Tản văn của Hồng Cư: Tình yêu của mẹ

Buổi trưa nắng, dáng mẹ lọt thỏm giưa hai bó củi to nặng oằn lưng, bóng mẹ liêu xiêu trên con đường độc đạo đầy nắng và gió oi nồng. Từng hạt mồ hôi to như hạt đỗ lấm tấm khắp khuôn mặt nhăn nheo, già nua hơn tuổi, chiếc áo cũ sờn ướt rồi lại khô biết bao nhiêu lần.

Cái nghề nấu rượu nuôi lợn tốn rất nhiều củi, lại thêm phong trào chặt phá rừng ngày càng lên cao, càng ngày con đường của mẹ càng xa, quãng đường mẹ gánh củi trên vai càng dài, mồ hôi mẹ đổ nhiều hơn. Nhưng không đi không được, bếp lửa như cái mồm không đáy ngốn bao nhiêu củi chừng như cũng không đủ. Những thanh củi bỏ vào lò, từng giọt rượu nhỏ ra chậm rãi như phin cà phê, thế mà rượu quê còn rẻ hơn nước khoáng đóng chai của các hãng máu mặt, chẳng thế mà ở cái xứ này lắm người say đến thế. Vì người người nấu rượu, nhà nhà nấu rượu và đua nhau bán phá giá, mỗi mẻ rượu chỉ được lãi mỗi chút bã chăn lợn. Biết là thế, những không nấu rượu nuôi lợn thì chả còn biết làm gì khác vào những lúc nông nhàn, vì mẹ quá lành, mẹ không đủ bản lĩnh để bom chen dành giật nơi phố chợ. Từ đôi tay đến trên người mẹ lúc nào cũng thoang thoảng mùi bã rượu.

Nhà văn Hồng Cư (Cao Bằng) tham quan dinh Thống Nhất ở TPHCM

Mùa xuân

Mồng bốn tết, mẹ vội vàng chêm cái quốc cho thật chắc để lên đồi làm đất trồng ngô, làm đất xong mẹ mải miết đi đổi công với hàng xóm nhiều ngày để đến lượt nhà mình gieo hạt có người đến giúp. Bao nhiêu gánh ngô thu hoạch về thì cũng bằng ấy gánh phân mẹ phải gánh lên đồi. Đến kỳ ngô trổ ba lá, bốn lá, khi ngô chuẩn bị đến kỳ vun, mẹ gánh từng gánh phân nước tưới chúng. Hố phân sau nhà đến cả trăm mét khối vậy mà một mình mẹ gánh hết gánh này đến gánh khác đến khi đáy của nó trơ ra. Những hôm trời mưa, đường trơn bàn chân trần của mẹ bấm xuống con đường nhão nhoét mà cứ đi phăm phăm. Nhiều lúc trộm nghĩ, sao mẹ khỏe thế, mẹ làm từ sáng đến tối chẳng ngơi tay, mẹ đủ sức khỏe làm tất cả những việc nặng nhọc trong nhà mà chẳng thấy ốm bao giờ.

Mùa hạ

Tháng sáu, chân mẹ ngập dưới làn nước nâu sánh, rong rêu bám đầy cổ chân, có một vài chỗ máu rỉ xuống hòa với bùn do bị đỉa cắn. Bàn tay mẹ thoăn thoắt cấy từng nhánh mạ xuống lớp bùn mịn nhão, tấm lưng nhỏ bé phơi ra giữa nắng hè. Mẹ làm từ lúc gà gáy sáng đến khi gà lên chuồng, buổi trưa chỉ ăn cơm vội vàng với khúc cá mắm và rau luộc. Hết mùa cấy, mẹ luồn sâu vào những luống ngô sắp đến ngày thu hoạch, bàn tay xù xì dày cộp với những nốt chai thoăn thoắt túm từng búi cỏ nhổ chúng lên, lá ngô cứa vào tay, vào cổ, quất vào mặt, vừa ngứa vừa rát. Nào kiến lửa, nào sâu, nào vô số loài côn trùng gầm gừ tấn công kẻ vừa đảo lộn ngôi nhà của chúng. Mẹ dọn sạch cỏ trong rẫy ngô trước khi thu hoạch để chuẩn bị cho mùa khoai, mùa đỗ sắp tới. Đến ngày thu hoạch ngô, tay mẹ thoăn thoắt bẻ những bắp ngô vàng óng căng mọng cho vào quang gánh, ngô càng được mùa càng vui, càng vui thì đôi vai mẹ càng oằn xuống bởi gánh ngô kĩu kịt không bao giờ dưới 50 kg cùng mẹ lên dốc xuống đèo.

