Quê nhà, nơi đó là tuổi thơ. Nơi có ngôi nhà yêu dấu rộng thênh thang quay mặt ra sông Gành Hào quanh năm sóng bủa. Từ sông lớn, những ngọn gió phóng khoáng bay qua những ngôi nhà, reo vui trên đồng xanh phía sau nhà. Trong ngôi nhà đó, ngày xưa nhà thơ Lê Giang có một người cha thi sĩ, một người mẹ thông minh, sắc sảo, đảm đang. Tác giả vui chơi, sum vầy cùng các anh chị em đông đúc.
Thế giới tuổi thơ tác giả là những buổi trưa không ngủ lang thang dọc theo bờ sông Gành Hào nô đùa, trêu chọc những con cá thòi lòi, những con còng gió đủ sắc màu, làm chúng lính quýnh thụt vào hang nằm im lắng nghe động tĩnh, đoán chừng tiếng chân đã đi xa, chúng trồi lên tung tẩy đuôi, giương mắt thụt ló bên những miệng hang vừa đùn đất lên trên bãi bùn phù sa lấp lánh ánh sáng; hay hình ảnh một cô bé da đen nhẽm vì cháy nắng, đầu đội nón lá rách, tay cầm cần câu ngồi trên thành đầu cầu, chiếc cầu gỗ đước như chơi vơi, trôi đi trên dòng sông sâu sóng bủa, con nước đang giựt ròng băng băng xuôi về biển. “Trên dòng sông những cánh buồm chiếu, buồm mền, buồm mùng rách vá đủ màu được cột đùm trên sào tre, dầm, chèo dựng trước mũi xuồng chạy tấm te…”

Tác giả thả dây câu, câu cá chốt, loại cá chốt giấy. “Giựt! Một con cá chốt giấy/ Giựt! Hai con cá chốt giấy”… cá chốt giấy da mỏng thịt trắng vì người cha thích ăn cá chốt kho quẹt… Tôi trốn cảnh lóng xóng trong nhà, tránh khỏi bị sai vặt, bị rầy, bị chửi. Tác-giả-cô-gái-nhỏ đã bí mật khám phá trong khu vườn hoang kia có một cây ổi nếp đang mùa sai trái. Chen qua những bụi gai, chui bò trong cỏ, trong khu vườn âm u, tác giả trèo lên cây ổi nếp bí mật của riêng mình, ngồi vắt vẻo, nước bọt ứa ra, cắn một trái ổi vừa chín tới, ruột hơi hồng hồng, hạt ổi như những hạt nếp to xếp tròn thành ruột ổi.
Ôi, trong cuộc đời có quả ổi nào được cắn, âm thanh giòn vang trong bí mật ngon đến thế không? Những trái ổi lủng lẳng còn xanh thì in dấu bấm móng tay của tác giả, đó là dấu hiệu để tác giả đoán biết hôm nào những trái ổi chát kia thành ổi chua rồi chuyển hóa sang chín hườm hườm. Vườn hoang nghiêng gió ào ào, cô gái mười tuổi ngả người nằm trên một nhánh cây, động ổ đàn kiến đen từ trong đám lá túa ra, lan khắp người tác giả…Về nhà, len lén giấu má những vết kiến cắn.
Trong nhà, thường nghe tiếng má hỏi: “Con Năm (Lê Giang) đâu rồi, hồi sáng đến giờ má không thấy nó”. Có tiếng ai đó đáp (giống như vừa trả lời vừa méc): “Dạ, chỉ đi xóm rồi má”. Xóm làng quần tụ những người nông dân chất phác, đầy cá tính. Chính họ là một môi trường xã hội cho tuổi thơ tác giả. “Đi xóm” là đi đâu đó, xóm trên hay xóm dưới, thật mơ hồ mông lung, không xác định tới nhà ai, làm cái gì, cũng không biết đi tìm con Năm nơi nào, chỉ còn cách thắt tha thắt thẻo ngóng chờ, hoặc nếu đang đêm thì sai người cầm đèn bão đi tìm. Tối ngày lang thang ngoài đường, lân la vào các nhà đầu trên xóm dưới, tới bữa cơm không thấy con Năm.
Buổi trưa nào cũng không có nó ở nhà. Chạng vạng rồi con Năm cũng chưa về, không biết nó ăn uống, tắm rửa làm sao… Vậy mà, tuy không có sự chân truyền đặc biệt, cũng không phải là đệ tử ruột của má, nhưng tất cả những tài hoa, những bí kíp nấu ăn của người mẹ là gien ẩn di truyền vào máu, vào tâm hồn người con thứ năm đầy sáng tạo. Phải chăng, người con gái thứ năm trong gia tộc thừa hưởng gien gan lì từ đời tổ tiên trong công cuộc khai mở đất rừng, gien máu điên của bà nội, gien thi sĩ của cha, gien tài hoa sắc sảo và tuyệt kỹ công phu bếp núc của bà má Cà Mau(?).
