giờ là tuyến bê tông DT744 – rộng sáu làn xe – thay cho con đường đất đỏ, bụi mịt mùng năm cũ. Những ngôi trường được xây mới khang trang. Những vườn cây, trang trại rau, trại hoa đã xóa dấu những “tàn tích chiến tranh”. Những khu chợ nhà lồng cao rộng, nhộn nhịp người mua – người bán, suốt cả ngày…
Chắp vá ký ức những câu chuyện chiến tranh mà ba mẹ đã kể tôi nghe. Khơi lại một phần những đau thương, mất mát – mà trong đó, có cả mồ hôi, xương máu của những người thân yêu tôi đã ngã xuống. Ký ức tôi bỗng ùa về một buổi chiều còn ba – năm cũ: “Bến Cát xưa, xa xa mới thấy một mái nhà – Bình Dương mình “đất lành chim đậu” – nên nay, nhà san sát nhà, cư dân khắp mọi miền tề tựu đông, vui!”.
Hòa bình đã hơn nửa thế kỷ.
Ngày khai sinh nước Việt Nam đã đi qua hai phần ba thế kỷ.
Cầu Ông Cộ – Bến Cát vừa sáng nay: 30-6-2025 rực rỡ sắc cờ bay. Đến mai, đã không còn là ranh giới…
Quốc khánh 2-9-2025 – năm này – thêm một lần nữa, lịch sử lại sang trang. Bước ngoặt: xóa nhòa ranh giới những vùng đất, những địa danh. Những thành phố rộng hơn – từ đồng bằng, cao nguyên, nối dài ra biển đảo. Bình Dương, quê hương tôi dẫu mai chỉ còn là “nốt lặng” trên bản đồ Tổ Quốc, nhưng vẫn vẹn nguyên dáng hình trong lòng đất nước Việt Nam.
Thời khắc giao hòa – Tôi – thế hệ tiếp nối – xin níu lại chút hồn quê với đôi dòng cảm xúc để mai này ký ức tìm về, nhắc nhớ một thời, quê hương tôi một thuở: Bình Dương.
Bình Dương, 23h30’-30.6.2025
LÊ NGỌC HẠNH

