Tháng bảy, đỗ, khoai lang trồng gối vụ cũng đã trổ mầm, lúa chưa đến ngày thu hoạch. Ngô đã về đầy nhà, mẹ lại tất tả té ngô, phơi ngô, bởi nếu không làm nhanh chúng sẽ mọc mầm trong cái thời tiết nóng ẩm của tháng bảy. Mẹ thoăn thoắt phân loại ngô, bắp nào to đẹp thì cất lên gác bếp, bắp nào nhỏ, xấu hơn thì bóc ra phơi, để ngô có thể cho vào máy tách hạt thì bắp ngô phải có độ khô nhất định. Những bắp ngô sáng được gánh ra ven đường phơi, chiều lại gánh vào, nếu nắng đều thì phải phơi 2 đến 3 ngày mới tẽ được. Hạt ngô sau khi đã tẽ cũng phải phơi chừng ấy ngày mới cất được vào bồ. Chỉ mỗi việc phơi ngô buổi sáng, thu ngô buổi chiều mà cũng tốn rất nhiều thời gian và sức lực. Tháng bảy nóng ẩm mưa nhiều và cực kỳ nhiều những cơn mưa bóng mây, chúng thoắt đến rồi thoắt đi không theo một quy luật nào cả, một ngày nắng nóng có thể có 3 đến 4 cơn mưa là chuyện thường tình. Những cơn mưa bóng mây nghe thì có vẻ thơ mộng lắm, những chúng là nỗi phiền muộn của mẹ.

Mỗi khi trời sắp chuyển mưa, mẹ lại tất tả chạy ra ven đường thu dọn đống ngô đang phơi, ngô hạt phơi trong bạt thì tạm gấp lại được, nhưng bắp ngô nguyên quả thì phải nhặt lại gánh vào nhà, cứu ngô trời mưa gấp gáp chẳng khác nào cứu muối trên đồng. Có khi thu ngô vào nhà kịp trước khi mưa đến, có khi chẳng kịp, những hạt ngô sắp khô chuẩn bị được đem cất, chỉ cần một chút nước mưa ào qua là lại quay về dưới điểm xuất phát. Mưa ào qua xối ướt mọi thứ xong xuôi bầu trời lại hửng nắng gay gắt, mẹ tiếc trời nắng lại tất tưởi gánh ra phơi. Một ngày vài lần như thế mẹ mắng ông trời oái oăm, mẹ làu bàu hôm nay chẳng thèm phơi nữa, nhưng khi trời nắng gắt, mẹ tiếc nắng lại quẩy ngô ra. Những cơn mưa bóng mây tháng bảy dường như đã trở thành nỗi sợ của mẹ, chúng ám ảnh mẹ cả trong giấc mơ. Còn nhớ có một buổi trưa, khi đang nằm nghỉ trên chiếc ghế dài chừng như đang say giấc, bỗng nhiên miệng mẹ ú ớ mấy từ trong cuống họng “ôi trời mưa”, mẹ bật dậy theo phản xạ, chẳng biết thế nào mà lại lăn kềnh xuống đất, tỉnh giấc mẹ biết mình nằm mơ. Những giấc ngủ trưa của mẹ bao giờ cũng thắc thỏm tội nghiệp như thế.

