Tết xa nhà đầu tiên, đêm giao thừa thắp hương theo bổn phận nàng dâu mới lại “ngoan ngoãn” ngồi xem ti vi một cách đầy ý tứ, nỗi nhớ nhà quay quắt ùa về. Tiếng nhạc bên nhà hàng xóm vô tình lọt qua khe cửa va vào tai câu hát không hợp với hoàn cảnh, gieo vào lòng nỗi chơi vơi khó tả: “Em đi lấy chồng về nơi xứ xa…”.

Xen lẫn tiếng nhạc, từng cơn gió rít ngoài song cửa, những cơn gió tết ngày xưa hình như đã theo ta cùng đi về xứ người để hôm nay lang thang ngoài phố, cũng mong tìm đường về chốn cũ? Cái tết đầu tiên rời khỏi vòng tay cha mẹ về làm dâu nhà người, bao nhiêu trách nhiệm và bổn phận đặt lên đôi vai của một kẻ vốn chỉ quen dựa dẫm và mơ mộng. Niềm hân hoan chờ đón tết ngày xưa giờ chuyển thành nỗi lo cơm áo gạo tiền với nhiều trách, bổn phận hơn là niềm vui.
Ngoài song cửa bắt đầu vang lên bao lời chúc tết nồng nhiệt của những kẻ đi xông nhà đầu năm, đâu đó có tiếng động cơ xe rú lên vội vã, hoặc của những cô chiêu cậu ấm thích ăn chơi bốc giời hoặc của những nhân vật “áo gấm đi đêm” cùng những gói quà “nặng đô” hối hả lướt vào bóng tối…Người ta bảo “vui như tết” nhưng trong cái vũ điệu quay cuồng của đời sống kinh tế thị trường náo nhiệt, liệu có cần đến tết mới vui? Những lễ hội hoành tráng tiêu tốn bạc tỷ quanh năm dập dìu, những bữa tiệc linh đình, bia bọt tràn ly, vui “tới bến”… các đại gia ngày nào cũng mở tiệc để mua lấy sự “vui” thì liệu người giàu còn có cần đến tết mới vui? Chợt thấy chạnh lòng, để bao nhiêu cái tết xưa từ thưở đầu trần chân đất tràn về…
Ngày còn bé không hiều vì đâu mà có tết, tết vụt đến rồi lại đi như vị thần hạnh phúc chỉ gõ cửa nhà đứa trẻ nghèo mỗi năm một bận, những cái tết nhọc nhằn nhưng ăm ắp niềm vui. Để ba ngày tết được thoải mái đi chơi không phải làm việc thì trẻ con nhà quê hầu như trước đó cả tháng phải ra sức làm việc chuẩn bị đón tết. Nào là phải đi lấy thật nhiều củi để nấu bánh chưng và để dành củi đun cho những ngày tết, lấy thật nhiều rau lợn đem về băm nhỏ, phơi khô để tết không lo thiếu rau chăn lợn, gánh nước đổ đầy các chum vại, xô, thùng để khi đang vui cùng chúng bạn không bị mẹ gọi về gánh nước, tết mà phải làm việc thì chán lắm…
Đối với tôi, ngày tết luôn mang một ý thiêng liêng trong tâm hồn con trẻ đến nỗi trở thành niềm ám ảnh đến lạ kỳ, cũng phải thôi, trẻ con có ai mà không thích tết? Tết đến được diện quần áo mới, được nhận tiền mừng tuổi, được ăn quà bánh mỏi mồm, được theo bố đi chợ tết chen vai cùng dòng người chật chội trong cái chợ huyện bé ti nhưng nhiều hàng hóa lạ mắt… Khi xưa, mỗi năm chỉ được may một bộ quần áo vào dịp tết, trong năm áo có rách, có sờn, có ngắn thì phải vá lại chứ làm gì được mua quần áo mới, một năm không biết bao nhiêu miếng vá, đắp vào rồi lại sờn ra trong một chiếc quần, chiếc áo.
Người vùng cao ai cũng thích đi chợ, nhất là chợ tết thì càng không thể bỏ qua, dù chỉ là đến chợ để nhìn ngắm mọi người, lắng nghe cái ồn ào của nó. Ở quê tôi người ta thích chợ có lẽ còn bởi một nhẽ chợ là chợ phiên, năm ngày mới họp một lần, người dân có nơi sống cách xa chợ đến cả mấy chục cây số đi bộ. Cả tháng, thậm chí cả năm mới có dịp đi chợ một lần nên người ta đi chợ cảm giác như là đi hội. Đến chợ có khi chả mua bán gì, nhiều khi vượt hàng chục cây số đường đèo, loanh quanh vài vòng, ăn một bát phở rồi từng ấy quãng đường trở về nhà mà trong lòng đã vui như trẩy hội.