Mười lăm tuổi, cô gái trẻ trốn nhà theo Việt Minh.
Dù ở rừng hay sau này về thành phố, những món kho quẹt, vào tay chế biến của cô Năm đều trở nên hấp dẫn, ngon thần sầu quỷ khốc. Còn trên những bước đường kháng chiến “…ai ăn, tôi nấu cũng chép miệng khen ngon nào là dế mèn kho tiêu, cào cào lăn bột chiên, nấm mối nấu cháo…” Khi về thành, tác giả đã “kể cho má nghe những bếp treo lơ lửng giữa trời, những cái bếp ẩn sâu lòng đất, những bếp rừng, bếp núi, bếp mạt cưa, bếp trấu, bếp rơm, bếp lá khô, bếp giấy, bếp Hoàng Cầm…”
***
Cà Mau, sau hơn hai mươi năm kháng chiến, cô gái ấy trở về, đây là bến đò Rạch Rập, kinh Mười sáu, kia là trường ta học với ông giáo Triết nghiêm khắc khó đăm đăm, thầy giáo Núi, thầy Hen, thầy Đổng, thầy Phận, cô Nhung hiền hậu, nhân từ… Kia là tiệm mì chị Cảnh, ngày xưa, ba thường sai ta đến tiệm mì mua mang về cho ông tô mì khô…
…. Kinh Mười sáu xưa là con kinh nước trong lành thoát nước ra sông Cái “nườm nượp ghe xuồng chật kín đặc sông, xuồng này phải bước nhờ năm bảy lớp ghe xuồng kia mới lên tới bờ…” Ngó ra kinh là rạp chiếu bóng Huỳnh Long, mỗi buổi chiều loa của rạp bắt đầu hát hò, quảng cáo phim rần rần: Đường gươm Nguyên Bá, Chồng người vợ rắn… Trước rạp thường có tấm pa-nô quảng cáo vẽ hình cô đào Ấn Độ tuyệt sắc có chấm tròn màu hồng giữa trán, khoen vàng đeo mũi, đôi mắt to đẹp liếc nhìn khách đang đứng trước phòng vé. Hoặc pa-nô vẽ ông phù thủy Ấn Độ ngồi thổi sáo, nghe theo tiếng sáo con rắn hổ trong giỏ bò ra trước mặt ông uốn éo lắc lư, cất đầu lên phùng mang thụt, lè cái lưỡi hai nhánh, từ từ cất mình lên…
Cà Mau, ta về đây- cầu số Một, ngày xưa “…tôi thường tới nhà cậu Hai Nghê mua bánh lò tói. Sao mà ngon quá tay: giòn thơm, ngọt ngọt, cứ ăn nhín nhín từng khoanh lòi tói…”

Cà Mau, tuổi lên mười, ta chứng kiến mười người cộng sản nổi dậy ở Hòn Khoai bị chính quyền Pháp xử bắn tại pháp trường thị xã Cà Mau. Trời tuôn mưa. Chiếc xe chở xác mười người xuyên trong mưa, băng qua cầu số Một, xác mười người được chôn chung một hố, dân gian thường gọi đó là mả Mười người. Người đời sau ngậm ngùi, tưởng nhớ anh, rưng rưng khóc: Ơi người anh, mất rồi sao?/ Mấy mươi năm, vết chân nào còn đây?/ Lời thề khắc ở trong cây/ Máu nào ứa mặn đất này Viên An?/ Ta còn gởi lửa trong than/ Gởi người trong đất, đất mang tên người/ Đất này là đất bốn mươi/ Phan Ngọc Hiển!Đất sáng ngời tên Anh! (trích thơ Nguyễn Bá)
Cà Mau Xưa Của Tôi đầy cảm xúc về những kỷ niệm quê nhà-dẫu đi xa, nhưng bao giờ tác giả cũng thiết tha nhớ đến quê nhà, nỗi nhớ mê man, thảng thốt từng chi tiết nhỏ, “Sao mà nhớ từng tấm gạch tàu có dấu chân chó chạy qua khi gạch còn ướt”. Nhưng tác giả, ức chế dĩ vãng chăng (?), nên chống chế: “Trên 60 năm rồi. Sao cậu còn gợi ý cho con cái mảnh đất tuổi thơ mà con muốn quên đi”. Từ tiên cảnh vọng về, câu hỏi của cậu nè: Muốn quên đi ư? Ủa, cậu đâu có gợi ý cho con, khi con từ bưng biền ra thành phố, thì cậu đã qua đời rồi, cậu còn để lại cho hậu thế quyển sách Cà Mau Xưa Và An Xuyên Nay xuất bản năm 1968 (Nghê Văn Lương)(*) và con đã đọc. Ừ! Tại con đọc quyển sách ấy nên “Con muốn tự lưu đày” trong nỗi nhớ.