Tranh của họa sĩ Lê Trần Thanh Thủy

Mùa thu

Nắng hanh hao tràn về, mẹ ra đồng gặt lúa, bàn tay mẹ thoăn thoắt đưa chiếc liềm vào gốc khóm lúa, một chốc cả vạt lúa đã nằm “như ngả rạ” dưới chân mẹ. Mẹ đập lúa vào chiếc loỏng, chúng phát ra những tiếng bập bùng đều đặn khẩn trương như tác phong thường nhật của mẹ. Năm nào mẹ cũng cẩn thận cấy một đám lúa nếp thân cao hạt to, căng tròn, giống lúa này chẳng thể gặt đại trà mà phải hái từng bông. Giống lúa phải cấy ở đám ruộng quanh năm ngập nước, vì thân cao bông lúa trĩu nặng nên khi đến mùa thu hoạch chúng đổ rạp xuống đất, mẹ vừa hái từng bông lúa vừa lần tìm, nhặt nhạnh chúng trong đám lá ngả rạp. Bố bảo mẹ đừng cấy loại lúa này nữa, vất vả thêm nhung mẹ không chịu, mẹ nói những cái tết quanh năm làm bánh đều phải dùng loại lúa này bánh mới ngon, làm bánh còn để cúng ông bà tổ tiên, bánh không ngon đem cúng ông bà quở chết, thà vất vả một chút còn hơn.

Mùa đông

Mẹ lên rừng lấy cây rào đám ruộng quanh năm có nước lại để ngăn trâu bò phá, mẹ kỳ công đắp đất thành những luống cao để nước chảy qua các rãnh, mẹ gieo hạt trồng rau, các loại rau mùa lạnh như su hào, bắp cải, súp lơ… rau của mẹ tươi tốt nhờ kỳ công chăm bón, có cây bắp cải to bằng cả cái sọt. Rau nhiều, ăn không hết mẹ gánh ra chợ bán nhưng bán rẻ như cho cũng chẳng có mấy ai mua vì đang vào chính vụ, rau xanh ngập chợ. Rau nhiều, lợn của mẹ ăn cũng chẳng hết, thế là những cây bắp cải, bông súp lơ, củ su hào của mẹ lại nằm buồn thiu thối rữa ngoài đồng.

Mỗi buổi tối, mẹ lấy chiếc dao lam cùn bố cạo râu thừa thái thái những mảng da cứng đơ ở gót bàn chân nứt nẻ, có những hố nứt sâu đến nỗi máu tứa ra, những mảng da chết ở gót chân mẹ chẳng bao giờ hết, mẹ càng gọt chúng càng sinh ra, nhất là mùa đông thì tình trạng này càng trầm trọng. Bàn chân mẹ xấu chẳng kém gì bàn tay hay một số bộ phận khác, những chiếc móng chân của mẹ lúc nào cũng đen đúa, cáu cạnh cho dù có rửa, có chà kỹ đến thế nào. Có đứa nào chê thì mẹ cười bảo: Bao giờ chúng mày lớn kiếm được nhiều tiền nuôi mẹ, để mẹ ngồi không thì móng chân mẹ khắc đẹp ra. Những đứa con nhỏ nghe mẹ nói mà lòng chẳng có ý niệm gì sâu sắc.

Mẹ thường gọi mày xưng tao với các con, nhiều lúc thèm nghe một tiếng con âu yếm từ mẹ, nhưng biết làm sao được, mẹ không quen màu mè, mẹ không biết dùng lời hay ý đẹp, mẹ xù xì thô mộc như gánh củi, gánh khoai. Có lúc cùng thằng em ôm cổ mẹ nũng nịu:

– Mẹ, mẹ thương ai hơn? mẹ thương con hơn phải không?

– Không thương đứa nào hết, ai học giỏi thì tao thương.