Bán hàng chợ tết phải đi thật sớm thì mới có chỗ ngồi. Năm giờ sáng, trời còn tối đen như mực, khi sương đêm vẫn phủ bạc trắng những con đường thì trong chợ đã thật ồn ào nào nhiệt bởi vô vàn những âm thanh. Nào tiếng lợn, gà, kêu inh ỏi, tiếng xào xạc phát ra từ những bó mía còn nguyên lá, tiếng từng thùng hàng rơi bình bịch được người ta ném xuống, tiếng cãi vã giành chỗ của kẻ bán hàng… Ai đi bán hàng mà sáu giờ sáng mới đến nơi là không có chỗ, phải ngồi ven chợ, vị trí mà giới kinh doanh không bao giờ thích. Tám giờ sáng, chợ chật như nêm, người mua hỉ hả sắm đồ chở về nhà như chở may mắn về cho năm mới, người bán bận rộn bán hàng luôn tay cho một ngày đắt hàng nhất trong năm. Chợ tết cơ man nào là hàng hóa, nhưng riêng tôi thì thích nhất hàng bánh kẹo với đủ loại hộp mứt rực rỡ sắc màu. Có trẻ con nào không thích kẹo? Ngày còn bé thèm ăn kẹo đến nỗi cái sự thèm ấy theo cả vào trong giấc mơ. Đêm nằm ngủ cứ mơ mình được ăn cả một hộp bánh quy to, rồi vô thức cầm chiếc bánh đưa lên miệng, chỉ thấy hai hàm răng va vào nhau, miệng nhạt nhẽo, chát xít, tỉnh giấc trong nỗi thất vọng tràn trề.
Bố đi chợ tết, mua bao nhiêu là đồ ăn thức uống nhưng không bao giờ thiếu một đôi mía có cả ngọn về để hai bên bàn thờ. Tết quê tôi, dù nhà nghèo đến đâu thì đồ lễ thắp hương ngày tết không bao giờ thiếu được đôi mía, bánh chưng và bánh khảo. Không phải là nhà dân tộc học, cũng chẳng phải kẻ ham mê tìm hiểu văn hóa dân tộc mình như phần đông giới trẻ thời nay vẫn thế, tôi không hiểu rõ ngọn nguồn phong tục ấy, mặc nhiên đưa nó vào cái thế giới quan nông cạn của một kẻ còn phải học rất nhiều thứ trên đời.
Ký ức tuổi thơ trong tôi ngày ấy tết luôn đi kèm với tiếng pháo giòn giã bên tai, lũ trẻ con thích nhất là pháo, pháo tép chỉ bé bằng con tép khi nổ vang lên những tràng lép bép vui tai, có loại pháo to hơn, có lẽ bằng ngòn tay út của con gái, tiếng nổ giòn hơn, vang hơn, tôi cũng không biết nó là loại pháo gì. Loại này hàng năm bố mua hai tràng, một tràng đốt vào đêm giao thừa cùng với mấy thanh pháo hoa của Trung Quốc có màu đo đỏ, dài như chiếc thuổng, một tràng đốt vào sáng một một. Còn có loại pháo to bằng ngón chân cái gọi là pháo đùng, tiếng nổ to như tiếng lựu đạn, ai mà táy máy để nó nổ trên tay thì bàn tay sẽ tan tành cùng xác pháo.

Năm nào cũng vậy, nhà tôi đốt pháo như đã thành lệ, nhà có sáu người thì mua đủ sáu cây pháo hoa cho mỗi người bắn lên trời vào đêm giao thừa kèm theo những điều ước tốt lành về năm mới. Ngày ấy, khi người ta chưa cấm đốt pháo thì ba mươi tết đón giao thừa, tôi chẳng bao giờ thức được đến 12 giờ để tận hưởng cái thú bắn pháo hoa, cây pháo hoa bố mua dành cho tôi thì bố cũng là người đốt gùm, đến ngày tôi thức đợi được giao thừa thì người ta đã cấm đốt pháo tự khi nào. Giờ tiếng pháo đã đi vào dĩ vãng, ngày tết thi thoảng chỉ còn nghe một vài âm thanh lạc điệu mà kẻ liều lĩnh nào đó đốt trộm, vẫn là tiếng pháo ngày xưa, nhưng sao tiếng pháo “hợp pháp” và tiếng pháo “phi pháp” lại khác nhau nhiều đến thế, lại thấy thèm một cái tết ồn ào trong khi xưa.