Tác giả đã kín đáo hé lộ một chút hờn dỗi, vì trong gia đình, có lẽ tác giả là người hay cãi, cứng đầu, lì lợm, bướng bĩnh, bất phục trong bất cứ việc gì nên ít được yêu thương như những anh chị em khác. Vì thế, tuổi mười lăm, tác giả đã nổi loạn bứt phá. Với sự tổ chức, toan tính của người anh thứ Tư, đồng lõa là hai người nông dân trong xóm (Sáu Huế và Năm Hường) đã giúp đưa tác giả trốn nhà theo Việt Minh trên chiếc xuồng nhỏ đầy lổ mội “Chiếc xuồng nhỏ xíu, tôi ngồi chồm hổm trên cong xuồng nước vô ồ ồ, tát nước không muốn kịp, Sáu Huế, Năm Hường kẻ lái người mũi, mạnh ai nấy bơi. Họ bảo nhau có đèn rượt theo trên bờ mẫu”. Cuộc trốn chạy trong hồi hộp, lo âu khôn xiết.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Cà Mau với Làng rừng và các căn cứ địa kháng chiến lừng danh, nhiều trí thức lớn: bác sĩ, kỹ sư, các sinh viên yêu nước…bỏ thành vào rừng hoạt động kháng chiến như bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu, Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng… Cho nên, lực hấp dẫn của họ thật ghê gớm, họ là thần tượng của các chàng trai, cô gái trẻ trong vùng. Ngày đầu vào rừng, gặp bác sĩ Hưởng, cô gái trẻ lì lợm, bướng bỉnh nghe bác sĩ hỏi tên cũng không nhớ tên mình. “Ông hỏi tên Trần Thị Kim hả? Đáng lẽ tôi nói: “Dạ! Trần Thị Kim…Huê, nhưng thôi”. Nơi này, cô gái trẻ được phân công trong tổ y tế. Công việc thật mới lạ đến kinh ngạc. Phòng thí nghiệm vô trùng trong rừng là một cái mùng thật lớn đã được khử khuẩn, trong “căn- phòng-cái-mùng” đó, bác sĩ cùng nhân viên y tế “ Nuôi vi trùng, bào chế giống ngừa”. Thế mà, cô gái trẻ kia vẫn âm thầm làm …thơ.
Chỉ vì một lí do cho rằng mình bị hắt hủi nên, với sự quyết liệt, đột ngột và liều lĩnh của tuổi trẻ, tác giả quảy gói, dấn mình vào nơi “Ngày mai không biết chuyện gì sẽ xảy ra”. Thoạt tiên, là rừng U Minh, và từ đó bắt đầu tham gia cuộc trường kỳ kháng chiến gian khổ, khốc liệt dọc dài từ Bắc vô Nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng, từ phèn chua nước mặn ra đến phố thị, từ nhà chòi mái lá làng rừng cho đến căn hộ chung cư tầng chót vót cao ốc… Trong hoài niệm về cuộc đời tác giả, chúng ta đã từng có một kịch sĩ nghiệp dư đóng vai bà mẹ điên thật ác liệt khiến bạn diễn chung hoảng hồn, bàng hoàng tưởng con nhỏ này phát cơn điên thiệt.
Nay, chúng ta có nhà thơ Việt Nam Lê Giang.
Riêng với Cà Mau, Lê Giang là thi sĩ của quê nhà yêu dấu.
Lê Giang với những tập thơ, tập tùy bút đặc trưng, đặc sắc, rặt giọng điệu Nam bộ-độc đáo và vô cùng sinh động. Bà cùng với nhạc sĩ Lư Nhất Vũ biên soạn sưu tầm những công trình đồ sộ về âm nhạc dân gian. “Cặp đôi hoàn hảo” đã góp phần quan trọng trong việc phát triển văn hóa nghệ thuật trong kháng chiến chống Mỹ và trong thời kỳ hòa bình.
Giờ đây, chúng ta mở từng trang sách, cùng nghe nhà thơ Lê Giang kể về ngọn nguồn đất Cà Mau Xưa với giọng điệu: “Quả pháo ơi sao mà vui như đứa trẻ”.
Cà Mau Xưa Của Tôi ư?
Ô hay! Cà Mau cũng của tôi vậy.
LÊ ĐÌNH TRƯỜNG
___________________
*) Cậu Ba của nhà thơ Lê Giang là Ông Nghê Văn Lương, nguyên Thanh tra Tiểu học các tỉnh Bến Tre, BạcLiêu, Cà Mau và Sóc Trăng (trước 1975).
- Tiểu luận của Hồ Anh Thái: Chất thành đống mà đốt
- Chùm thơ Võ Văn Trường: Tôi lại về đây qua cầu vỹ tuyến
- “Xuống biển lên giời” – Hành trình trong tưởng tượng
- Truyện ngắn Lê Hà Ngân: Chén Hương Sơn mai ngàn
- Thơ 1-2-3 Nguyễn Thị Thanh Ngọc: Tranh thủ trồng vạn thọ trước sân cầu ông bà thêm tuổi mới

