Câu trả lời của mẹ làm hai đứa chưng hửng, mẹ lúc nào cũng thế, chẳng được một câu ngọt ngào như mẹ chúng nó, vì thế, hồi ấy cứ ngỡ mình không được mẹ thương bằng chúng bạn. Mẹ chẳng bao giờ cho tiền ăn quà, mà các hàng quán trước cổng trường học thì đông chẳng khác nào cái chợ, cứ giờ ra chơi, lũ bạn lại rủ nhau sà vào hàng quán, thôi thì cơ man nào là các mon ngon. Ngoài bánh kẹo chè đỗ đen, bánh chao, bánh rán ra thì còn có đu đủ ướp, củ cải su hào ướp, mận ướp, chỉ cần 200đ, 500đ là đủ để thỏa mãn cơn thèm, thế mà cứ phải đứng nhìn từ đằng xa. Thế nhưng các cô bán hàng cổng trường thì nhiệt tình miễn chê ở khoản chiều khách.

– Ăn đi cháu, không có tiền cũng được, hôm nào có thì trả sau.

Đánh liều ăn hàng nợ, đến buổi chiều bà chủ quán đến hỏi tiền mẹ, trả tiền cho bà ta xong mẹ nọc ra đánh một trần nhớ đời, mẹ vừa phất roi vào mông vừa mắng:

– Mày láo quá mới tí tuổi đầu mà dám ăn hàng nợ, đánh cho chừa này! Lần sau còn thế nữa không?

– Ôi mẹ ơi từ nay con không làm thế nữa, hu hu…

Hồi ấy mới học lớp ba.

Mẹ là người siêu tiết kiệm, mỗi sáng, mẹ dậy sớm rang cơm cho cả nhà, mẹ bảo ăn cơm cho chắc dạ, no lâu. Còn tôi thì thèm nhỏ dãi mỗi khi đi qua hàng bánh cuốn ở đâu ngõ, mùi nước dùng thơm ngậy, mùi hành phi với thịt băm bay vào mũi đầy ám ảnh. Nhưng họa hoằn lắm mẹ mới cho ăn bánh cuốn, mà chỉ những dịp thật đặc biệt mới được ăn thứ xa xỉ này. Mẹ nói một bữa bánh cuốn sáng của cả nhà tao mua được ân thịt ăn cả ngày rồi, mẹ hay so sánh những thứ đắt đỏ với thịt, ví dụ như mua cái nọ cái kia chẳng thà mua cân thịt ăn cho sướng. Đến bây giờ cái ngày ấy đã đi rất xa nhưng thi thoang vẫn nghe loáng thoáng ngoài chợ những câu kiêu như câu của mẹ ngày ấy.

Thế mà mẹ rất khéo tay, nhất là các món bánh của mẹ làm thì ngon hết ý. Bình thường mẹ chẳng bao giờ bày vẽ ra món gì “cho mất thời gian”, thế nhưng những ngày lễ tết trong năm của người Tày thì nhất định mẹ phải làm các món bánh theo truyền thống. Ví như tết Nguyên đán thì làm bánh chưng, bánh khảo, tết tháng hai và tết tháng bảy thì làm bánh gai, tết tháng sáu, tháng bảy thì làm bún, tết đông chí thì làm bánh trôi, tết đoan ngọ thì làm bánh do… Bánh do của mẹ thơm, mềm, vàng sánh như mật, bánh gai của mẹ vừa dẻo vừa dai, để lâu mà không chảy nước, bánh chưng mẹ gói vuông vức căng tròn dù chẳng cần khuôn, bún của mẹ sợi vừa ngọt vừa dai mặc dù không cần bất kỳ phụ gia nào, còn bánh khảo của mẹ thì khỏi phải nói, vừa đủ cứng vừa đủ dai, vừa đủ ngọt, vừa đủ thơm… Bánh khảo là món bánh làm rất khó, nhất là nếu làm vào lúc trời lạnh thì càng khó hơn. Đến năm chị gái lên cấp hai mẹ giao cho chị nhiệm vụ làm bánh khảo cho ngày tết cổ truyền. Mẹ nói, lớn rồi tập làm dần đi là vừa, không đến sau này đi lấy chồng mà không biết làm bánh khảo thì người ta chê cười. Và từ đấy năm nào tôi cũng thấy chị nước mắt ngắn nước mắt dài bên chậu bột, vừa khóc vừa ra sức vò lấy vò để đám bột trong chậu nhưng vò hàng tiếng đống bột vẫn khô khốc, năm nào trời lạnh thì chị càng khóc tuyệt vọng hơn. Cuối cùng mẹ vẫn phải giúp một tay, mẹ vừa xăm xăm làm vừa mắng: Tao biết ngay là không có tao thì không được ăn mà.