Sau màn bắn pháo hoa chào năm mới nhà nhà sẽ ra chỗ vòi nước công cộng lấy “nẳm mâư” (nước mới) hứng những giọt nước đầu năm về để sáng mai đun với lá bưởi cho cả nhà rửa mặt đầu năm. Người quê tôi quý nước, có lẽ cùng với lửa, nước là thứ quý giá từ trong tiềm thức của ngươi vùng cao. Ngay như ở cái phố chợ nửa làng nửa phố nhà tôi, không hẳn là làng quê, đô thị cũng chả phải mà người dân cũng đã quý từng giọt nước. Trẻ con trong xóm lớn một chút, việc nặng đầu tiên mà bố mẹ giao cho là đi gánh nước, khi mới bắt đầu tập gánh, chỉ gánh được số nước bằng hai cái bát ô tô, lớn thêm chút nữa thì hai nửa xô, rồi hai phần ba xô, rồi gánh đầy. Thùng nước như là cái mốc dánh dấu sự lớn dần, khỏe mạnh lên của một đứa trẻ con vậy.
Có lẽ vì một tuổi thơ oằn vai gánh nước mà trong tôi đã hình thành thói quen tiết kiệm nước từ lúc nào không biết. Tôi mang cả thói quen tiết kiệm ấy đi theo những năm tháng học xa nhà, lấy chồng rồi lại mang theo về nhà chồng, sau này có lẽ lại truyền cho con cái cũng chưa biết. Bây giờ, ngay cả khi nước máy đên tận nhà chảy hai tư trên hai tư giờ với giá cả chấp nhận được thì tôi vẫn quý từng giọt nước như thuở còn oằn vai gánh từng giọt, đến nỗi cái tính tiết kiệm nước ấy làm chồng tôi đôi khi còn khó chịu. Lâu lắm rồi, hình như từ khi có nước máy, ở quê tôi đêm giao thừa người ta không còn xếp hàng bên cái bể nước công cộng cùng nhau hứng những giọt nước đầu xuân, nhà tôi cũng vậy, từ khi có nước máy, đêm giao thừa thay vì mang chiếc thùng ra bể cùng mọi người lấy nước thì tôi chỉ thấy mẹ hứng một chút nước ở vòi nước máy nhà mình. Nước chảy đến tận nhà, đi gánh xa làm gì cho mệt, lâu dần cũng chẳng buồn lấy “nẳm mâư” đầu năm nữa, giờ cái phong tục đẹp đẽ ấy cũng chỉ còn trong ký ức.
Lại mượn chuyện lễ hội xứ người để nói về tết xứ ta. Bên trời tây xa xôi có một ngày lễ là ngày Halloween. Vào ngày đó, trẻ con tụ tập thành nhóm, hóa trang khác thường trong những bộ cánh kỳ quái, sau đó đi gõ cửa các nhà xin kẹo. Ngày tôi còn bé, trẻ con quê tôi cũng vậy, nhưng không phải xin kẹo mà là đi chúc tết để xin tiền mừng tuổi. Vào những ngày giáp tết, người lớn tìm mọi cách để đổi thật nhiều tiền lẻ mới đủ phát hết các nhóm trẻ con đến nhà. Sáng mồng một, trẻ con hớn hở trong bộ quần áo mới, không phải bộ cánh kỳ quái mà là quần áo cánh đẹp nhất, mới nhất trong năm, cũng rủ nhau tụ tập thành nhóm đi các nhà trong xóm chúc tết để được mừng tuổi.