Quanh năm mẹ cứ tất bật như thế, thức khuya dậy sớm làm toàn việc nặng mà chẳng bao giờ thấy mẹ kêu ca, quần áo mẹ toàn đồ xám màu, nhàu nhĩ và hoen ố, còn đầu tóc thì dường như lúc nào trông cũng bù xù do những sợi tóc mai trên trán và hai bên thái dương ngắn chẳng ngắn, dài chẳng đủ buộc ra đằng sau mà chúng lại loăn xoăn đến khó chịu, thành thử tóc mẹ dù đã búi gọn gàng ra sau trông vẫn như một cái đâu rối. Chị tôi khi mới cập kê vào tuổi con gái, bắt đâu biết làm đẹp thì biết chê mẹ xấu, luộm thuộm, mẹ bảo: Thế mày thấy bà nào xinh thì đi mà nhận làm mẹ, chị chẳng nói được gì.

Mấy đứa con dường như cũng biết phận nhà khó khăn nên khỏe giống mẹ, chả thấy ốm bao giờ, ngoài giờ học thì làm việc phăm phăm, tôi cũng không là ngoại lệ. Thế mà lớn lên, đi học xa, lần đầu tiên xa nhà, lần đâu tiên biết mặt mũi của thành phố, chưa đầy một tháng bỗng nhiên bụng đau dữ dội, bạn bè xóm trọ đưa vào bệnh viện, bác sĩ hỏi han vài câu, nắn bụng sơ sơ rồi phán: Đau ruột thừa, mổ cấp cứu.

Lần đầu tiên biết mùi bệnh viện thì được nghe câu phải mổ, sợ toát mồ hôi, vừa hoang mang không biết làm thế nào ở nơi đất khách quê người này, bạn bè gọi điện về nhà báo người nhà xuống chăm, mẹ đầu bù tóc rối xuất hiện, nhờ có mẹ, mọi chuyện cũng xong xuôi tốt đẹp. Khi chuyện đã qua ngồi nhắc lại, thấy mọi người tả cảnh mẹ mình khi biết tin con vào viện mới tội nghiệp làm sao. Hàng xóm nói, lúc ấy mẹ đang cấy lúa, nghe người ta báo tin mẹ buông bó mạ, chạy sấp ngửa băng qua bờ ruộng nham nhở đầy những hang chuột, hang cua, mẹ vừa đi vừa khóc hu hu như một đứa trẻ và ngã dúi dụi xuống bờ ruộng không biết bao nhiêu lần vì bấn loạn, vì bao nhiêu cảm xúc không thể diễn tả hêt bằng lời. Mẹ không ngờ đứa con khỏe như vâm ở nhà chằng bao giờ phải tốn một viên thuốc của mẹ lại phải nhập viên, mà lại còn phải mổ nữa thì kinh khủng quá. Hình ảnh ấy dù chỉ là nghe kể lại nhưng đã ám ảnh tâm trí tôi mãi, tôi mới hiểu rằng mẹ yêu tôi nhiều biết chừng nào, tình yêu chân chất mộc mạc bản năng, không màu mè, chẳng phô trương mà sâu nặng.