Trẻ con vui vì tết là thời điểm duy nhất đến nhà người khác được cho tiền, người lớn vì lòng yêu trẻ cũng không tiếc những đồng tiền lẻ mừng cho chúng cùng những lời chúc năm mới nhiều điều tốt lành. Những câu chúc tết đươc cất lên từ miệng lũ trẻ thường được lập trình sẵn, dùng để chúc cho tất cả mọi người. Có lẽ bạn bè của tôi ngày xưa không ai là không thuộc lòng câu chúc tết ngày nào: “Năm mới năm me, chúc tết mạnh khỏe, làm ăn phát tài, nuôi lợn chóng lớn”… Có nhiều lời chúc khác nhau nhưng đó là câu dễ hiểu, dễ thuộc và dễ nói nhất, dù phân tích ra thì chẳng hiểu là chúc ai. “Làm thủ tục” với chủ nhà xong xuôi, lũ trẻ đứng xếp hàng chờ được phát tiền mừng rồi lại kéo sang nhà khác lặp lại y nguyên. Đến cuối buổi chiều mồng một, ai nấy đem tiền ra đếm trong niềm hân hoan tột độ, đứa được ít cũng đủ tiền mua một bộ cánh mới, ra tết trong túi trẻ con rủng rỉnh tiền.
Ngày bé đi chúc tết theo các anh chị lớn hơn thấy người ta nói gì mình cũng nói theo, mặc dù chả hiểu được ý nghĩa lời mình nói. Có năm tôi cùng chị gái đi chung một hội, khi tôi vừa hô: năm mới năm me chúc tết mạnh khỏe…, thì chị quay sang lườm kèm theo mấy lời hăm dọa: “Sao lại chúc tết mạnh khỏe? phải nói là chúc các bác các bá mạnh khỏe chứ!”… Kể từ đó những năm tiếp theo đi chúc tết không bao giờ dám nói câu ấy nữa. Rồi lời chúc ngây ngô ấy cùng dĩ vãng cùng với tuổi thơ cũng chóng vánh đi qua, và cái lệ trẻ con hàng năm tụ tập đi chúc tết xin tiền cũng chỉ còn trong hoài niệm xưa cũ.
Bây giờ tết đến không còn thấy trẻ con kéo đến nhà xếp hàng chờ phát tiền mừng tuổi nữa, nhiều khi thèm lắm một đoàn trẻ nhỏ đến nhà hô vang những câu chúc tết vừa ngây ngô vừa đáng yêu, ngắm nhìn chúng đứng lô nhô đầy nhà, đặt vào tay chúng những đồng tiền mệnh giá nho nhỏ thôi để nhìn thấy niềm hân hoan ánh lên trong đôi mắt con trẻ. Thèm lăm. Giờ đây đời sống kinh tế khá giả, trẻ con không còn thiếu thốn, những thứ ngày xưa phải đợi đến tết mới được bố mẹ mua cho thì giờ chỉ cần muốn là được, quần áo mới có quanh năm, muốn ăn gì là bố mẹ đáp ứng, chỉ sợ không thích ăn thôi. Khi xưa bố mẹ muốn trẻ ăn cháo ngô thì phải nói là cháo thịt, còn bây giờ muốn trẻ ăn cháo thịt thị bố mẹ phải nói dối là cháo ngô trẻ mới chịu ăn… Những đồng tiền lẻ cũng trở nên vô nghĩa trong mắt con trẻ là thế. Bây giờ người ta không mừng tuổi trẻ con những đồng tiền lẻ nữa, mà phải là những đồng pôlyme cứng cáp mệnh giá lớn, trẻ con chưa biết cách tiêu tiền nhưng từ khi nào đã biết cách phân biệt mệnh giá các đồng tiền, gặp con nhà khá giả mà mừng cho chúng đồng tiền lẻ là bị chê ngay trước mặt cũng không biết chừng…
Đến tết năm nay, còn lâu nữa tôi mới chạm vào cái ngưỡng tuổi ba mươi, cái tuổi chưa phải là già so với những năm tháng ngắn ngủi của một đời người mà đã chứng kiến biết bao sự đổi thay nhanh đến chóng mặt. Cuộc sống như dòng sông chảy mãi không ngừng, người ta dễ dàng chấp nhận cái mới và mặc nhiên xếp những thói quen cũ vào “ngăn tủ quên lãng”, không hề tiếc nuối hay day dứt. Tìm lại tuổi thơ, tôi tìm lại những kí ức đẹp đẽ với nhiều mảnh ghép khác nhau để hoàng thiện bức tranh cuộc sống của mình, dù đó chỉ còn là những kỉ niệm, nhưng tin rằng con người ta dù có bay xa đến đâu thì tâm hồn vẫn luôn phải được nối với cội nguồn bằng sợi dây ký ức, để mỗi người chúng ta sống “người” hơn giữa cuộc sống quá nhiều thương tổn này.
HỒNG CƯ

