Thế mà cái ngày ấy cũng đã trôi rất xa, các con của mẹ giờ cũng đã trường thành, dẫu chẳng làm được gì to tát nhưng cũng tự hào đã đứng được hiên ngang giữa đời bằng những gì mẹ vun đắp, để biết rằng được làm con của mẹ may mắn biết bao nhiêu.

Đi xa lâu, một ngày về thăm mẹ, thấy mẹ ngồi trên chiếc ghế năm nào, cả hai chân thu lên ghế, mắt chăm chú vào cuốn lịch nhỏ trên tay, thấy lưng mẹ còng xuống như nửa hình tròn, bất giác nước mắt ứa ra, mẹ đã già thật rồi. Lưng càng còng xuống, mặt càng gần mắt đất hơn. Bao nhiêu vất vả lo toan “gánh nặng cuộc đời” đè nặng lên đôi vai nhỏ nhắn của mẹ. Đôi mắt nâu đã bắt đầu chuyển dần sang màu đục ngước lên nhìn con gái, nhìn đôi mắt ánh lên nét cười rạng rỡ biết mẹ đang vui. Buổi trưa ăn cơm xong mẹ tranh phần rửa bát, mẹ cứ lục đục dưới bếp hàng tiếng đồng hồ, sốt ruột xuống xem vẫn thấy mẹ đứng bên bồn rửa bát, vòi nước vẫn đang chảy, bát bẩn còn nguyên trong bồn, tay mẹ vẫn cầm chiếc bát mân mê. Hỏi mẹ nãy giờ làm gì, mẹ bảo mẹ rửa bát. Thấy lòng đau như xát muối, mẹ đã già thật rồi.

Càng lớn, truyền thông, xã hội càng quan tâm đến người phụ nữ, bởi theo lẽ thường “phú quý sinh lễ nghĩa”, những ngày để tôn vinh họ như 8/3, 20/10 ngày càng được nhắc đến nhiều, ngày càng được quan tâm. Bất kể nguyên nhân hoặc là làm theo phong trào, hoặc là theo nghĩa vụ, hoặc là học đòi theo những người sang trọng hay sự quan tâm thực sự từ đáy lòng. Những người phụ nữ đã có gia đình, những cô gái tuổi hoa niên hoặc thanh niên đã có hoa trong những ngày lễ dành cho họ. Tôi cũng được tặng và tặng cho nhiều người những lời chúc có cánh, nhưng món quà hoặc nhỏ, hoặc to. Thế nhưng, nhưng những người như mẹ tôi và biết bao người đàn bà chân lấm tay bùn khác có lẽ cả đời chưa từng biết đến ngày 8/3 hay 20/10, nếu biết cũng chỉ nghĩ nó không phải của mình, cũng chẳng thấy nó là quan trọng. Tôi cũng chưa bao giờ mở miệng chúc mẹ mình một câu nhân ngày của giới mình, không phải không muốn làm mà vì tự nhiên thấy ngượng.

Cuộc đời của những người như mẹ tôi chẳng biết gì ngoài làm lụng và lo toan. Mẹ sống giản đơn, làm việc giản đơn, suy nghĩ giản đơn, chỉ có tình yêu của mẹ tưởng như giản đơn mà không dễ gì hiểu hết được, để đến khi đi hết gần nửa đời người mới cảm nhận hết được tình yêu ấy. Niềm vui của mẹ cũng chẳng có gì xa xỉ, chỉ là đủ cơm ăn áo mặc, con cái trưởng thành, mẹ cũng chẳng bao giờ nghĩ, chẳng bao giờ mong con mình thành ông này bà nọ, chỉ cần chúng mãi là con ngoan của mẹ là hạnh phúc lắm rồi.

HỒNG CƯ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *